Một số vấn đề xã hội và dân sinh ở Việt Nam TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

TS. NGUYỄN TÀI ĐÔNG – Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Khẳng định một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 20 năm qua là nhờ thực hiện có hiệu quả chủ trương đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc giải quyết hợp lý những vấn đề xã hội và dân sinh, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải 3 vấn đề: 1. Thành quả đổi mới và chủ trương chung về vấn đề xã hội và dân sinh; 2. Phát triển bền vững và vấn đề công bằng; 3. Vấn đề người yếm thế trong xã hội: nông dân và người dân tộc thiểu số.

1. Thành quả đổi mới và chủ trương chung về vấn đề xã hội và dân sinh

Nhờ công cuộc đổi mới, Việt Nam đã từ một nước nghèo, lạc hậu trở thành một nước đang phát triển nhanh với mức sống của người dân ngày càng được nâng cao. Bằng con đường đổi mới, các tiềm năng của người dân dần được hiện thực hóa trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống xã hội. Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, sự thay đổi rõ nét từ một nền kinh tế lạm phát lớn với đời sống vật chất đầy khó khăn sang một nền kinh tế thị trường năng động, giá cả ổn định, thu nhập của người dân ngày một tăng đã khẳng định sự đúng hướng, cần thiết và tất yếu phải tiến hành đổi mới. Mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là biến cố sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu gây  ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam, song Việt Nam vẫn có những bước phát triển đáng ghi nhận. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài những thành tựu đáng kể về thủy sản, cao su, cà phê…, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Trong thời kỳ đổi mới, sản lượng lương thực có tốc độ phát triển nhanh gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi so với thời kỳ trước đó. Chính vì vậy mà tỷ lệ nghèo đói đã giảm nhanh chóng từ 3/4 xuống dưới 1/4 chỉ sau hai thập kỷ. Tốc độ tăng trưởng GDP cao của Việt Nam cũng thể hiện sự thành công của công cuộc đổi mới.(*)

Các chỉ số xã hội cũng ngày càng được cải thiện từ sau đổi mới. Việt Nam vốn có tỷ lệ đi học ở bậc tiểu học và trung học cơ sở ở mức cao so với một số quốc gia có thu nhập thấp, song từ sau đổi mới, tỷ lệ này ngày càng đươc gia tăng. Bậc tiểu học gần như đã được phổ cập hoàn toàn. Xóa mù chữ và gia tăng tỷ lệ đi học là thành công nổi bật của ngành giáo dục cũng như của cả xã hội. Số lượng người theo học phổ thông trung học và đại học ngày càng cao, bất chấp nhiều khó khăn do xóa bỏ hệ thống bao cấp giáo dục. Số liệu y tế cũng cho thấy những tiến bộ đáng kể. Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi giảm nhanh, đạt tỷ lệ tương đương với một số quốc gia phát triển hơn trong khu vực. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 50% năm 1990 xuống còn 30% năm 2002; cơ bản đã thanh toán một số dịch bệnh phổ biến trước đây. Chế độ dinh dưỡng được nâng cao kết hợp với khả năng mua thuốc và một chương trình tiêm chủng sâu rộng đã giúp nâng tuổi thọ trung bình lên mức phổ biến ở các quốc gia có thu nhập trung bình: năm 2000 là 67,8 tuổi; năm 2005 là 71,5 tuổi(1). Các chỉ số phát triển đã nêu trên đây cho chúng ta thấy chỉ số phát triển con người ở Việt Nam cũng đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Theo số liệu trong Báo cáo phát triển con người (HDR) của UNDP trong các năm 2001, 2004, 2005, chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã có dấu hiệu tăng đáng kể: năm 1990 là 0,610; năm 1995 là 0,649; năm 1997 là 0,664, năm 2000 là 0,686; năm 2002 là 0,691; năm 2003 là 0,704. Để đạt được những thành quả nêu trên, không có cách nào khác, Việt Nam đã lựa chọn một con đường duy nhất là phát triển kinh tế nhanh và bền vững, lấy phát triển kinh tế làm tiền đề cho phát triển con người.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI VÀ DÂN SINH Ở VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

TS. NGUYỄN TÀI ĐÔNG – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Khẳng định một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 20 năm qua là nhờ thực hiện có hiệu quả chủ trương đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc giải quyết hợp lý những vấn đề xã hội và dân sinh, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải 3 vấn đề: 1. Thành quả đổi mới và chủ trương chung về vấn đề xã hội và dân sinh; 2. Phát triển bền vững và vấn đề công bằng; 3. Vấn đề người yếm thế trong xã hội: nông dân và người dân tộc thiểu số.

