MỘT SỐ YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ VƯỚNG MẮC NỘI TẠI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 DẪN TỚI CẦN THIẾT SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT NÀY

NGUYỄN HỒNG HẢI

1. Yêu cầu sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005 xét trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong 5 năm thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, Nhà nước Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh chính sách xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khởi xướng từ năm 1986. Sau gần ba thập kỷ chuyển đổi, Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn. Việc thừa nhận sở hữu tư nhân và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển; việc cải thiện quyền tự do giao dịch, lao động; tự do tiền tệ; tự do đầu tư; việc giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển đổi, cho hoặc tặng, góp vốn để kinh doanh; việc nỗ lực hình thành đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế (thị trường lao động, thị trường đất đai – bất động sản, thị trường vật tư – hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ; thị trường khoa học – công nghệ)…, cũng như việc nỗ lực cải cách thể chế kinh tế, làm cho thể chế kinh tế của chúng ta ngày càng phù hợp hơn với thế giới.[1]&[2]

Song song với những nỗ lực trên, Việt Nam cũng không ngừng mở rộng quan hệ ra thế giới và đã đạt được nhiều thành quả trong trong lĩnh vực thương mại quốc tế và các lĩnh vực luật tư khác. Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tham gia ngày càng sâu rộng vào Diễn đàn APEC, các tổ chức khu vực… tham gia các hiệp định thương mại song phương, đa phương AFTA, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ… với những cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và sở hữu theo cơ chế kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, để xây dựng một nền kinh tế thị trường đầy đủ, Việt Nam còn nhiều việc phải thực hiện, trong đó có yêu cầu bảo đảm các yếu tố cơ bản của thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường: (1) Hệ thống pháp luật về tài sản, sở hữu, quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu, giao dịch được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể luật tư, Nhà nước không áp đặt quyền lực để can thiệp vào quan hệ giữa các chủ thể, họ có quyền tự quyết; (2) Chủ thể luật tư được tự do thể hiện ý chí trong giao dịch và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi tham gia giao dịch (không phụ thuộc chủ thể là nhà nước, tổ chức, cá nhân); (3) Các cơ chế, phương pháp, thủ tục bảo đảm thực thi quyền của chủ thể luật tư phải dựa trên nguyên tắc tính tuyệt đối của quyền sở hữu, tự do về tư cách chủ thể, tự do thỏa thuận và lý lẽ công bằng; (4) Sự hiện diện và thể hiện vai trò của Nhà nước trong đời sống xã hội dân sự, trong thị trường, mức độ tự do hóa mà Nhà nước cho phép và hiệu quả hoạt động của thị trường; cam kết tôn trọng và bảo đảm của Nhà nước về sở hữu và quyền tự do giao dịch…

Continue reading

CÓ NÊN XỬ THEO ÁN LỆ?

VI TRẦN – THANH TÙNG

BÀI 1. ÁN LỆ, NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT

Trong dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, mới đây TAND Tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành.

Để hiểu thế nào là án lệ và tác động của nó, Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu loạt bài với phân tích của nhiều chuyên gia pháp lý. Theo nhiều chuyên gia luật học, án lệ là đường lối áp dụng luật pháp của các tòa án về một vấn đề pháp lý đã trở thành tiền lệ để các thẩm phán theo đó xét xử trong những trường hợp tương tự về sau.

Án lệ là gì?

Nói nôm na, xử theo án lệ là việc tòa cấp dưới vận dụng các phán quyết có từ trước của tòa cấp trên để đưa ra một phán quyết mới tương tự trong một vụ việc tương tự.

Ở nước ngoài, khái niệm án lệ còn được gọi là tiền lệ pháp. Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó. Tiền lệ pháp ở nước ngoài còn là quá trình làm luật của tòa trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới khi xét xử.

Án lệ ở Việt Nam

Ở chế độ cũ trước năm 1975, Bộ Tư pháp đã xuất bản án lệ theo định kỳ ba tháng. Ấn phẩm đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa hành chính, Tòa thượng thẩm… Những bản án này là căn cứ pháp lý để xét xử cho những tranh chấp tương tự về sau.

Sau giải phóng, giữa năm 2005, TAND Tối cao đã công bố toàn bộ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao từ năm 2000 đến 2004. 103 quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động được tập hợp đầy đủ trong một tập hơn 400 trang.

Continue reading