GIẢI QUYẾT MỘT VẤN ĐỀ KINH TẾ – XÃ HỘI KHÔNG THỂ BẰNG NHỮNG BIỆN PHÁP TRÁI PHÁP LUẬT – Bình luận về những giải pháp trái pháp luật của Bộ Thông tin và Truyền thông để giải quyết vấn đề Game online

LS. TRẦN VŨ HẢI – CÔNG TY LUẬT HÀ NỘI

Luật Việt nam có thể suy diễn hoặc thực hiện một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của những quan chức Việt nam. Cơ quan, công chức Việt nam không nhất thiết phải tuân theo Luật được Quốc hội ban hành. Nhóm yếu thế (tức không có quan hệ với giới quan chức quan trọng) sẽ bị thiệt thòi khi các quan chức xử lý những công việc “nhạy cảm”, thường sẽ là nạn nhân “thí tốt” cho các biện pháp, chính sách do các quan chức ban hành.

Những ảnh hưởng của dịch vụ Trò chơi trực tuyến (Game online) hiện được dư luận rất quan tâm. Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT) với tư cách là cơ quan quản lý dịch vụ này đã tỏ ra sốt sắng giải quyết những bức xúc mà dư luận nêu, ngày 02/8/2010, Bộ TT&TT ra công văn số 2455/BTTTT-PTTH&TTĐT về tăng cường công tác quản lý đối với dịch vụ trò chơi trực tuyến gửi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Game online, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, UBND các tỉnh, thành phố, và các Sở TT&TT cùng các đơn vị chức năng của Bộ. Nội dung công văn này nêu rõ:

a. Yêu cầu các doanh nghiệp rà soát các hoạt động của mình, bảo đảm thực hiện đúng các điều kiện được quy định tại Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLB-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/6/2006; đặc biệt chú trọng các quy định về quản lý giờ chơi, người chơi; tiết giảm tối các nội dung có yếu tố đối kháng, các hình ảnh, âm thanh mô tả kèm theo;

b. Tạm dừng thực hiện quảng cáo trò chơi trực tuyến dưới mọi hình thức.

c. Từ ngày 01/9/2010 ngừng cung cấp dịch vụ internet cho các đại lý Internet ngoài thời gian mở, đóng cửa hàng ngày theo quy định của chính quyền địa phương. Sở TT&TT các địa phương tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến, các đại lý internet; xử lý nghiêm các sai phạm.

d. Tạm dừng thẩm định, phê duyệt các nội dung kịch bản trò chơi mới trong thời gian chờ Thủ tướng Chính phủ xem xét dự thảo quy chế mới.

Ngày 06/8/2010, Bộ TT&TT đã gặp gỡ với gần 40 Doanh nghiệp kinh doanh Game online và các nhà cung cấp đường truyền tại TP Hồ Chí Minh nhằm trao đổi một số giải pháp tình thế cấp bách về việc quản lý Game online. Trong cuộc gặp này, Bộ TT&TT cho rằng, các đại lý Internet (những cơ sở kinh doanh không có đại diện tại cuộc họp) là đối tượng chính gây nên ảnh hưởng xấu từ Game online. Từ quan điểm này, Bộ TT&TT nhấn mạnh giải pháp cắt đường truyền đến các đại lý Internet từ 23 giờ tối đến 06 sáng.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

TS. VŨ THU HẠNH -  Đại học Luật Hà Nội

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) năm 1993, theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Nhưng phải đến khi Luật BVMT (2005) được ban hành, vấn đề này mới được đề cập một cách rõ ràng hơn. Với việc dành riêng 5 điều cho các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (từ Điều 131 đến Điều 135, Mục 2), Luật BVMT (2005) đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình “hiện thực hóa” nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền – một nguyên tắc được xem là đặc trưng của lĩnh vực môi trường.

Tuy nhiên, để có thể áp dụng được trách nhiệm này một cách đầy đủ trên thực tế, pháp luật môi trường cần phải quy định rõ ràng, cụ thể hơn nữa việc xác định các thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên[1], trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.

I. THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

1. Quan niệm về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trên phạm vi thế giới, hiện đang tồn tại song song 2 quan niệm khác nhau về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường:

Một là, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường chỉ gồm thiệt hại đối với các yếu tố môi trường tự nhiên, như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí… mà không bao gồm thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người. Cụ thể:

Trong một số điều ước quốc tế về môi trường có liên quan đến nội dung này, thiệt hại về môi trường được xác định bao gồm: i) Động vật, thực vật, đất, nước và các yếu tố khí hậu; ii) Tài sản vật chất (kể cả di sản khảo cổ và văn hóa); iii) Cảnh quan; iv) Mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố trên. Những định nghĩa hợp pháp nhất về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên không bao gồm con người và tài sản của họ[2]. Tương tự, Cộng đồng chung châu Âu quan niệm thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là sự thay đổi bất lợi về tài nguyên thiên nhiên hoặc cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể xảy ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và chúng thường biểu hiện dưới các dạng sau: i) Thiệt hại đối với các loài và môi trường sống tự nhiên của chúng; ii) Thiệt hại đối với môi trường nước; iii) Thiệt hại về đất (tức là bất kỳ sự ô nhiễm đất nào gây ra nguy cơ đáng kể cho sức khỏe con người, bị ảnh hưởng bất lợi do kết quả của việc đưa trực tiếp hoặc gián tiếp các chất, sản phẩm pha chế, các sinh vật hoặc vi sinh vật vào đất hoặc lòng đất)[3].

Continue reading

BỒI THƯỜNG TỔN THẤT VỀ TINH THẦN:CHƯA RÕ VIỆC BỒI THƯỜNG KHI CÓ NHIỀU NGƯỜI TRONG MỘT GIA ĐÌNH CHẾT

THANH TÙNG

Nhiều người trong một gia đình chết mà chỉ có một người thân thì bồi thường ra sao, luật đang còn bỏ ngỏ…

Theo quy định, việc bồi thường tổn thất về tinh thần cho người thân thích của người bị xâm hại tính mạng, nếu không thỏa thuận được, mức tối đa bồi thường không quá 60 tháng lương tối thiểu tại thời điểm đó. Tuy nhiên, đó là trường hợp có một người bị hại, trong một vụ án có nhiều người bị hại chết mà chỉ có một người là người thân thích thì chưa có văn bản nào quy định. Thực tế xét xử phát sinh chuyện mỗi tòa tuyên bồi thường một kiểu.

Tai nạn thảm khốc

Thường trong những vụ tai nạn giao thông hay sập nhà, cháy nhà… vấn đề thiệt hại về người là rất lớn và liên quan đến yếu tố gia đình. Những mất mát mà người thân của họ phải gánh chịu sau tai nạn là không nhỏ.

Chẳng hạn, tháng 3-2005, xe tải X chở 10 tấn hạt điều, tài xế không làm chủ được tốc độ, xử lý kém nên để xe lao chéo sang bên kia đường, đâm vào ba xe máy đang lưu thông theo hướng ngược lại khiến bốn người thiệt mạng (gồm ba cha con anh N. và một người đàn ông khác), bảy người khác bị thương và hư hỏng nhiều tài sản.

Trong quá trình xét xử vụ án với tài xế xe tải sau đó, ngoài mức án tù thì vấn đề bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ của người bị hại N. đã tạo ra nhiều quan điểm khác nhau.

Nhiều quan điểm

Nhiều thẩm phán cho biết khi gặp những vụ án như trên thường rất khó xử về vấn đề bồi thường. Quan điểm thứ nhất cho rằng dù trong một gia đình có nhiều người chết nhưng mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa cho thân nhân của họ cũng không được vượt quá 60 tháng lương tối thiểu. Tức là dù gia đình đó còn một hay nhiều thân nhân thì vẫn áp dụng như trường hợp có một người chết.

Continue reading

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ 10 NĂM THỰC HIỆN LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA BỘ TÀI CHÍNH

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

1. Đánh giá chung về sự phát triển của thị trường bảo hiểm sau khi ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm

1.1 Sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm

– Trước khi có Luật KDBH ra đời chỉ có 14 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm: 8 DNBH phi nhân thọ (2 DN liên doanh), 4 DN nhân thọ (100% vốn nước ngoài), 1 DN MGBH (Liên doanh), 1 DN tái bảo hiểm.

