MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ LỢI ÍCH CỦA DOANH NGHIỆP THU ĐƯỢC TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ

NGUYỄN VÂN ANH

Doanh nghiệp sẽ thu được những lợi ích gì từ công nghệ do mình tự đầu tư nghiên cứu, và sẽ trả cho các tác giả công nghệ như thế nào – Vấn đề tưởng chừng rất đơn giản do mọi nội dung liên quan đã được nhà nước quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao Công nghệ. Nhưng qúa trình triển khai, một số doanh nghiệp chưa biết hoặc hiểu chưa đúng. Trong khi đó, một số cơ quan quản lý nhà nước tại một số địa phương lại rất lúng túng khi giải quyết vấn đề này. Bài viết sau đây của tác giả là một ví dụ.

Diễn biến vấn đề liên quan đến công nghệ:

Một doanh nghiệp T đầu tư nghiên cứu để cho ra đời một giải pháp hữu ích F, giải pháp này được cơ quan nhà nước cấp bằng độc quyền về giải pháp hữu ích (trong văn bằng độc quyền giải pháp hữu ích ghi rõ chủ sở hữu văn bằng độc quyền giải pháp là doanh nghiệp T, tác giả giải pháp là cá nhân thuộc doanh nghiệp T). Nhờ có lợi ích kinh tế và kỹ thuật vượt trội từ giải pháp F, doanh nghiệp T được Ủy ban nhân dân tỉnh B giao chủ đầu tư và tự thực hiện thi công công trình có sử dụng giải pháp F, với tổng mức đầu tư xây dựng là 73 tỷ đồng (100% từ nguồn vốn ngân sách nhà nước) . Sau quá trình triển khai thực hiện 50% khối lượng công việc, doanh nghiệp T đề xuất giải pháp F1, trên nguyên lý giải pháp F, nhưng tiết kiệm nguyên vật vật liệu (cấu tạo mỏng hơn), nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật từ đó giảm giá thành hơn so với giải pháp F. Đồng thời doanh nghiệp T yêu cầu cơ quan nhà nước đưa “giá trị trí tuệ của sáng chế” của giải pháp hữu ích F và F1 (F1 không được cơ quan nhà nước cấp văn bằng độc quyền về sáng chế vì cùng nguyên lý với giải pháp F) vào tổng mức đầu tư xây dựng công trình làm cơ sở thanh toán cho doanh nghiệp T, để doanh nghiệp T thanh toán cho tác giả giải pháp F và F1. Với cách tính và lập luận như sau:

Tính ưu việt so với các giải pháp thông thường

Giá trị làm lợi cho nhà nước do sử dụng giải pháp F và F1

Theo điều 135 các tác giả được hưởng lợi là

So với giải pháp thông thường F làm lợi cho nhà nước

22tỷ đồng

10% X 22 tỷ đồng

= 2,2 tỷ đồng

So với giải pháp thông thường F1 làm lợi cho nhà nước

33 tỷ đồng

10% x 33 tỷ đồng

= 3,3 tỷ đồng

Tổng cộng giá trị làm lợi từ giải pháp F và F1 là

55 tỷ đồng

5,5 tỷ đồng

Tổng số tiền doanh nghiệp T yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh B cho doanh nghiệp là 5,5 tỷ đồng – được gọi là “giá trị tài sản trí tuệ của sáng chế” và là những lợi ích do sử dụng giải pháp F,F1 để doanh nghiệp T trả thù lao cho các tác giả giải pháp F và F1.

Continue reading

XE KHÁCH ĐỨC PHÚC – MỜ NHẠT MỘT THƯƠNG HIỆU

MINH PHƯƠNG

Dịp nghỉ lễ mùng 2-9 vừa qua rơi vào cuối tuần nên hầu hết mọi người đang lao động, học tập và làm việc ở các địa phương đều trở về quê nhà để nghỉ lễ. Đây cũng là dịp các nhà xe được dịp hoạt động hết công suất, xét theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Mặc dù đã trở lại làm việc sau những ngày nghỉ lễ nhưng tôi vẫn cảm thấy không thoải mái về thái độ phục vụ của một số xe khách, đặc biệt là hãng xe Đức Phúc. Tôi xin nói để mọi người lần sau khi có bước lên xe thì phải chú ý, đi xe nào cho thoải mái và cảm thấy yên tâm nhất.

