MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở NƯỚC TA

TS. NGUYỄN VĂN HIỆN – ƯVTWĐ – CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN TỐI CAO

Qua mấy chục năm xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1994), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ và phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là nhiệm vụ lớn lao của Đảng và của toàn dân tộc, cho nên Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện và cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa VII, năm 1995; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, v.v..

Để góp phần nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm qua, chúng tôi xin đề cập, trao đổi, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI ĐỒNG CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

1. Sự chậm trễ trong việc thành lập các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh đã làm nảy sinh nhiều lo ngại cho các nhà nghiên cứu và giới doanh nhân về triển vọng của Luật Cạnh tranh. Trong nhiều cuộc hội thảo khoa học diễn ra trước và sau khi Luật Cạnh tranh được ban hành, những lời kêu đòi Nhà nước cần nhanh chóng chuẩn bị các thiết chế và điều kiện cho sự ra đời của Hội đồng cạnh tranh – cơ quan có vai trò giải quyết các vụ việc về hạn chế cạnh tranh luôn được các học giả quan tâm. Vì lẽ ấy, sự ra đời của Nghị định 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập Hội đồng cạnh tranh dường như đã mở con đường sáng cho niềm tin của doanh nhân trong việc bảo vệ lợi ích của mình trước những diễn biến đầy phức tạp của thị trường hiện nay.

Thực ra, sự trông đợi của xã hội đối với việc thành lập Hội đồng cạnh tranh chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau:

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN: QUÁ TẦM QUẢN LÝ?

VN-Index tăng vọt trong phiên 6/3, ngay sau khi Bộ Tài chính, UBCKNN và các cơ quan liên quan ra tay “cứu” TTCK đã làm nhiều nhà đầu tư hỉ hả vì dẫu sao lời khẩn cầu của họ mấy ngày qua đã bước đầu có hiệu quả. Giới kinh doanh bất động sản (BĐS) cũng chờ một tín hiệu tích cực tương tự sau hàng loạt tiếng kêu cứu thống thiết.

Trong khi đó, còn hàng chục triệu dân thì đang lo lắng chưa biết khi nào cơn bão giá sẽ thôi hoành hành và lạm phát ngừng nhảy qua hai chữ số. Những hình ảnh trái ngược này một lần nữa lại bộc lộ những trái khoáy của “dự báo kém chứ không sai lầm”…

Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ CHÀO HÀNG VÀ CHẤP NHẬN CHÀO HÀNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

TS. DƯƠNG VIẾT SƠN – KHOA KINH TẾ – ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

Đặt vấn đề

Thực tiễn ký kết hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy rằng, hợp đồng được ký kết chủ yếu theo thói quen mà không theo kỹ năng pháp lý. Cũng chính vì vậy mà những vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng – chào hàng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không mấy được quan tâm. Thực tiễn này ít nhiều tác động đến việc thiết kế các quy định liên quan trong pháp luật hợp đồng Việt Nam. Thực vậy, trước thời điểm 01/01/2006 tồn tại đồng thời 3 văn bản pháp luật cùng điều chỉnh việc ký kết và thực hiện hợp đồng, đó là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Thương mại 1997, và điều đáng nói là có khá nhiều điểm không thống nhất trong ba văn bản này, tuy nhiên chúng ít được quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, các nhà làm luật của chúng ta đã có sự cố gắng trong việc thống nhất các quy định pháp luật về ký kết hợp đồng, cụ thể chúng được gom vào trong Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005). Điều này vừa đảm bảo được tính hệ thống, tính thống nhất của pháp luật, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Continue reading

CƠ CHẾ CẠNH TRANH VÀ SỰ THÔNG ĐỒNG TRONG ĐẤU THẦU THEO LUẬT CẠNH TRANH

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

1. Tư tưởng về tự do khế ước trong dân luật đã trao cho con người quyền lựa chọn đối tác trong các quan hệ mà họ muốn thiết lập. Nhu cầu đã thúc đẩy và dẫn dắt con người đến với những phương thức tìm kiếm đối tác bằng cách sử dụng sự ganh đua và đấu tranh giữa các ứng viên. Khi lợi ích gắn liền với lợi nhuận trong sinh hoạt của thị trường, các doanh nhân cũng đi tìm sự tối đa hóa lợi ích với mô hình ganh đua tương tự bằng các cuộc đấu thầu hoặc đấu giá. Với cách tiếp cận này, dường như tâm điểm và sức sống của hoạt động đấu thầu là việc vận hành và sử dụng cơ chế cạnh tranh. Continue reading

VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH

LÊ THỊ LA

Thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ đã tháo gỡ được rất nhiều vướng mắc mà Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 còn chưa giải quyết được. Tuy nhiên vẫn còn một số vướng mắc cần phải có sự điều chỉnh và hướng dẫn kịp thời để việc áp dụng được thống nhất, đó là:

Vướng mắc liên quan đến đăng ký khai sinh:Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được đăng ký khai sinh, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con thì cha, mẹ, ông, bà hoặc những người thân thích khác phải có trách nhiệm đến UBND  cấp xã nơi cư trú của người mẹ để đăng ký khai sinh cho đứa trẻ, nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì UBND cấp xã nơi cư trú của người cha sẽ thực hiện đăng ký khai sinh.

