GIỚI THIỆU LUẬT CẠNH TRANH

Luật cạnh tranh được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3/12/2004. Luật gồm 123 Điều với 6 Chương. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CẠNH TRANH
1. Nhu cầu điều tiết nền kinh tế thị trường bằng một hệ thống văn bản quy pham pháp luật.
Cạnh tranh không diễn ra trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nhưng lại là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị trườngđã xuất hiện một số hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế. Trong khi đó, chúng ta chưa có hệ thống văn bản điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh.

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ
Bước vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đang tiến triển với tốc độ nhảy vọt, trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của toàn thế giới.
Hoạt động trên nền tảng của công nghệ thông tin hiện đại, giao dịch điện tử cũng phát triển nhanh chóng, thu hút được sự quan tâm sâu rộng của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các khối liên kết kinh tế; góp phần quan trọng làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống, phong cách sống, học tập, làm việc của con người; thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng kinh tế, tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp; tạo ra nhiều ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mới như công nghiệp công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính – ngân hàng trực tuyến, dịch vụ thư điện tử, dịch vụ chữa bệnh qua mạng, giáo dục đào tạo từ xa… Giao dịch điện tử cũng thúc đẩy “tin học hóa” hoạt động của các cơ quan nhà nước, giúp cho quá trình ban hành các quyết định được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác; cho phép mọi người dân có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công cũng như giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước.

Continue reading

TRÌNH TỰ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH

1. Người yêu cầu công chứng nộp một (01) bộ hồ sơ yêu cầu công chứng và xuất trình bản chính của giấy tờ đã nộp bản sao để đối chiếu; Phòng công chứng tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu công chứng.
Trường hợp người có bất động sản không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai hoặc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hiện trạng sử dụng đất biến động so với nội dung ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Phòng công chứng phải gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin địa chính (Mẫu số 03/PYCCC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về thửa đất. Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có dấu hiệu đã bị sửa chữa hoặc giả mạo, nếu thấy cần thiết thì Phòng công chứng gửi Phiếu yêu cầu (Mẫu số 03/PYCCC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về thửa đất. Thời gian cung cấp thông tin về thửa đất của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không tính vào thời hạn công chứng nêu tại điểm 4 dưới đây.

Continue reading

THỦ TỤC CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH

1. Hồ sơ hợp lệ yêu cầu công chứng bao gồm:

a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản;

b) Bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu; bản sao giấy tờ chứng minh thẩm quyền của người đại diện (nếu là người đại diện);

c) Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 ; bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định của Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ; bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định của pháp luật về nhà ở (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Trường hợp trong thời hạn theo quy định tại Điều 184 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, nếu người đang sử dụng đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có bản sao một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai; trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính thì phải có xác nhận bằng văn bản (bản sao) của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Continue reading

VẤN ĐỀ HỘ GIA ĐÌNH THEO CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI

Theo quy định tại khoản 2 Điều 146 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất…..

Theo quy định tại khoản 2 Điều 146 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”. Như vậy, trường hợp “trong hộ gia đình có người đi hợp tác lao động ở nước ngoài, không có mặt để thực hiện việc ký tên khi công chứng hợp đồng vay vốn, thế chấp” thì người đó phải có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ban hành kèm theo Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trưòng, theo đó thì hộ gia đình được Nhà nước giao đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp không xác định các thành viên hộ gia đình thì cần có đề nghị gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về các thành viên trong hộ gia đình được Nhà nước giao đất.

SOURCE: http://congchung.moj.gov.vn/Vietnamese/News/16