14h chủ nhật, ngày 4/9/2011, tôi cùng anh trai lên xe Đức Phúc, chuyến Quảng Ninh – Lương Yên, Biển kiểm soát tôi không nhớ, chỉ nhớ chắc chắn 4 số cuối là 4810. Thực sự sau khi đi chuyến xe này tôi tự nhủ sẽ không bao giờ đi xe Đức Phúc thêm một lần nào nữa. Sau khi lên xe, người phụ xe có thu của chúng tôi 150 nghìn/người, đây là một cái giá mà nhà xe tự ý đẩy lên cao, ngày thường chỉ có 110 nghìn hoặc 120 nghìn (tùy xe). Các hành khách trên xe tỏ ra không đồng tình với giá vé này và nhiều người có ý kiến. Ngồi cạnh tôi là 1 anh thanh niên, anh này vì lên sau nên không còn ghế, anh phải ngồi ở ghế nhựa, anh lên tiếng: hôm 2-9 tôi về, giá vé cũng chỉ có 110 nghìn thôi, sao hôm nay tăng nhiều thế. Người phụ xe (sinh năm 1990) nói: anh thông cảm, ngày này giá nó thế, ở đâu cũng vậy thôi, anh không đi thì thôi. Anh thanh niên nói: “các anh tự ý thu thêm của khách là không đúng, giờ tôi lên xe các anh lại bảo tôi không đi thì thôi, như thế là không được, nói đúng thì thôi chứ”. Người phụ xe tỏ thái độ lạnh lùng: ‘anh không đi thì thôi, mời anh xuống xe”. Anh thanh niên biết không thể nói lý với phụ xe nên dịu giọng: “ vé tăng thêm bao nhiêu để tôi trả thêm”. Người phụ xe kiên quyết: “không, em không lấy tiền vé của anh, em mời anh xuống xe, rồi gã phụ xe kêu tài xế dừng lại để ‘cho ông này xuống luôn”.