Continue reading

ĐỀ CƯƠNG VẤN ĐỀ 7 – MODUL2: HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG – HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN VÀ HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN

I. TÀI LIỆU

1. Tài liệu bắt buộc:

– Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 501 – 517) đối chiếu tương ứng với Bộ luật dân sự năm 1995;

– Các văn bản qui phạm pháp luật được gợi ý tại các trang 33 -34 Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2

– Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 2 – Đại học Luật hà Nội;

– Các tài liệu khác được liệt kê tại Đề cương môn học Luật dân sự Modul 2 Tr 32 – 33

2. Tài liệu tham khảo lựa chọn:

– Các bài viết hoặc thông tin có liên quan đăng tải trên các tạp chí Luật học, Nghề Luật, Tòa án nhân dân, Nghiên cứu lập pháp, Nhà nước và pháp luật, Khoa học pháp lý … và trên các trang Web.

– Đọc thêm các bài viết sau (được đăng trên weblog này. Click vào chủ đề: Hợp đồng):

Continue reading

LÃI SUẤT – CON DAO HAI LƯỠI

LÊ HỒNG THỌ 

Từ tháng 11.2007 giá tiêu dùng tăng vọt, báo động dấu hiệu của lạm phát sẽ ập tới trong những ngày cuối năm khi chỉ số giá cả của “rổ hàng hóa” tăng trên 12%, vượt mức tăng trưởng GDP là 8-8,5%. Sự thật đã diễn ra đúng như dự đoán của các nhà kinh tế.

Nhìn lại chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2007 đã tăng 12,6%, sang tháng 2.2008 đã tăng lên 6,04% và chưa có dấu hiệu giảm tốc trong tháng 3 khi giá xăng dầu tiếp tục tăng, cuốn vật giá leo thang sẽ đẩy lạm phát vượt mức 14% một cách dễ dàng.

Nguyên nhân gây ra lạm phát có nhiều, được phân tích khá kỹ trên các báo; các yếu tố khách quan (giá dầu thô, vàng trên thị trường thế giới, khủng hoảng tiền tệ tại Mỹ, suy thoái kinh tế xảy ra khắp nơi cùng với những cuộc tranh chấp chính trị, dầu mỏ tạo ra một sự bất ổn…) và chủ quan (cách điều hành kinh tế vĩ mô chậm chạp, không bắt kịp chuyển động của nền kinh tế, lượng ngoại tệ thu vào để dự trữ hơn 9 tỉ đô la, tốc độ thực hiện dự án đầu tư nước ngoài chậm, nhập siêu hơn 12 tỉ đô la trong năm 2007…) đã làm giảm ý nghĩa tích cực và nội dung tăng trưởng kinh tế mà Thủ tướng chính phủ cũng như các bộ liên quan đã nêu trong những phiên họp tổng kết cuối năm. Continue reading

KHÔNG THỂ XIN TRỨNG, TINH TRÙNG, MANG THAI HỘ VÌ THIẾU LUẬT

Nghị định về điều trị vô sinh dự kiến ban hành từ cuối năm 2001, nhưng đến nay vẫn chưa được đưa ra. Vậy là tất cả các bác sĩ, muốn mang lại hạnh phúc cho các cặp vợ chồng bất hạnh, vốn chiếm 10% ở Việt Nam, đang phải gác tay chờ luật.

Bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan, Phó khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, cho biết Bệnh viện đang có 312 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm với trứng xin của người khác đã được xếp lịch mà chưa thực hiện được, vì còn chờ quy định của Chính phủ. Trước đó, từ tháng 5/1999, được Bộ Y tế cho phép, Từ Dũ đã thực hiện 111 ca thụ tinh trong ống nghiệm với trứng xin của người khác. Thế nhưng số này chỉ đáp ứng 26,2% nhu cầu.

Hiện nay, thủ tục pháp lý về xin – cho trứng và mang thai hộ đang là tạm thời. Ngoài ra, những người thực hiện xin, cho trứng gặp rất nhiều khó khăn khi đi công chứng những bản thỏa thuận theo quy định. Bởi chính cơ quan công chứng cũng không hiểu rõ đây là thỏa thuận gì, có trái luật không, và vì loại này chưa có trong… danh mục công chứng.

Theo Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 2  năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học:

– Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân và họ là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi.

