DOANH NGHIỆP VÀ SỰ PHÂN BIỆT VAI TRÒ

image TÔ VĂN TRƯỜNG

Mặc dù doanh nghiệp nhà nước luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi doanh nghiệp tư nhân thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội bền vững đều phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế xã hội, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, nhân lực. Trong quá trình phát triển, cải cách cơ cấu kinh tế xã hội là nỗ lực của toàn xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò trung tâm. Trong xã hội, người ta vẫn ví von các doanh nghiệp nhà nước là con đẻ, còn doanh nghiệp tư nhân như con nuôi. Éo le thay, mặc dù con đẻ luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi con nuôi thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Về mục tiêu phát triển, thực tế cho thấy do các suy luận chủ quan ban đầu dẫn tới việc cho rằng phải có các doanh nghiệp nhà nước lớn làm nền tảng chủ đạo hay đối trọng, cân bằng với các thế lực kinh tế “ngoại quốc”. Nhà nước, tập trung, ra sức tài trợ vốn, ưu ái sử dụng tài nguyên đất đai, khoáng sản, cơ chế chính sách cho doanh nghiệp nhà nước nhưng tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong các thành phần kinh tế, tạo công ăn việc làm cũng ít nhất. Không ít người có năng lực nhưng làm việc trong môi trường thiếu động lực phát triển đã ảnh hưởng đến tư duy suy nghĩ và tư duy hành động.

Thực tế cho thấy, vai trò làm chủ của Nhà nước tại hầu hết các doanh nghiệp nhà nước chưa được luật hoá, thiếu vắng các cơ chế giám sát, kiểm tra rõ ràng, minh bạch, không theo kịp các diễn biến kinh tế xã hội cho nên nhiều doanh nghiệp gây thất thoát lớn tài sản công. Môi trường nhà nước thực sự là “chùm khế ngọt” là nơi, một số người có thể giàu to, đến người nước ngoài cũng phải ngạc nhiên, lắc đầu “khâm phục”! Các thống kê cho thấy, thậm chí thu nhập bình quân ở khu vực nhà nước vẫn cao hơn khu vực tư nhân trong khi chỉ số ICOR lại cao một cách đáng ngại khoảng 8 – 14 ở khu vực nhà nước so với khoảng 3 – 5 ở khu vực tư nhân. Điều này, cho thấy các ưu ái cho doanh nghiệp nhà nước thực sự không phát huy tác dụng, chỉ cổ vũ chút ít cho đồng lương bình quân mà hiệu quả tổng quan về tiêu chí tạo công ăn, việc làm mới, hiệu quả an sinh xã hội thấp, thu hút rất nhiều nguồn lực quốc gia về đất đai, khoáng sản, con người nhưng lại lập trình sẵn cho quá trình lãng phí, tham nhũng, tư lợi, đã và đang diễn ra với các tài sản công “cha chung không ai khóc”!

Continue reading

BẤT NGỜ VỚI VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

MẠNH QUÂN

Riêng về thuế, theo tính toán của ông Nguyễn Quang A, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khối DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng thu ngân sách, là con số quá thấp so với những đặc quyền của khu vực kinh tế này được hưởng. Hơn nữa, những DNNN hiện có đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn như tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam… thì thực chất, thu nhập của các tập đoàn này chủ yếu dựa trên việc moi tài nguyên của đất nước lên bán. Đó không thể coi như một thành tích của doanh nghiệp. Cũng giống như các khoản thuế VAT mà Sabeco, Habeco thu tiền khi bán bia, thực chất là doanh nghiệp đi thu hộ, nộp vào ngân sách.

Theo bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000), số lượng doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ lệ ngang với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000) do công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện, được công bố hôm qua (23.9) đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Bởi vì, bất ngờ trong bảng xếp hạng này là số lượng doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên chiếm tỷ lệ (khoảng 33%) ngang bằng với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp (tính cho ba năm: 2007 – 2009)…

10 doanh nghiệp đứng đầu trong V-1000:

1. Công ty Thông tin di động (MobiFone)
2. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
3. Tổng công ty khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
5. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
6. Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
7. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
9. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
10. Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng

Continue reading

SỨ MỆNH CỦA MỘT BỘ LUẬT

TƯ GIANG

Khi bộ luật Doanh nghiệp nhà nước chính thức kết thúc sứ mệnh vào ngày 1.7 vừa qua, nó đã không nhận được sự chú ý đầy đủ mà nó xứng đáng có được.

Báo chí và dư luận trong một tháng gần đây xung quanh cột mốc này hướng đến sự chuyển đổi thành công của phần lớn khối doanh nghiệp nhà nước thành mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên để cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, thay vì nhìn nhận lại bộ luật này.

Được ban hành đúng 15 năm trước đây, luật Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành khuôn khổ pháp lý then chốt giúp định dạng nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ trước đây: đó là một mô hình kinh tế mà quốc doanh chiếm vị trí trấn áp.

Các doanh nghiệp của các nhà tư sản dân tộc về cơ bản đã được quốc hữu hoá trong các phong trào công tư hợp doanh ở miền Bắc sau năm 1954 và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam sau 1975.

Các xí nghiệp quốc doanh được hình thành từ các phong trào đó, hay được Nhà nước lập ra chỉ hoạt động theo các quy định của Chính phủ trong suốt một giai đoạn dài trước năm 1995.

Và khi bộ luật với nhiều ưu đãi và đặc quyền này được ban hành 15 năm trước, nó đã chính thức xác nhận và củng cố vị trí độc tôn của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, như khu vực này vẫn thể hiện trong suốt nhiều thập kỷ trước.

Tuy nhiên, tác động của bộ luật này đã giảm dần cùng các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều điều khoản của nó đã trở nên vô giá trị với các doanh nghiệp nhà nước khi một bộ luật khác mang tính lịch sử là luật Doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực thi hành từ giữa năm 2006.

Với việc chuyển đổi thành công của 1.500 doanh nghiệp nhà nước cuối cùng thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên vào đúng ngày 1.7 vừa qua, luật Doanh nghiệp nhà nước đã chấm dứt hiệu lực hoàn toàn.

Continue reading