Sau khi đuổi 1 hành khách xuống xe, gã phụ xe tỏ ra rất hống hách, vừa thu tiền của chúng tôi vừa lẩm bẩm chửi anh thanh niên vừa bị đuổi xuống, tôi nghe rất rõ hắn nói: “nói thêm câu nữa, ông đạp cho vào mồm”. Tất cả hành khách trên xe tỏ ra rất bất bình trước thái độ và cách phục vụ của gã phụ xe nhưng vì biết không làm gì được nên mọi người không ai nói thêm câu nào. Như để xoa dịu tâm lý của hành khách, người tài xế nói: các bác thông cảm, các bác đừng nghĩ chúng tôi tự ý tăng giá xe để tư lợi, tiền này cũng là để chi trả bến, bãi và làm luật với công an”. Gã phụ xe nói thêm: “bọn em chẳng bao giờ nhét thêm người làm gì, vừa nói, tay hắn vừa xếp dọc 1 hàng ghế nhựa giữa lối đi để khách lên sau ngồi”. Đi được vài chục km, hắn nhét 1 chị hành khách nữa vào ghế của anh em tôi với lý do để qua chốt của Công an, vậy là 3 người ngồi 2 ghế, tôi mặc dù buồn ngủ nhưng không thể chợp mắt được vì không gian bí bách quá. Nhưng tôi không tỏ ra khó chịu với chị bị dồn ngồi vào ghế tôi vì tôi thấy có lẽ chị là hành khách chịu sự bất công nhất, chị đi từ Hòn Gai đến Hải Dương mà gã phụ xe cũng lấy của chị 150 nghìn, khi chị lên tiếng là mình chỉ đến Hải Dương, chứ không lên Hà Nội, gã phụ xe nói: em biết rồi, của chị 150 nghìn. Trong khi đó trên xe có 2 thanh niên trước là bạn học cùng của gã phụ xe ( 2 thanh niên này gần nhà tôi nên tôi biết rõ họ đều sinh năm 1990) thì gã phụ xe lúc đầu cũng thu của họ 150 nghìn/người nhưng sau khi nghỉ giải lao ở 559 Hải Dương lên, trên xe có khá ít người, trong đó có tôi thì tôi thấy gã dúi trả lại 2 người kia mỗi người 1 tờ 50 nghìn. Như vậy 2 người này cũng lên Hà Nội nhưng chỉ mất có 100 nghìn/ người, thật vô lý hết sức. Suốt mấy tiếng trên xe, tôi cảm thấy không hề thoải mái vì đồng tiền mình bỏ ra không xứng đáng với những gì mình được hưởng. Tôi đem chuyện này kể với cô bạn cùng phòng, bạn tôi tỏ ra ngạc nhiên và nói: đợt này tớ về Thanh Hóa, giá vé xe vẫn giữ nguyên, nhà xe cũng không nhét thêm người, nếu muốn cho thêm 1, 2 người lên xe thì nhà xe sẽ hỏi ý kiến khách là có cho lên nữa hay thôi. Nghe cô bạn kể mà tôi thấy nản quá. Thời gian đầu khi hãng xe mới hoạt động, tôi thấy rất hài lòng và suốt 1 thời gian dài luôn lựa chọn xe Đức Phúc, hành khách không chỉ được xem ti vi, dùng khăn lạnh mà còn được phát cho 1 chai nước, nhưng giờ thì ngược lại, thái độ phục vụ của nhà xe rất tệ. Tôi được biết rất nhiều người đã tẩy chay hãng xe này, khi tôi lên 1 diễn đàn để chia sẻ với mọi người thì thấy rất nhiều bình luận của mọi người. Đa phần mọi người lên án dữ dội thái độ phục vụ của nhân viên nhà xe Đức Phúc. Có bạn để quên đồ trên xe, khi liên lạc với phụ xe thì bị mắng, người phụ xe còn văng tục văng bậy nữa. Nhiều người từ Hà Nội về Quảng Ninh đã chuyển lựa chọn sang đi xe Phúc Xuyên hoặc KumHo Việt Thanh.

Continue reading

XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MẶT BẰNG LÃI SUẤT

PGS.TS TÔ KIM NGỌC – Học viện Ngân hàng

Trong một bài viết trước đây, tác giả đã phân tích tầm quan trọng của đường cong lãi suất thông qua nghiên cứu nội dung thông tin của đường cong lãi suất. Theo đó, đường cong lãi suất cho phép dự báo xu hướng biến động lãi suất thị trường như là kết quả của kỳ vọng thị trường về biến động cung cầu vốn. Đến lượt nó, sự biến động này phản ánh dự báo của các chủ thể tham gia thị trường đối với những ảnh hưởng của các chính sách can thiệp cũng như những phản ứng của các đối tượng chịu tác động. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc xây dựng một đường cong lãi suất ngân hàng (với những giới hạn về thời hạn) hoặc một đường cong lãi suất kết hợp giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất trái phiếu chính phủ, có thể là lựa chọn trước mắt, bởi đặc điểm thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam chưa cho phép cấu trúc một đường cong lãi suất chuẩn theo thông lệ quốc tế.

Tuy vậy, những can thiệp hành chính được sử dụng phổ biến trong thời gian vừa qua, đối với mặt bằng lãi suất bán lẻ đã gây ra những diễn biến phức tạp cho đường cong lãi suất ngân hàng, bóp méo thông tin của đường cong lãi suất khi không tính đầy đủ đến những yếu tố ảnh hưởng tới mặt bằng lãi suất liên quan đến mức độ căng thẳng cung cầu vốn, mức độ lạm phát kỳ vọng cũng như mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Bài viết này nhằm phân tích những khía cạnh ảnh hưởng của các yếu tố trên tới diễn biến của đường cong lãi suất ngân hàng và trao đổi những khuyến nghị chính sách cần thiết trong thời gian tới nhằm đảm bảo nội dung thông tin của đường cong lãi suất ngân hàng.

