SỞ HỮU TOÀN DÂN HAY QUỐC GIA?

image TIẾN TÀI THỰC HIỆN

Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. TBKTSG đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, trưởng nhóm chuyên gia của báo cáo, về vấn đề này.

TBKTSG: Báo cáo của nhóm chuyên gia đã đưa ra nhiều đề xuất táo bạo. Tuy nhiên, không rõ là nhóm đã dựa trên nền tảng lý luận nào? Hay nói cách khác, những đề xuất ấy liệu có đảm bảo cho thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN?

Ông Phạm Duy Nghĩa: Trung ương Đảng có hẳn một nghị quyết bàn về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về vấn đề này, nhìn chung có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất, định hướng XHCN nghĩa là phải sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, khống chế sở hữu tư nhân và kiểm soát kinh tế tư bản.

Cách tiếp cận thứ hai là theo định lượng. Ví dụ: người nghèo phải được giúp đỡ; những đối tượng dễ bị tổn thương phải được đảm bảo về an sinh phúc lợi; việc phát triển phải đảm bảo bền vững; phân bổ phúc lợi phải đồng đều…

Muốn phúc lợi được phân bổ một cách tương đối công bằng, thì nguồn tài nguyên quốc gia phải được quản lý và các thế hệ phải có quyền kiểm soát. Những nhóm lợi ích ngày càng thao túng chính sách phải được kiểm soát, còn những nhóm không có tiếng nói hoặc tiếng nói yếu ớt cần phải được nâng đỡ. Nhóm chuyên gia chúng tôi đang đi theo hướng thứ hai.

TBKTSG: Một trong những đề xuất quan trọng của nhóm là bỏ khái niệm sở hữu toàn dân và thay vào đó là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Ông có thể giải thích kỹ hơn về đề xuất này?

Continue reading

MẤY SUY NGHĨ VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

image ĐỖ MAI THÀNH

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này như thế nào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lại là một bài toán không đơn giản.

1 – Những kết quả đạt được

Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất cao. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể và có đóng góp nhất định cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Tính đến nay đã có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tổng số dự án FDI được cấp phép từ năm 1988 đến năm 2008 đã lên tới 10.981 dự án, đạt tổng số vốn đăng ký là hơn 163,607 tỉ USD. Riêng năm 2007, Việt Nam thu hút được 21,347 tỉ USD, trong đó giải ngân được 8,030 tỉ USD; trong các năm 2008 và 2009 kết quả đạt được trong lĩnh vực này thứ tự là 64 tỉ USD (vốn thực hiện gần 12 tỉ USD) và 21,482 tỉ USD (thực hiện được 10 tỉ USD); còn 4 tháng đầu năm 2010 thu hút được 5,92 tỉ USD (thực hiện được 3,4 tỉ USD), tăng 36% so với cùng kỳ năm 2009.

Có thể nói, trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt thì kết quả đạt được trong việc thu hút FDI của năm 2009 là một cố gắng nỗ lực lớn của Việt Nam trong vận động xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư (chỉ tiêu dự kiến trong năm 2009 là 20 tỉ USD vốn cam kết và 8 tỉ USD vốn thực hiện), bởi tuy vốn cam kết đạt được của năm 2009 giảm sút so với năm 2008, nhưng chỉ tiêu quan trọng là vốn thực hiện thì chỉ bị giảm 13% (ở nhiều nước trong khu vực vốn này bị giảm tới 20% – 30%).

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN: ANH EM GIÀNH NHAU CÁI GIẾNG NƯỚC

HÀ AN

Một bên cho rằng đây là tranh chấp về đất đai, phải qua bước hòa giải của địa phương; một bên nói là vụ kiện thừa kế, tòa phải thụ lý ngay.

Sáu năm trước, mẹ của anh em ông A. (Bình Phước) chết để lại cho hai con một ngôi nhà và mảnh vườn trồng tiêu. Ông A. chưa có gia đình nên vẫn sống trong nhà cha mẹ, lo thờ cúng, trông coi đất đai, nhà cửa. Người em đã ra riêng nên hằng ngày chỉ đến làm vườn.

Giếng nước là ranh giới

Hai năm trước, hai anh em thống nhất ông A. sẽ được hưởng căn nhà và một ít vườn tiêu. Phần vườn tiêu còn lại là của người em. Ranh giới đất đai giữa hai nhà là một đường thẳng từ đầu đất chạy qua cái giếng nước. Hai anh em sẽ sử dụng cái giếng nước chung để tưới tiêu, trồng trọt và sinh hoạt. Chia tài sản xong xuôi đâu đó, hai anh em cắm cúi lo cho công việc của mình.

Đầu năm, người em có ý định bán đất vườn để lấy vốn làm ăn. Người mua đến xem, đã hỏi đến cái giếng nước tưới có nằm trong đất của người em hay không. Người em cho biết giếng nước chung của hai nhà. Người mua ngần ngừ, bảo như vậy sẽ rất bất tiện cho họ sau này.

Thế rồi người em về bàn với anh để lại cái giếng nước cho mình. Tuy nhiên, ông A. không đồng ý vì giếng nước này cũng quan trọng đối với ông. Mặt khác, ông cũng không muốn em bán đất của cha mẹ để lại. Lúc này người em bảo khi chia tài sản, hai anh em chỉ nói ranh giới đất đai giữa hai nhà chạy qua cái giếng nước, không nói rõ là chạy qua bên trái hay bên phải cái giếng. Như vậy cũng có nghĩa là giếng nước có thể nằm ở đất người em. Chưa kể tài sản ông A. được hưởng nhiều hơn, giá trị hơn nên ông A. phải cho em được hưởng luôn cái giếng nước này mới hợp lý.

Thế nhưng dù người em nói thế nào, ông A. cũng không chịu, bảo phải giữ nguyên hiện trạng, giếng nước là tài sản chung, cả hai nhà cùng dùng.

Continue reading