Với những người đàn ông bị chứng vô sinh, vốn chiếm 30% trường hợp cặp vợ chồng hiếm muộn, thì cho đến nay Từ Dũ chưa thực hiện được ca thụ tinh nhân tạo nào. Lý do là Bộ Y tế chưa cho phép việc chữa trị bằng xin tinh trùng. Tuy nhiên, người ta vẫn làm chui ở các phòng mạch tư. Tại đây, việc thụ tinh nhân tạo được thực hiện một cách đơn giản: bơm tinh dịch người cho vào buồng tử cung người nhận. Việc này rất nguy hiểm, bởi tinh dịch không được lấy đúng quy cách do thiếu thiết bị hiện đại, không loại được mầm bệnh.

Giải pháp mang thai hộ, thường áp dụng với trường hợp người vợ bị bệnh không thể nuôi thai, cho đến nay cả nước mới chỉ có hai trường hợp. Cả hai người này đều phải vất vả ra Hà Nội làm giấy tờ, thủ tục xin Bộ Y tế xét duyệt, tốn nhiều thời gian, công sức.

Pháp luật còn bỏ ngỏ

Các cặp vợ chồng hiếm muộn ngày nay, thay vì xin con nuôi, có xu hướng nhờ y học hỗ trợ sinh con. Điều này phát sinh những vấn đề pháp lý gây tranh cãi, như việc xác định cha mẹ cho con, giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng mang thai hộ. Hay tòa sẽ giải quyết thế nào nếu nhận được đơn xin hủy hợp đồng mang thai hộ khi đứa bé chỉ là một thai nhi? Người cho trứng hay người mang nặng đẻ đau mới là mẹ đứa trẻ? Quy định thế nào về quyền thừa kế, quyền của đứa trẻ được biết đến nguồn gốc của mình?

Trên thế giới, những vấn đề trên được xử lý khác nhau ở mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, một nghị định giải quyết những vấn đề pháp lý này đã được khởi thảo từ đầu năm 2001, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có dấu hiệu sắp được ban hành. Song ông Đinh Trung Tụng, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự, kinh tế, Bộ Tư pháp, cơ quan soạn thảo, khẳng định: “Nhu cầu được sinh con nhờ sự can thiệp của y học là một nhu cầu chính đáng liên quan đến quyền nhân thân, quyền con người. Trước mắt, Bộ Y tế – Bộ Tư pháp trình dự thảo nghị định để Chính phủ ban hành. Sau này, Quốc hội sẽ xem xét nâng lên thành luật hay pháp lệnh”.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2002/02/3B9B97C5/

PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ THỤ TINH NHÂN TẠO

Ở các nước châu Âu, nhân phẩm được đặt lên trên quyền tự do, nên con người bị hạn chế quyền tự định đoạt thân thể mình. Cộng hòa Pháp cấm mang thai hộ, cấm phụ nữ mang bụng đi cho… thuê. Bộ luật Dân sự nước này quy định phải tôn trọng nhân phẩm con người ngay từ khi bắt đầu sự sống, tức không những từ khi sinh ra mà bắt đầu từ phôi. Mọi hình thức nghiên cứu trên phôi người, trừ mục đích hỗ trợ sinh sản, đều bị cấm.

Continue reading

LUẬT TỤC Ê ĐÊ: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA PHÁP LÝ

THS. VŨ THỊ BÍCH HƯỜNG  – Giảng viên ĐH Luật TP.HCM

Trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn phản ánh khả năng nhận thức và trình độ phát triển của một dân tộc. Ở nước ta hiện nay, bên cạnh hệ thống pháp luật thực định đang ngày càng được hoàn thiện vẫn còn tồn tại luật tục của các buôn làng người thiểu số, mà giá trị hiện thực của nó trong việc đảm bảo sự ổn định các quan hệ xã hội trong một cộng đồng người là điều không thể phủ nhận. Nếu hệ thống pháp luật thực định phản ánh trình độ văn hóa pháp lý của một cộng đồng người sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia thống nhất, thì luật tục lại phản ánh văn hóa pháp lý của một dân tộc – một bộ phận hợp thành khối dân cư thống nhất ấy. Trong bài viết này, chúng tôi nêu một số suy nghĩ về luật tục Ê Đê nhìn từ góc độ văn hóa pháp lý.