Bằng quan sát trực quan có thể nhận thấy, trong thực tế, tồn tại sự chênh lệch giữa đường cong lãi suất do các ngân hàng thông báo và đường cong lãi suất mà thị trường chấp nhận trong điều kiện mức lãi suất luôn có xu hướng tăng lên (từ năm 2008 đến nay). Ứng với các thời điểm Hiệp hội Ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kêu gọi đồng thuận và ra quyết định khống chế lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức 11% (tháng 7/2010), 12% (tháng 11/2010), 14% (tháng 12/2010) và cuối cùng là chế tài hóa đồng thuận theo Thông tư số 02/NHNN/2011 ngày 3/3/2011, các ngân hàng thông báo mức lãi suất trong giới hạn của đồng thuận song song với việc áp dụng một mức lãi suất thực chênh lệch khoảng 2 – 3% cho khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, các ngân hàng áp dụng cùng một mức lãi suất cho các kỳ hạn khác nhau, đặc biệt, cho kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống, cá biệt, có thể áp dụng cho cả kỳ hạn 12 tháng làm cho đường cong lãi suất trở nên nằm ngang. Nếu loại bỏ phần bù rủi ro tính lỏng ứng với kỳ hạn thì thực chấtđường cong lãi suất ngân hàng luôn có xu hướng dốc xuống từ năm 2009 đến nay, đặc biệt từ đầu năm 2010 tới nay (Hình 1). Trong thực tế, với những kỳ vọng về lạm phát, mức độ căng thẳng thanh khoản và nhu cầu vốn cho phục hồi và tăng trưởng thì đường cong lãi suất của Việt Nam không thể có xu hướng này trong thời gian qua. Nếu nhìn mức độ dịch chuyển vị trí của đường cong lãi suất từ năm 2009 đến năm 2011 có thể thấy rõ xu hướng này (Bảng 1&2).

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 20/2011/TT-NHNN NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VỆT NAM QUY ĐỊNH VIỆC MUA, BÁN NGOẠI TỆ TIỀN MẶT CỦA CÁ NHÂN VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐƯỢC PHÉP

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH ngày 13 tháng 12 năm 2005;

Căn cứ Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này hướng dẫn thực hiện các quy định về việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối (sau đây gọi là tổ chức tín dụng được phép).

2. Hoạt động đổi ngoại tệ của cá nhân với các Đại lý đổi ngoại tệ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định hiện hành về quy chế Đại lý đổi ngoại tệ.

3. Việc sử dụng thẻ ngân hàng, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác hoặc mua ngoại tệ dưới hình thức chuyển khoản tại tổ chức tín dụng được phép để thanh toán ra nước ngoài của cá nhân cho các mục đích hợp pháp được thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân là công dân Việt Nam được mua ngoại tệ tiền mặt tại tổ chức tín dụng được phép để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bản thân và trẻ em chung hộ chiếu với cha hoặc mẹ, bao gồm tiền ăn, tiền tiêu vặt, tiền đi lại ở nước ngoài liên quan đến các mục đích sau:

a) Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;

b) Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 75/2011/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ VÀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU CỦA NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Luật Quản lý Nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 06 năm 2010;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh

1. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định, gồm:

a) Tín dụng đầu tư gồm: cho vay đầu tư và hỗ trợ sau đầu tư.

b) Tín dụng xuất khẩu bao gồm: cho vay xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu nước ngoài vay).

2. Đối tượng điều chỉnh, bao gồm:

a) Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp có thu có dự án thuộc Danh mục vay vốn tín dụng đầu tư (sau đây gọi là chủ đầu tư);

b) Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước có hợp đồng xuất khẩu hoặc các tổ chức nước ngoài nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam thuộc Danh mục vay vốn tín dụng xuất khẩu;

c) Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu.

