BẢO VỆ QUYỀN KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP: LẠI CHUYỆN … “TƯƠNG TỰ”

HOÀNG HOÀNG

Gần đây trên thị trường bánh đậu xanh Hải Dương xuất hiện một loạt bánh của Cty CPTM Rồng vàng Minh Ngọc với kiểu dáng mẫu mã giống hệt kiểu dáng bánh đậu xanh của Cty TNHH Gia Bảo. Điều đáng nói bản quyền về “Hộp đựng bánh” đang được bảo hộ theo Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8633 của Cty TNHH Gia Bảo.

Có xâm phạm?

Ngày 10/8/2009 Cục Sở hữu trí tuệ có Quyết định số 1558/QĐ – SHTT về việc huỷ bỏ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp đối với Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc có trụ sở tại km 6, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương. Thế nhưng Cty này vẫn tung ra thị trường sản phẩm bánh đậu xanh có hình thức, kiểu dáng mẫu mã tương tự của Cty TNHH Gia Bảo.

Trên thực tế, kiểu dáng công nghiệp “Hộp đựng bánh” của Cty TNHH Gia Bảo đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp từ tháng 11/ 2005. Trong khi đó tháng 10/ 2007, CTy CP Rồng vàng Minh Ngọc mới có hồ sơ số 3 – 2007 – 00439 gửi đến Cục Sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu xin đăng ký là “Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc”.

Ngày 5/12/2009 Cty Luật Sở hữu trí tuệ WINCO đại diện cho Cty TNHH Gia Bảo có Văn bản số 765/CV gửi cho Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc yêu cầu giải trình một số việc: Chấm dứt ngay kiểu dáng công nghiệp vi phạm “Hộp đựng bánh” đối với Cty TNHH Gia Bảo; thu hồi toàn bộ sản phẩm bánh đậu xanh mang kiểu dáng công nghiệp vi phạm đang lưu hành trên thị trường và đưa ra phương án xử lý đối với số sản phẩm vi phạm này; có công văn chính thức gửi Cty và cam kết việc này không tái phạm.

Continue reading

CẦN THAY ĐỔI KHÁI NIỆM SỞ HỮU TOÀN DÂN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Đại học Kinh tế TPHCM

Bên lề Diễn đàn đối tác pháp luật do Chương trình phát triển LHQ (UNDP) tổ chức ngày 13- 9, TS Phạm Duy Nghĩa, Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho rằng, khối lượng công sản rơi vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp trong 5 năm qua. Do vậy, cần bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay bằng sở hữu quốc gia để có pháp nhân quản lý cụ thể.

TS Phạm Duy Nghĩa nói: Khác với cách đây 10 năm, hiện nay các nhóm lợi ích không che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc hoạch định chính sách. Các tập đoàn dễ dàng có cuộc gặp với Chính phủ, thường xuyên tham gia đề xuất chính sách.
Do vậy, nhiều chuyên gia đánh giá, pháp luật kinh tế hiện nay dành lợi thế đầu tiên cho các cơ quan quản lý nhà nước, tiếp đến là các tập đoàn và doanh nhân. Những đối tượng khác luôn bị yếu thế.

Hiện nay đi mua một căn hộ thì người mua hoàn toàn không được đàm phán với chủ đầu tư về hợp đồng mua bán, phương thức thanh toán. Cuộc chơi luôn có lợi thế về người có tiền và có quyền lực.
Do vậy, cái mà nhà nước cần làm là xây dựng những chính sách can thiệp có hiệu quả. Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho các đơn vị cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước không nên bảo lãnh, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp.

Ông và nhóm nghiên cứu về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có đề xuất bỏ khái niệm sở hữu toàn dân, thay vào đó cần tái xác lập khái niệm sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương. Đâu là lý do của kiến nghị này?

Sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân, nó đã gây ra nhiều bất công, làm cho tài sản công rơi vào tay những người có ảnh hưởng. Vì vậy cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia, đảm bảo phúc lợi được chia công bằng. Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia. Vì vậy sở hữu phải của nhiều thế hệ.

Continue reading

GÓP Ý CHO DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính – Nhà nước

Một văn bản luật ra đời là một sản phẩm của nhiều hoạt động mang tính trí tuệ cao. Luật tiếp cận thông tin là một văn bản quan trọng, cụ thể hoá một phần quyền cơ bản của công dân – quyền tự do thông tin. Nó cũng là sự thể hiện thái độ trách nhiệm của nhà nước ta trước các điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên và trước nhân dân, đồng thời xác định mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng.