Ê Đê là cộng đồng người thống nhất về ý thức dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa, là một dân tộc thiểu số bản địa ở Đaklak có trình độ phát triển và nền văn hóa tiêu biểu cho Đakalk. Trong các bản trường ca, nổi bật nhất là trường ca Đam San, cũng như trong đời sống hàng ngày, người Ê Đê đã khắc họa nên những trang sử hào hùng của dân tộc mình trong việc đánh giặc, đuổi cướp giữ buôn làng, giữ bến nước của ông bà, cha mẹ. Từ lâu, người Ê Đê đã sống quần cư trong những ngôi nhà dài. Mỗi nhà dài gồm nhiều gia đình, nhiều hộ, cùng là anh chị em ruột một dòng họ với nhau theo chế độ mẫu hệ. Hôn nhân cư trú bên vợ, con cái sinh ra mang họ mẹ. Đứng đầu đại gia đình là Khoa sang, đó là người đàn bà cao tuổi và có uy tín nhất, đứng ra trông nom tài sản, hướng dẫn sản xuất, điều hòa quan hệ giữa các thành viên, thay mặt đại gia đình quan hệ với xã hội. Một dòng họ nhỏ có thể cư trú trong một ngôi nhà dài. Một dòng họ lớn gồm nhiều nhà dài. Nhiều dòng họ làm thành một Buôn – cộng đồng tiêu biểu cho toàn xã hội.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội Ê Đê vẫn đang ở vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy. Tuy đã bắt đầu có sự phân hóa giàu nghèo, nhưng trong xã hội, các quan hệ sở hữu tập thể, của dòng họ và của cả buôn còn chi phối sâu sắc. Hình thức sản xuất chủ yếu là săn bắn, hái lượm, nương rẫy. Công cụ sản xuất thô sơ với chiếc xà gạc, cái cây chọc lỗ, tra hạt… nền sản xuất mang tính chất khép kín tự cung tự cấp. Hình thức trao đổi, phân phối sản phẩm chủ yếu bằng hiện vật, mang tính bình quân. Với lối sống du canh du cư, đốt rừng làm rẫy, việc no, đói phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên và xem đó như là sự ban phát của tự nhiên. Vì thế, trong xã hội Ê Đê cổ truyền, đời sống hiện thực của con người gắn chặt với tín ngưỡng tâm linh. Họ tin vào lực lượng siêu nhiên, các vị thần ở 3 tầng thế giới: Trời, mặt đất và trong lòng đất, và đặt ra hàng loạt những lễ thức cầu xin sự trợ giúp của các đấng thần linh để đạt được những ước nguyện của mình: mùa màng tươi tốt, tránh được hoạn nạn, buôn làng có nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Tính chất nền sản xuất, thiết chế gia đình, tín ngưỡng đã hình thành nên bản sắc văn hóa của người Ê Đê, trong đó có văn hóa pháp lý được thể hiện trong luật tục của họ1.

Mặc dù cuộc sống còn hoang sơ, nhưng sự hình thành luật tục của người Ê Đê đã phản ánh nhu cầu khách quan là: cần quản lý, phối hợp và điều chỉnh những mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng để duy trì sự tồn tại và phát triển. Trong quá trình đó, luật tục đã dần dần được hình thành từ những kinh nghiệm được chắt lọc qua cuộc sống của nhiều thế hệ, góp phần tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc, cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức, pháp lý theo quan niệm của người Ê Đê.

* Về cơ cấu của luật tục: Dựa vào 236 điều của luật tục đã được L. Sabatier2 sắp xếp thành 11 chương ta thấy: Nếu so sánh với một số bộ luật của các quốc gia phương Đông và phương Tây thời kỳ cổ đại khi những nước này mới thoát ra khỏi xã hội Công xã thị tộc như: Luật Hammurabi (Lưỡng Hà), Luật Manu (Ấn Độ), Luật 12 bảng (La Mã), thì Luật tục của người Ê Đê có những điểm tương đồng. Đó là không có sự phân định rõ ràng giữa các quy phạm điều chỉnh những quan hệ dân sự và những hành vi phạm tội. Điều này xuất phát từ một thực tế là do trình độ sản xuất thấp kém nên những quan hệ dân sự trong cộng đồng người Ê Đê còn rất mờ nhạt, đặc biệt là quan hệ trao đổi hàng hóa (mua bán, vay mượn), chỉ được quy định trong 6 điều, từ điều 186 đến điều 191 với nội dung rất đơn giản. Số lượng điều luật chiếm nhiều nhất và cũng chặt chẽ nhất là những điều luật quy định về Hôn nhân và gia đình (54 điều), đó là nhóm quan hệ xã hội rường cột nhất chi phối đời sống của từng cá nhân trong cộng đồng. Có thể thấy rằng, luật tục đã rất xem trọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộng đồng và tín ngưỡng. Thứ đến là vấn đề sở hữu tài sản, được quy định trong 38 điều, nhưng đó là tài sản của gia đình mẫu hệ. Mọi của cải trong gia đình đều thuộc quyền quản lý của mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản cũng được tính theo dòng mẹ. Một phần của cải của người chồng đã chết cũng phải đem trả về cho mẹ hay chị em gái của anh ta (điều 182). Nhóm những điều luật chiếm vị trí thứ 3 về số lượng với 33 điều quy định mối quan hệ giữa người đứng đầu buôn với các thành viên, nhằm đảm bảo kỷ cương, đảm bảo quyền dân chủ, bình đẳng trong quan hệ cộng đồng buôn làng.