Điều 2. Nguyên tắc tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu

1. Cho vay những dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu hàng hóa do Việt Nam sản xuất, có thu hồi vốn trực tiếp, có hiệu quả và khả năng trả nợ.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 22/2011/TT-NHNN NGÀY 30 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 13/2010/TT-NHNN NGÀY 20/5/2010 CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỶ LỆ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là Thông tư số 13), đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13 (sau đây gọi tắt là Thông tư số 19) như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13 và Thông tư số 19

1. Hủy bỏ Điểm đ Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 13 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 19).

2. Sửa đổi Điểm 5.2 Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 13 như sau:

“5.2. Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 20% gồm:

a) Các khoản phải đòi đối với tổ chức tín dụng khác ở trong nước và nước ngoài, bao gồm cả các khoản phải đòi bằng ngoại tệ;

b) Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam đối với ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ đối với Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

c) Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng phát hành; các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tín dụng khác được thành lập tại Việt Nam phát hành;

d) Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam đối với tổ chức tài chính nhà nước; các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tài chính nhà nước phát hành;

Continue reading

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM trong tiến trình hội nhập quốc tế

TS. TRẦN ANH TUẤN – Bộ môn Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập nhìn từ góc độ văn hoá, lịch sử và truyền thống dân tộc

Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp. Xét theo lẽ thường thì luân lý và luật pháp quốc gia được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt đẹp hơn. Các triết lý nhân bản này vốn bắt nguồn từ cuộc sống và là sự phản ánh của đời sống thực tại, cho nên sự thể hiện các triết lý này trong luật pháp không thể tách rời các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử và nền văn hoá của mỗi nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay thì các triết lý căn bản về tố tụng dân sự và sự thể hiện nó trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật chung này. Hội nhập quốc tế về pháp luật tố tụng dân sự không có nghĩa là đồng nhất hoá hay lai tạp luật pháp của các quốc gia với nhau mà là sự tiếp biến và chọn lọc có điều kiện những ưu việt của nền văn minh nhân loại cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Có như vậy thì hiện tượng “có mới, nới cũ”, “sính ngoại” hay “đứt gãy về truyền thống lập pháp”, làm mất đi “hồn cốt dân tộc” mới được khắc phục và loại trừ.

Để có một cái nhìn thấu đáo về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm cẩn thành tựu lập pháp của tiền nhân, trên cơ sở đó mà suy xét về những vấn đề đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Có thể nhận xét rằng những giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập không thể không gắn với lịch sử lập pháp về tố tụng dân sự, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Bởi vì nếu chỉ sao chép nguyên bản các định lệ về tố tụng của nước ngoài theo trào lưu hội nhập mà không xét đến gốc rễ, cội nguồn sâu xa của vấn đề trong mối liên hệ với nền văn hoá và triết lý nhân sinh của mỗi dân tộc thì e rằng các quy định được xây dựng sẽ trở nên xa lạ với đời sống và khó có thể trường tồn. Xét ở góc độ tinh thần tự tôn dân tộc thì việc tiếp nhận một cách cơ học luật pháp nước ngoài còn có thể vô tình làm cho bản sắc văn hoá pháp lý và chủ quyền dân tộc bị lu mờ trước sức xâm lấn và đồng hoá của luật pháp ngoại bang.

Continue reading

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. TRẦN ANH TUẤN – Bộ môn Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập nhìn từ góc độ văn hoá, lịch sử và truyền thống dân tộc

Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp. Xét theo lẽ thường thì luân lý và luật pháp quốc gia được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt đẹp hơn. Các triết lý nhân bản này vốn bắt nguồn từ cuộc sống và là sự phản ánh của đời sống thực tại, cho nên sự thể hiện các triết lý này trong luật pháp không thể tách rời các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử và nền văn hoá của mỗi nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay thì các triết lý căn bản về tố tụng dân sự và sự thể hiện nó trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật chung này. Hội nhập quốc tế về pháp luật tố tụng dân sự không có nghĩa là đồng nhất hoá hay lai tạp luật pháp của các quốc gia với nhau mà là sự tiếp biến và chọn lọc có điều kiện những ưu việt của nền văn minh nhân loại cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Có như vậy thì hiện tượng “có mới, nới cũ”, “sính ngoại” hay “đứt gãy về truyền thống lập pháp”, làm mất đi “hồn cốt dân tộc” mới được khắc phục và loại trừ.