1. Thành quả đổi mới và chủ trương chung về vấn đề xã hội và dân sinh

Nhờ công cuộc đổi mới, Việt Nam đã từ một nước nghèo, lạc hậu trở thành một nước đang phát triển nhanh với mức sống của người dân ngày càng được nâng cao. Bằng con đường đổi mới, các tiềm năng của người dân dần được hiện thực hóa trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống xã hội. Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, sự thay đổi rõ nét từ một nền kinh tế lạm phát lớn với đời sống vật chất đầy khó khăn sang một nền kinh tế thị trường năng động, giá cả ổn định, thu nhập của người dân ngày một tăng đã khẳng định sự đúng hướng, cần thiết và tất yếu phải tiến hành đổi mới. Mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là biến cố sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu gây  ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam, song Việt Nam vẫn có những bước phát triển đáng ghi nhận. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài những thành tựu đáng kể về thủy sản, cao su, cà phê…, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Trong thời kỳ đổi mới, sản lượng lương thực có tốc độ phát triển nhanh gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi so với thời kỳ trước đó. Chính vì vậy mà tỷ lệ nghèo đói đã giảm nhanh chóng từ 3/4 xuống dưới 1/4 chỉ sau hai thập kỷ. Tốc độ tăng trưởng GDP cao của Việt Nam cũng thể hiện sự thành công của công cuộc đổi mới.(*)

Các chỉ số xã hội cũng ngày càng được cải thiện từ sau đổi mới. Việt Nam vốn có tỷ lệ đi học ở bậc tiểu học và trung học cơ sở ở mức cao so với một số quốc gia có thu nhập thấp, song từ sau đổi mới, tỷ lệ này ngày càng đươc gia tăng. Bậc tiểu học gần như đã được phổ cập hoàn toàn. Xóa mù chữ và gia tăng tỷ lệ đi học là thành công nổi bật của ngành giáo dục cũng như của cả xã hội. Số lượng người theo học phổ thông trung học và đại học ngày càng cao, bất chấp nhiều khó khăn do xóa bỏ hệ thống bao cấp giáo dục. Số liệu y tế cũng cho thấy những tiến bộ đáng kể. Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi giảm nhanh, đạt tỷ lệ tương đương với một số quốc gia phát triển hơn trong khu vực. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 50% năm 1990 xuống còn 30% năm 2002; cơ bản đã thanh toán một số dịch bệnh phổ biến trước đây. Chế độ dinh dưỡng được nâng cao kết hợp với khả năng mua thuốc và một chương trình tiêm chủng sâu rộng đã giúp nâng tuổi thọ trung bình lên mức phổ biến ở các quốc gia có thu nhập trung bình: năm 2000 là 67,8 tuổi; năm 2005 là 71,5 tuổi(1). Các chỉ số phát triển đã nêu trên đây cho chúng ta thấy chỉ số phát triển con người ở Việt Nam cũng đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Theo số liệu trong Báo cáo phát triển con người (HDR) của UNDP trong các năm 2001, 2004, 2005, chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã có dấu hiệu tăng đáng kể: năm 1990 là 0,610; năm 1995 là 0,649; năm 1997 là 0,664, năm 2000 là 0,686; năm 2002 là 0,691; năm 2003 là 0,704. Để đạt được những thành quả nêu trên, không có cách nào khác, Việt Nam đã lựa chọn một con đường duy nhất là phát triển kinh tế nhanh và bền vững, lấy phát triển kinh tế làm tiền đề cho phát triển con người.

AI SẼ ĐẠI DIỆN CHO QUYỀN LỢI CỦA VIỆT NAM ĐỂ KHỞI KIỆN VEDAN?

CAO TỰ THANH

Sau khi Vedan bị phát hiện bí mật xây dựng hệ thống ống ngầm xả thẳng chất thải chưa xử lý ra sông trong suốt nhiều năm, dư luận đã nhiều lần lên tiếng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp này, thậm chí một vài con số cụ thể từ 45 tới hơn 100 tỷ VND cũng đã được đưa ra. Thế nhưng diễn tiến vụ việc từ đó đến nay buộc người ta phải nghĩ rằng ở đây có những điều khuất tất dễ kết luận tuy khó chứng minh, chẳng hạn tháng 4. 2009 đột nhiên có một đám cá tôm nườm nượp quay về tái định cư trên sông Thị Vải cho một số ngư dân vui vẻ đánh bắt, thậm chí suýt nữa Vedan còn được yên ổn nhận bằng khen Top 100 sản phẩm an toàn vì lợi ích sức khỏe cộng đồng năm 2009 của Hội đồng xét thưởng thuộc Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm Bộ Y tế…