* Về nội dung của luật tục Ê Đê: Như các tác giả trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm luật tục đã nhận định: Luật tục ở mức độ nào đó chỉ mới bó hẹp trong phạm vi một buôn3. Nhưng luật tục Ê Đê đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, gia đình và quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ đến lễ nghi, tín ngưỡng…

Luật tục đã phản ánh tư duy duy lý dân gian của người Ê Đê trong quá trình tồn tại và phát triển. Những khuôn khổ, cách thức sống được đặt ra không đơn thuần là sự nhận thức cảm tính mà đã được định hình bằng những lý lẽ được coi như chân lý mà ai cũng phải nghe theo, không còn sự lựa chọn nào khác. Ví dụ như: Trong gia đình con cái phải nghe theo lời cha mẹ, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của trưởng buôn, ai làm trái với điều ấy phải đưa ra xét xử, đó là quy tắc. Những lý lẽ đưa ra để thuyết phục người ta cần phải xử sự theo quy tắc đó là:

Có cây đa thì phải hỏi cây đa, có cây sung thì phải hỏi cây sung, có mẹ cha thì phải hỏi mẹ cha.

Kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao, là một trẻ nít lại muốn khôn ngoan hơn người lớn; có mẹ, có cha mà không hỏi mẹ cha.

Có cây đa đầu suối, có cây sung đầu làng, người trông nom dân làng mà không hỏi. Hắn đi rừng lấy củi mà không hỏi cha, đi suối lấy nước mà chẳng nói với mẹ; bán

cái này, mua cái nọ mà không hỏi các ông già bà cả.

Như vậy là có chuyện sai lầm phải đưa ra xét xử (Điều 27).

Những lý lẽ ấy đã được bắt nguồn từ chính cuộc sống hiện thực mà con người không thể phủ nhận, tạo cho họ niềm tin và dẫn dắt họ trong cuộc sống.

Xuyên suốt 236 điều trong luật tục là tính cộng đồng với tinh thần bình đẳng, dân chủ, bác ái. Dù là việc xảy ra trong một gia đình, một dòng họ như: kết hôn, sinh tử… mọi người vẫn ghé vai gánh vác xem như đó là công việc chung. Cho đến những việc như sửa sang bến nước, tế lễ thần linh hoặc hệ trọng hơn như bảo vệ an ninh cho buôn làng, các chủ hộ đều được chủ làng, chủ bến nước mời tới bàn bạc và đóng góp. Trẻ mồ côi, người thiếu ăn, bệnh hoạn, đều được mọi người nâng đỡ, chở che. Lối sống dân chủ, bác ái ấy đã gắn bó con người lại với nhau, mỗi người, mỗi nhà đều tự coi là một thành viên không

thể rời xa cộng đống. Luật tục đã quy định rất rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân, của cá nhân với cộng đồng, đồng thời cũng nêu rõ trách nhiệm của thân tộc đối với mỗi thành viên trong dòng họ, nhằm mục đích tạo nên sự bình đẳng giữa các thành viên. Không có sự phân biệt, ưu đãi tầng lớp trên, hoặc ngược đãi tầng lớp dưới trong mọi lĩnh vực của đời sống buôn làng.

* Về cơ chế điều chỉnh của luật tục: Luật tục được hình thành và tồn tại trong đời sống của người Ê Đê đã đáp ứng được nhu cầu khách quan mà bất kỳ một cộng đồng người nào, một thiết chế xã hội nào cũng cần đến, đó là nhu cầu về quản lý. Nhưng do phương thức sản xuất còn ở trình độ thấp nên nhu cầu quản lý cũng như tính chất của hoạt động quản lý còn khá đơn giản, vì thế nên luật tục có cơ chế điều chỉnh riêng của nó. Bằng nhiều cách thức như: giáo dục, răn đe, xử phạt, luật tục đã tác động đến nhận thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng, tạo nên một trật tự cần thiết cho các hoạt động chung như: tổ chức sản xuất, bảo vệ buôn làng… và bảo vệ lợi ích của từng cá nhân, từng dòng họ. Nhưng vượt lên trên các phương pháp cụ thể ấy là nguyên tắc tự quản kết hợp với những quan niệm về tín ngưỡng.