– Đến nay đã tăng lên 50 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, cụ thể:

Loại hình doanh nghiệp

Nhà nước

Cổ phần

Liên doanh

100% vốn nước ngoài

Tổng cộng

Bảo hiểm phi nhân thọ

2

16

3

7

28

Bảo hiểm nhân thọ

1

1

9

11

Tái bảo hiểm

1

1

Môi giới bảo hiểm

6

4

10

Tổng cộng

2

24

4

20

50

Trong tổng số 50 doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, số doanh nghiệp có vốn nước ngoài (24) gần tương đương với số doanh nghiệp trong nước (26). Trong số các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài, có 3 doanh nghiệp của Nhật Bản (2 PNT, 1NT), 2 Đài Loan (1 NT, 1 PNT), 2 doanh nghiệp của Hàn Quốc (1 NT, 1PNT), 1 doanh nghiệp của Singapo (NT), 7 doanh nghiệp của Mỹ (3 PNT, 2 NT, 2 MG), 4 doanh nghiệp của Pháp (trong 3 lĩnh vực), 3 doanh nghiệp của Anh (1 NT, 1 MG), 1 của Úc và 1 Canada.

* Trong lĩnh vực phi nhân thọ:

Trước năm 2001 (trước khi Luật KDBH có hiệu lực thi hành) có 08 DNBH phi nhân thọ, đến nay, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đã có 28 doanh nghiệp, trong đó có 2 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, 16 doanh nghiệp cổ phần, 3 doanh nghiệp liên doanh và 7 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Continue reading

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM TRƯỚC YÊU CẦU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐỂ PHÙ HỢP VỚI CAM KẾT WTO VÀ THỰC TIỄN

THS. PHAN THỊ THÀNH DƯƠNG & TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành một mặt bộc lộ nhiều điểm không phù hợp với cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam, bao gồm các cam kết cụ thể và cả nguyên tắc đối xử quốc gia, mặt khác cũng bộc lộ nhiều nhược điểm so với yêu cầu có một khuôn khổ pháp lý đảm bảo được sự vận hành thông suốt của thị trường theo nguyên tắc bình đẳng.

Bài viết này phân tích những điểm không phù hợp cũng như nhữngnhược điểm đó, đồng thời vạch ra các yêu cầu và cách thức sửa đổi bổ sung pháp luật hiện hành trong bối cảnh các thời hạn bãi bỏ các hạn chế mở cửa thị trường đã cận kề trong khi việc sửa đổi bổ sung lại chưa được đưa vào chương trình xây dựng luật.

I. Một số vấn đề đặt ra từ cam kết WTO về mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam

1. Trong WTO, bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm là một phân ngành của dịch vụ tài chính. Việt Nam cam kết đối với bảo hiểm gốc, gồm bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế) và bảo hiểm phi nhân thọ; tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm; trung gian bảo hiểm (như môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm); dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (như tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường). Cam kết này bao phủ những hoạt động được xem là kinh doanh bảo hiểm và những hoạt động liên quan thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH).[1] Như vậy, các loại bảo hiểm có tính chất kinh doanh đều thuộc đối tượng mở cửa thị trường, mặc dù ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, Luật KDBH đã không thể dự liệu được hết mức độ cam kết và như vậy đã không có đầy đủ các công cụ pháp lý cũng như một số công cụ pháp lý đã không còn phù hợp để thực hiện các cam kết này.

2. Việt Nam cam kết không hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia với phương thức tiêu dùng ở nước ngoài (hay “tiêu dùng ngoài lãnh thổ”). Điều này được hiểu là việc người tiêu dùng của một Thành viên WTO di chuyển sang lãnh thổ Việt Nam để sử dụng dịch vụ bảo hiểm thì được quyền tham gia thị trường và không có sự đối xử phân biệt so với người tiêu dùng trong nước khi sử dụng dịch vụ bảo hiểm tương tự.

Continue reading