Nhưng những màn kịch có lẽ không mấy rẻ tiền ấy lại không có bao nhiêu tác dụng, nên gần đây lại dấy lên một đợt vận động nếu có thể nói như thế về việc Hội Nông dân một số tỉnh thành có liên quan giúp đỡ những nông dân bị thiệt hại đứng ra kiện đòi Vedan bồi thường, tóm lại trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là người quản lý xã hội, bảo vệ quyền lợi đất nước trong trường hợp này đã bị lãng quên một cách đáng buồn, còn hành động phạm pháp nói trên chỉ được coi là một vụ va chạm dân sự thuần túy giữa Vedan với những nông dân trực tiếp bị thiệt hại! Cho nên một bộ phận dư luận bị chệch hướng đã sa đà vào các chi tiết kỹ thuật như xác định mức độ ô nhiễm môi trường mà Vedan gây ra hay số tiền mà Vedan phải bồi thường cho những nông dân trực tiếp bị thiệt hại vân vân. Chưa nói tới sự phức tạp trong việc xác định các tỷ lệ và con số nói trên có thể khiến việc giải quyết vụ này kéo dài trong nhiều năm, thì cách đặt vấn đề như thế cũng đã sai ngay từ gốc.

Trước hết, để tạo lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất, Vedan đã vi phạm pháp luật Việt Nam qua hành động gian dối nhằm tiết kiệm khoản chi phí xử lý chất thải mà họ có trách nhiệm phải đầu tư. Hành động này trái với Luật Cạnh tranh, nên để gọn chuyện thì Vedan phải nộp lại toàn bộ khoản tiền đã tiết kiệm được nhờ hành động gian dối ấy cho Việt Nam. Muốn xác định con số này cũng không có gì khó khăn, chỉ cần có được số lượng thành phẩm đã sản xuất ra trong bấy nhiêu năm gian dối thì bất cứ ai hiểu rõ công nghệ sản xuất mà Vedan sử dụng cũng có thể tính ra được. Đây cũng là hướng xử lý công bằng với người phạm pháp, vì Vedan vi phạm pháp luật để thu lợi, thì khoản lợi bất chính nhờ vi phạm pháp luật mà có ấy phải được truy thu.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ĐÒI TÀI SẢN LÀ TRANH CHẤP GÌ?

HÀ AN

Đòi lại đất và nhà cửa nhưng tòa lúc xác định quan hệ tranh chấp này, lúc xác định quan hệ tranh chấp khác.

Theo đơn khởi kiện của ông Đ., trước đây ông đã mua hai mảnh đất có trồng cà phê và cây ăn trái. Trên hai mảnh đất còn có hai ngôi nhà gỗ, một ngôi nhà tạm và hai giếng nước. Sau đó, vì phải đi xa làm việc, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi nhà cửa, vườn tược. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đã đòi gia đình người chị phải trả lại. Tuy nhiên, gia đình người chị đã không đồng ý…

Do vậy, ông đã khởi kiện ra TAND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) yêu cầu gia đình người chị phải trả lại số tài sản trên, bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Lúc thế này, khi thế khác

Trong quá trình xử lý vụ việc, các tòa đã có những nhận định khác nhau về quan hệ tranh chấp này. Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án huyện xác định tranh chấp trên là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm (lần một), tòa lại nhận định đây là “tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”.

Sau khi án sơ thẩm bị kháng cáo, cấp phúc thẩm nhận định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Thế nhưng khi ra bản án, tòa lại xác định là “tranh chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”. Bản án phúc thẩm này đã hủy án sơ thẩm để đưa về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

Án quay về tòa án huyện thì một lần nữa, quan hệ tranh chấp lại được xác định khác hẳn với những lần trước. Thẩm phán thụ lý cho rằng tranh chấp này là “tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” chứ không phải là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Còn trong một số văn bản gửi cho cơ quan chức năng về những vấn đề liên quan đến vụ án, tòa lại nhận định đây là tranh chấp “kiện đòi lại tài sản”. Tuy nhiên, đến nay vụ án vẫn chưa được xử sơ thẩm lần hai…

Phải xác định đúng quan hệ

Nhiều ý kiến đã cho rằng việc xác định đúng quan hệ tranh chấp là rất cần thiết trong khi giải quyết án. Bởi lẽ nó sẽ định hướng được đường lối xử lý của tòa, các văn bản luật sẽ được áp dụng, đặc biệt là việc cung cấp chứng cứ của các đương sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Continue reading