Cuộc sống của người Ê Đê gắn bó chặt chẽ với thế giới tự nhiên, chan hòa với thế giới tự nhiên. Họ lấy từ tự nhiên những sản vật phục vụ cho nhu cầu của mình. Dựa vào mặt trời, mặt trăng để định đơn vị thời gian: Ngày đêm (mặt trời), tháng (mặt trăng), năm (mùa rẫy, mùa hoa, mùa chim bay về và bay đi). Tuy vậy, con người vẫn thấy bất lực trước thiên nhiên, vũ trụ bao la. Những tai họa cứ bất thần ập đến, tàn phá cây trồng, giết hại người và gia súc… con người trở nên nhỏ bé, yếu ớt và họ tìm chỗ dựa tinh thần bằng việc tưởng tượng ra các vị thần linh, và tin rằng chỉ có các vị thần ấy mới có sức mạnh hơn con người. Thần Aê Điê là thần tối cao trông coi cả 3 thế giới: tầng trời, mặt đất và tầng dưới đất; các thần thời tiết: Yang Liê (bão tố), Yang Briêng (thần tai nạn)… mỗi thần đều có tác động nhất định đến con người. Mùa màng bị tàn phá là do sự trừng phạt của thần ác đối với con người. Khi được mùa là do thần thiện ưu ái với con người. Và để các vị thần vừa lòng mà ra tay giúp đỡ, hay ngưng lại sự trừng phạt, con người phải tổ chức những lễ nghi cầu khấn, suy tôn. Sự gắn bó con người với các vị thần linh đã hình thành nên cơ chế tự điều chỉnh, con người cảm thấy có một lực lượng vô hình luôn kiểm tra, theo dõi và uốn nắn hành vi của họ. Vì thế mà mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ đều tự răn mình và giáo dục các thành viên khác điều chỉnh hành vi theo quy định của luật tục, ngăn chặn những hành vi làm thương tổn đến lợi ích của người khác và của cộng đồng, hướng con người tới các điều thiện. Khi các cá nhân không tự điều chỉnh và có sự vi phạm luật tục hoặc có những mâu thuẫn, xung đột với nhau mà không tự giải quyết được thì sẽ có sự can thiệp của cộng đồng bằng một thiết chế có tính quyền lực – Tòa án phong tục. Trong mỗi buôn Ê Đê đều có những Khoa phat kđi – là người am hiểu và thông thuộc luật tục, có uy tín trong buôn làng (thường là các già làng) – đứng ra giải quyết các mâu thuẫn, xung đột. Trong xử kiện, Khoa phat kđi đọc luật tục (bằng văn vần) và sử dụng các biện pháp của nghi thức cổ truyền, rồi sau đó phán xử như một ông chánh án được tín nhiệm tuyệt đối. Khi mỗi bên nguyên, bên bị đã được xét xử xong, bao giờ cũng kèm theo một nghi lễ nhằm chấm dứt những thù oán giữa các bên với sự chứng giám của các vị thần linh và dân chúng. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là, những điều ghi trong luật tục cũng như cách giải quyết của tòa án phong tục chủ yếu là hòa giải, giáo dục hơn là kết tội, trừng phạt. Ngay cả khi một người bị quy tội thì biện pháp trừng phạt thực chất vẫn là một hình thức hòa giải, giáo dục. Hiện nay, Tòa án phong tục chỉ còn có ở những vùng xa các đô thị, xa các trục lộ giao thông chính. Những nơi không còn tòa án phong tục thì thay vào đó là nhóm, tổ hòa giải để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong buôn trên cơ sở luật tục, mà biện pháp chính vẫn là hòa giải, giáo dục, răn đe. Chỉ khi nào Tổ hòa giải không xử lý được thì vụ việc mới được chuyển lên Tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh. Sự vận hành như vậy của luật tục vào đời sống xã hội thật đơn giản.

Nó khác với cơ chế điều chỉnh p của Nhà nước được kết hợp bởi nhiều yếu tố và quy trình pháp lý khá phức tạp. Nhưng chính từ cơ chế điều chỉnh đơn giản ấy của luật tục mà các thành viên trong cộng đồng gắn bó với nhau hơn và đó là cơ sở xã hội làm cho luật tục tồn tại lâu dài.

* Về ngôn ngữ diễn đạt: Trong văn học dân gian truyền thống của người Ê Đê, lời nói vần Duê là một hình thức ngôn từ đặc biệt và phổ biến trong văn chương truyền miệng Ê Đê như tục ngữ, truyện cổ, trường ca, thần thoại, dân ca. Lời nói vần là sự chắt lọc tinh túy từ những tri thức, kinh nghiệm dân gian. Trong giao tiếp, người ta vẫn thường xen vào những câu nói vần như để làm chuẩn mực đối chiếu xã hội. Trong luật tục, những câu nói vần được gọi là Duê Kđi. Nó giống như khẩu ngữ hàng ngày với cách nói ví von, so sánh, hình tượng nhưng cũng rất cụ thể, cách dùng ngoa ngữ để khẳng định điều muốn nói. Nhưng Duê Kđi có tính chất thiêng liêng hơn vì được coi như những câu nói của ông bà tổ tiên, của các thần linh đã để lại cho con cháu.

Ví dụ như để trừng phạt những kẻ có hành vi bịa đặt, vu cáo cho người khác về những điều không có thực, luật tục đã mô tả hành vi đó như sau:

Hắn bịa chuyện vu khống cả kẻ sang, người giàu.