Có thể nói đây là một bước chuyển quan trọng về chất trong quan niệm của chúng ta về quyền con người. Tuy nhiên, đây là lần đầu chúng ta xây dựng một luật về vấn đề này nên không thể tránh khỏi những khó khăn. Với mong muốn góp phần vào việc làm hoàn thiện luật này, tôi xin có một số góp ý cho dự thảo như sau:

Về tên gọi của dự luật này.

Nếu đây là văn bản luật được ban hành nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 (được sửa đổi năm 2001) về quyền được thông tin của công dân thì tên gọi dự luật này không phản ánh hết ý nghĩa của quyền này và như vậy đương nhiên nội dung và phạm vi điều chỉnh sẽ bị thu hẹp lại. Quyền được thông tin phải bao gồm cả quyền được biết thông tin và quyền được tạo ra thông tin. Tất nhiên các quyền này có giới hạn và phải gắn với những nghĩa vụ và bảo đảm nhất định. Quyền được biết thông tin gắn liền với quyền được cung cấp thông tin được đảm bảo bởi các chủ thể có trách nhiệm, còn quyền được tạo ra thông tin lại gắn với bản thân mỗi công dân và các chủ thể khác. Nếu dự luật để tên như vậy thì thiếu nội dung thứ hai và quyền cơ bản của công dân không được cụ thể hóa một cách đầy đủ. Nếu thể hiện được cả nội dung thứ hai này thì ý nghĩa của nó chính là sự thể hiện tính tích cực chính trị của công dân mà đặc biệt trong việc xây dựng chính sách pháp luật, đồng tời liên quan gần gũi với hoạt động phẩn biện xã hội.

Chương 1

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh. Nếu như dự luật có sự tiếp nhận ý kiến trên, phạm vi điều chỉnh của luật phải được mở rộng ra khá nhiều. Đó chính là những quan hệ xã hội xảy ra trong các hoạt động tạo ra thông tin và phổ biến thông tin. Luật là để điều chỉnh quan hệ xã hội biểu hiện thông qua hành vi của con người nên dự luật: “quy định về thông tin được tiếp cận, …hình thức tiếp cận thông tin…” là không hợp lý. Nên chỉnh lại là: “luật này xác định các loại thông tin mà công dân, cơ quan, tổ chức được tiếp cận…” và “quy định hình thức công bố thông tin”. Thông tin là cái đã có nên luật không quy định mà chỉ xác định thông tin nào thuộc đối tượng mà cá nhân, tổ chức… tiếp cận. Mặt khác, hình thức tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức… không phụ thuộc vào quy định của pháp luật.

Continue reading

DOANH NHÂN VÀ PHÁP LUẬT

PHƯƠNG NGUYỄN, HƯƠNG NGUYỄN, HIỀN LÃ

Từ khi có ý tưởng thành lập cho đến khi hình thành và phát triển kinh doanh, tạo ra lợi nhuận…doanh nghiệp đều phải tuân thủ các quy định pháp luật. Tuy nhiên trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại cùng với nước ngoài thì những quy định pháp luật về kinh doanh lại trở nên vô cùng phức tạp.

Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật nước nhà, với những thay đổi về chính sách pháp lý, hay luật nước ngoài dẫn đến những thiệt hại về kinh tế và hình ảnh của doanh nghiệp.

Đâu sẽ là giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi những rủi ro đáng tiếc để có thể duy trì và phát triển tối ưu nhất? Câu trả lời phụ thuộc vào việc áp dụng đúng khung luật và vai trò chỉ đạo của người chủ doanh nghiệp kết hợp với sự hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn luật pháp cho doanh nghiệp.

Thực trạng hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp

Việc am hiểu pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp biết luật, hoặc chưa nắm vững luật mà vẫn làm trái pháp luật vì lợi ích kinh doanh, hay không hiểu rõ luật dẫn đến việc chưa xử lý tốt các tình huống khi làm việc với nước ngoài gây nên những tổn thất nặng nề.

Không ít doanh nghiệp mới thành lập gặp khó khăn trong kê khai ước toán doanh thu. Mặc dù đưa ra con số lạc quan so với thực tế nhưng họ không nhận ra rằng doanh nghiệp sẽ bị “tạm truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp” dựa trên các con số ước toán do doanh nghiệp đưa ra. Việc tạm nộp “dư” thuế đồng nghĩa với việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong tất cả các kế hoạch đầu tư, doanh nghiệp đều phải đánh giá về môi trường vàcác rủi ro pháp lý bên cạnh hàng loạt các yếu tố kinh doanh khác.

Continue reading