Để có một cái nhìn thấu đáo về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm cẩn thành tựu lập pháp của tiền nhân, trên cơ sở đó mà suy xét về những vấn đề đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Có thể nhận xét rằng những giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập không thể không gắn với lịch sử lập pháp về tố tụng dân sự, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Bởi vì nếu chỉ sao chép nguyên bản các định lệ về tố tụng của nước ngoài theo trào lưu hội nhập mà không xét đến gốc rễ, cội nguồn sâu xa của vấn đề trong mối liên hệ với nền văn hoá và triết lý nhân sinh của mỗi dân tộc thì e rằng các quy định được xây dựng sẽ trở nên xa lạ với đời sống và khó có thể trường tồn. Xét ở góc độ tinh thần tự tôn dân tộc thì việc tiếp nhận một cách cơ học luật pháp nước ngoài còn có thể vô tình làm cho bản sắc văn hoá pháp lý và chủ quyền dân tộc bị lu mờ trước sức xâm lấn và đồng hoá của luật pháp ngoại bang.

Continue reading

CƠ CẤU ĐẠI BIỂU VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam & PHẠM TUẤN ANH – Giảng viên, Học viện Kỹ thuật quân sự

Trong cơ chế quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm về tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền và tự do của công dân. Bên cạnh đó, cơ quan này còn có vai trò quan trọng trong việc giám sát đối với các quyền tư pháp và hành pháp.

Từ việc nhận thức cơ quan lập pháp là một chủ thể hết sức quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức quyền lực nhà nước. Cho đến nay, đã có nhiều học thuyết pháp lý tiến bộ trong lịch sử và các Nhà nước pháp quyền đều mong muốn rằng, quyền lực nhân dân được bảo đảm một cách tốt nhất và công bằng nhất giữa các bộ phận dân chúng trên cùng một lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, các lý thuyết và thực tiễn xây dựng nên cơ quan lập pháp cũng đã được nghiên cứu và tìm hiểu khá công phu. Chẳng hạn, ở một số nước, khi nói về đối trọng quyền lực nhà nước giữa ba nhánh quyền lực, họ cho rằng với tư cách là một chủ thể độc lập có quyền lập hiến và lập pháp, rõ ràng, Nghị viện đã có được những ưu thế của mình. Việc không xây dựng các cơ chế đối trọng ngay trong cơ quan lập pháp cũng tạo ra nguy cơ lạm quyền từ chính cơ quan này. Cụ thể, trong các chính thể nhà nước liên bang khi xây dựng một cơ quan lập pháp, thông thường họ xây dựng theo mô hình lưỡng viện. Mô hình này đảm bảo sự công bằng về tỷ lệ đại biểu trên số lượng cử tri, đồng thời dung hoà sự bình đẳng của mỗi bang với tư cách là một chủ thể của một địa giới hành chính độc lập. Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong nó chính là sự kiềm chế, đối trọng quyền lực của chính cơ quan lập pháp để tránh sự áp đảo của những nơi có số lượng cử tri cao, đại biểu lớn. Nếu chỉ dựa trên tiêu chí là tỷ lệ dân số, các địa phương đông dân có thể liên kết với nhau để thông qua những đạo luật có lợi cho mình và gây bất lợi cho các địa phương có dân số ít[1]. Ví dụ tại Mỹ, tiểu bang có số dân đông nhất là California được bầu tới 53 đại biểu, chiếm trên 12% trên tổng số 435 ghế của Hạ viện. Nếu không xây dựng cơ chế kiềm chế, đối trọng, rõ ràng các đại biểu của bang California chỉ cần thực hiện những liên kết với một số bang khác có số lượng đại biểu đông đạt đến một tỷ lệ nhất định sẽ có thể áp đảo để phủ quyết, biểu quyết các đạo luật có lợi cho bang của mình và các bang tham gia liên kết, đồng thời gây bất lợi cho phần còn lại.