Hắn nói, họ như một cây gạo đã rỗng ruột, như một cái cối đã thủng đáy trong khi chẳng có tí gì như vậy cả.

Có những chàng trai trong làng, những cô gái ngây thơ, những người Mnông, người Bih chất phác thật thà, đã bị hắn đổ cho là đã đi vào bụi vào bờ (lén lút) ăn thịt bò, thịt trâu (đã đánh cắp)…

Có thể thấy, ngôn ngữ trong luật tục hầu hết là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể, sinh động. Những hình ảnh ấy vừa cô đọng, sâu sắc, vừa giản dị, dễ nhớ, dễ lưu truyền làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung và nhận thức bằng trực giác mà không cần đến một sự giải thích nào khác. Với ngôn ngữ ấy, Luật tục đã phản ánh thế giới tự nhiên và đời sống của con người rất cụ thể, được các thành viên trong cộng đồng tiếp nhận và lưu giữ dễ dàng.

Mặc dù luật tục Ê Đê mới chỉ đề cập đến những quan hệ xã hội trong phạm vi hẹp của một cộng đồng người mà phương thức sản xuất chưa phát triển, nhưng nó đã khẳng định sự tồn tại của một cộng đồng người có tổ chức, có kỷ cương mà những khuôn mẫu ấy đã vượt lên trên những tập quán thông thường.

Nghiên cứu văn hóa pháp lý của luật tục nói chung và luật tục Ê Đê nói riêng phần nào giúp chúng ta tìm được cơ chế thích hợp cho việc áp dụng pháp luật thực định vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN trong điều kiện nước ta hiện nay, khi các vùng dân cư vẫn còn sự khác biệt về kinh tế và văn hóa.

Chú thích:

1, 2, 3 Xem : Luật tục Ê Đê, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2001

CƠ CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC MANG THAI HỘ

Một loạt vấn đề pháp lý như xác định cha, mẹ cho con, hôn nhân giữa những đứa trẻ cùng cha mẹ sinh học… đang đặt ra với việc sinh đẻ nhờ cho, nhận trứng, tinh trùng. Đây là nội dung cuộc hội thảo góp ý cho Nghị định sinh con bằng phương pháp khoa học, tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Có nên cho phép mang thai hộ và cho phôi là vấn đề được tranh cãi nhiều nhất, dù dự thảo Nghị định đã cấm tuyệt đối việc này. Thạc sĩ Nguyễn Viết Tiến, Trưởng khoa Thụ tinh trong ống nghiệm, Bệnh viên C Hà Nội cho rằng, nên cho phép. Bởi thực tế có những phụ nữ không có noãn trứng (tức không thể xin tinh trùng được) nhưng vẫn có khả năng mang thai. Nếu cấm cho phôi thì họ sẽ không thể có khả năng làm mẹ. “Người ta thường lo ngại vì sợ hôn nhân cùng huyết thống. Nhưng xác xuất chuyện này rất thấp, thường chỉ 1/10.000”, ông Tiến nói.

Continue reading

TẢN MẠN VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT

THS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn luật sư TP.Hồ Chí Minh

Vào năm 1994, có một vụ tranh chấp hợp đồng xây dựng trị giá khởi kiện đòi bồi thường gần 700000 USD được đưa đến một tòa án tỉnh. Sau khi suy xét cả tháng trời, Tòa trả lại đơn với lý do hai bên đã thỏa thuận điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng là trọng tài với quy tắc tố tụng của ICC (Phòng thương mại quốc tế). Thực ra nội dung ngữ nghĩa của câu chữ xác định rằng, trong trường hợp có bất đồng về thẩm quyền thẩm phán, thì Trọng tài của ICC có thẩm quyền phân định. Nguyên cứu nguyên tắc tố tụng của ICC dẫn chiếu đến trường hợp này, việc phân định cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp sẽ do Trọng tài LaHaye quyết định…Vụ kiện trên đến nay vẫn chữa giải quyết xong.

Continue reading

VỀ KHÁI NIỆM CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

NGUYỄN TRUNG TÍN –  Viện NC Nhà nước và Pháp luật

Trong số các văn bản pháp luật về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế ở Việt Nam hiện nay chúng ta mới có Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 mà chưa có các quy định về việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài kinh tế trong nước. Trong các bản Dự thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta, vấn đề này đã được đề cập.

Bài viết này nhằm mục đích làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế với mong muốn góp phần vào việc soạn thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta.

Continue reading

VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH VÀ ĐĂNG KÝ TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000

TRẦN THỊ MAI PHƯỚC – Trường ĐHDL Văn Hiến TP.HCM

Nghiên cứu về quá trình giải quyết một vụ án hôn nhân và gia đình (HNGĐ), người ta nhận thấy rằng vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng là một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp và không kém phần quan trọng. Tuy nhiên, để phân chia được, trước hết người ta phải xác định được đâu là tài sản (TS) phải chia, không chia và không được chia. Nghĩa là Tòa án phải xác định được đâu là TS chung của vợ chồng, đâu là TS riêng của mỗi người và đâu là TS của người thứ ba mà vợ chồng đang quản lý. Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề xuất và phân tích giải pháp góp phần đơn giản hóa việc xác định TS của vợ chồng – đó chính là điều kiện để giải quyết những khó khăn, phức tạp tồn đọng trong giai đoạn khác (giai đoạn phân chia TS).

Continue reading

35 THẨM PHÁN BỊ KỶ LUẬT, TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Con số này được đưa ra tại  hội nghị triển khai công tác năm 2008 của ngành toà án sáng 22/1. Theo đó, toàn ngành còn hơn 200 thẩm phán chưa có bằng đại học luật, 11 thẩm phán toà án địa phương chưa được bổ nhiệm lại vì không hoàn thành nhiệm vụ.

Gần 1/2 án dân sự được hòa giải thành công

Theo báo cáo năm 2007, các toà án đã giải quyết được gần 250.000 vụ án trong tổng số gần 270.000 vụ án đã thụ lý (đạt 92,7%). Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ chiếm 1,2% (tăng 0,18% so với năm 2006); bản án bị sửa chiếm 2,89%.

Continue reading

VỢ LÀM, CHỒNG CHỊU

MINH TÚ- Pháp luật TPHCM

Vợ tự ý bán nhà khi chồng đi vắng nhưng tòa lại buộc người chồng đã ly hôn phải liên đới chịu trách nhiệm trả tiền cho bên mua.

Vừa qua, VKSND tỉnh Dăk Lăk đã ra quyết định kháng nghị một bản án dân sự sơ thẩm của TAND TP Buôn Ma Thuột vì cho rằng tòa này xử sai luật: Vợ đơn phương bán nhà nhưng tòa lại buộc người chồng đã ly hôn phải liên đới trả lại tiền cho bên mua…

Tự ý bán nhà

Theo hồ sơ, bà Y. là giáo viên một trường PTCS ở TP Buôn Ma Thuột. Vì đứng ra vay tiền hộ nhiều nơi cho một người làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng nên sau khi người này bị Công an tỉnh Dăk Lăk bắt về hành vi chiếm đoạt tài sản, bà Y. đã bị các chủ nợ đổ dồn đến đòi tiền. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TS. NGUYỄN CÚC – Giám đốc Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường đang làm thay đổi cơ bản về cấu trúc kinh tế, cơ chế quản lý, đặc biệt là vai trò nhà nước trong mối quan hệ nhà nước – thị trường – dân cư (doanh nghiệp). Sở hữu nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản và phức tạp trong lý luận kinh tế.

1. Những đặc trưng của sở hữu nhà nước

Tính phức tạp của quá trình thảo luận chung quanh vấn đề sở hữu nhà nước có nguyên nhân ở chỗ nhà nước vừa đóng vai trò chủ thể sở hữu như các chủ thể khác, vừa phải là chủ thể định ra khung khổ thể chế cho toàn xã hội. Phân tích các yếu tố cấu thành sở hữu nhà nước có những nội dung sau: Continue reading

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC TRẢ THÙ LAO CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN

TƯỞNG BẰNGLƯỢNG – Phó Chánh tòa Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THANH TOÁN CÔNG SỨC CHO NGƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN:

Khi một người chết có di sản để lại sẽ phát sinh quan hệ thừa kế. Thừa kế được mở kể từ thời điểm người để lại di sản chết. Nhưng trong thực tế ít có trường hợp ngay khi mở thừa kế đã diễn ra việc chia thừa kế. Thông thường việc chia thừa kế diễn ra sau đó một thời gian khá dài. Đặc biệt là các vụ tranh chấp thừa kế tại Tòa án thì hầu hết thừa kế đã mở từ lâu, có những vụ thời điểm mở thừa kế cách thời điểm tranh chấp từ 10 năm đến 30 – 40 năm, cá biệt có vụ còn lâu hơn, do đó sẽ xuất hiện “người quản lý di sản”.

Tuy pháp luật thừa kế được quy định từ sớm, nhưng các quy định ban đầu còn rất sơ lược và chung chung, mới chỉ đề cập đến một vài nguyên tắc cơ bản về thừa kế chứ chưa đề cập đến việc thanh toán công sức cho “người quản lý di sản”. Song, qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều hướng dẫn, trong đó phải kể đến Thông tư số 81 ngày 24/7/1981. Trong Thông tư này vấn đề thừa kế được quy định tương đối có hệ thống và cũng tại đây lần đầu tiên pháp luật của Nhà nước ta đề cập đến việc những người “có công nuôi dưỡng, chăm sóc người để lại di sản và người có công giữ gìn di sản của người đã chết, cần được chiếu cố” khi chia di sản. Continue reading