Về thành phần đại biểu để ứng cử vào cơ quan lập pháp, không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia không cho phép những công chức, viên chức đang kiêm nhiệm tại cơ quan nhà nước được phép tham gia ứng cử hoặc được kiêm nhiệm trong Nghị viện. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: “Không một Thượng hoặc Hạ nghị sĩ nào được phép kiêm nhiệm thêm bất cứ công việc nhà nước khác, hay một điều gì tương tự khiến thù lao có thể tăng lên trong lúc đương nhiệm. Cũng như, không có một viên chức nhà nước đương nhiệm nào khác có thể ứng cử nghị sĩ Quốc hội khi còn đang công tác”[2]. Hay tại Pháp: “Chức vụ Bộ trưởng không được kiêm nhiệm với chức vụ dân biểu, hay chức vụ đại diện nghề nghiệp trên lĩnh vực quốc gia, hay các chức vụ công và hoạt động nghề nghiệp”[3].

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 CÓ PHẢI LÀ “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”?

PGS. TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 (LDN 2005). Những người soạn thảo thường gọi đạo luật này là “Luật Doanh nghiệp thống nhất”, vì nó được xây dựng trên cơ sở (nói đúng hơn là với mục tiêu) hợp nhất hai luật: Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật DNNN). LDN 2005 ra đời tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nói cụ thể hơn, LDN 2005 đã xoá bỏ các mô hình tổ chức pháp lý của các DNNN theo quy định của Luật DNNN, để chuyển sang các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005.

1. Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định của LDN 2005, trong thời hạn bốn năm, kể từ ngày 01/7/2006, tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang mô hình công ty. Như vậy, ngày 30/6/2010 là hạn cuối cùng để các DNNN – gồm các tổng công ty và Công ty nhà nước (CTNN) độc lập – phải chuyển đổi thành Công ty cổ phần (CTCP) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH).

Vào thời điểm năm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN. Trong 10 năm vừa qua, chúng ta đã cổ phần hóa được gần 4.000 doanh nghiệp. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp, tính đến trước thời điểm 1/7/2010, Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900 doanh nghiệp thành công ty TNHH một thành viên. Số còn lại khoảng gần 300 doanh nghiệp, hoặc sẽ được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số không đủ điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được theo các hình thức trên thì tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp bổ sung vốn1.

Trong số gần 300 doanh nghiệp nói trên, có khoảng 40 doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa từ trước ngày 01/7/2010 mà đã xác định xong giá trị doanh nghiệp, nhóm này sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần hóa; khoảng 30 doanh nghiệp đến ngày 01/7/2010 tuy chưa xác định xong giá trị doanh nghiệp nhưng dự kiến trong tháng 7 sẽ xác định xong thì trong năm 2010 sẽ hoàn thành thực hiện cổ phần hóa, cũng sẽ không phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên; khoảng 40 doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP để chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhóm này sẽ phải tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được thì tiến hành bán doanh nghiệp hoặc cho phá sản. Còn khoảng 182 doanh nghiệp phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên và về cơ bản đã được chuyển đổi hết trong tháng 7/20102.

Continue reading

LUẬT PHÁ SẢN NHIỀU BẤT CẬP

THÁI NGUYÊN TOÀN

Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15.6.2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.10.2004 và thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, Luật Phá sản đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho việc giải quyết phá sản gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bị can thiệp quá sâu

Công ty Vật tư nông nghiệp (Cty VTNN) Quảng Nam là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ các địa phương trong tỉnh. Đến năm 2005, việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trên 25 tỷ đồng và 258.000 USD. Do đó, TAND tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, định giá tài sản chỉ còn trên 2,8 tỷ đồng. Vụ việc đang tiến hành giải quyết thì UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi 648m2 đất cho Cty VTNN thuê xây dựng trụ sở làm việc, đồng thời ấn định giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất là 875 triệu đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá tài sản hình thành trên đất được mua hoặc thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật.

Trên văn bản là vậy, nhưng thực tế UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi đất của Cty VTNN để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở TNMT sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường từ nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Công ty VTNN để trừ nợ vay 1.138.931.374 đồng và trên 258.000 USD (tương đương 5,272 tỷ đồng tại thời điểm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Hoặc, Cty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng đất xây dựng nhà kho; Văn phòng đại diện. Năm 2007 UBND thành phố Đà Nẵng thu hồi 13.294m2 đất cho thuê để khai thác quỹ đất và phê duyệt giá đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Cty VTNN Quảng Nam gần 1,5 tỷ đồng và giao cho Công ty Cổ phần Trường Xuân và Công ty Quản lý – Khai thác đất Đà Nẵng có nhiệm vụ thanh toán khoản tiền trên cho Cty VTNN Quảng Nam, nhưng đến nay 2 Công ty này vẫn im hơi lặng tiếng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ BỊ NẮM TÓC…

NGUYỄN ĐOÀN

Tòa chấp nhận yêu cầu bồi thường vì có chứng cứ chứng minh. Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà.

TAND tỉnh Vĩnh Long vừa xử phúc thẩm đã chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm số tiền bồi thường của bà Nguyễn Thị Hòa và buộc bà phải bồi thường 6,5 triệu đồng cho phía nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Tuyết trong vụ kiện tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Nhập viện vì bị bứt tóc

Bà Tuyết trình bày giữa gia đình bà và gia đình bà Hòa thường xuyên xảy ra cự cãi, xuất phát từ mâu thuẫn đất đai từ trước. Chiều 8-2, bà cùng chồng ra thăm ruộng nhà nên đi tắt ngang qua phần đất nhà bà Hòa. Vừa thấy hai vợ chồng bà, bà Hòa chửi ngay: “Cấm không cho hai vợ chồng mày đi qua đất nhà tao”. Nghe bà Hòa nói, bà thấy rất tức vì bà Hòa chỉ thuộc hàng con cháu của mình mà lại chửi mình như thế nên bà có chửi lại. Sau đó bà bị bà Hòa xông tới vật xuống đất, đánh đầu, bứt tóc làm bà đau nhức… Bà vội đến trạm y tế xã kiểm tra và lên BV Đa khoa Vĩnh Long điều trị hết chín ngày, qua BV 121 Cần Thơ điều trị hết bốn ngày mới trở về. Nay bà phải khởi kiện đòi bồi thường tiền thuốc men điều trị, viện phí, chụp CT, tàu xe, tiền ăn, mất thu nhập người bệnh và nuôi bệnh là 10 triệu đồng.

Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà. Bà Tuyết là người nắm đầu bà trước nên bà mới nắm tóc, đánh đầu bà lại. Sau được nhiều người chạy lại can ngăn, bà mới được con đưa đến trạm xá…

Bồi thường vì gây thiệt hại sức khỏe

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hòa thừa nhận việc nắm tóc, đánh đầu bà Tuyết nên đồng ý bồi thường nhưng không chấp nhận số tiền như yêu cầu của phía nguyên đơn mà để HĐXX xem xét.

Trong phần tuyên án, TAND huyện Vũng Liêm nhận định lỗi hoàn toàn thuộc về bà Hòa và các khoản bồi thường mà nguyên đơn yêu cầu đều là các chi phí hợp lý, đúng theo pháp luật quy định nên buộc bà Hòa bồi thường 10 triệu đồng. Không đồng ý án sơ thẩm, bà Hòa kháng cáo vì cho rằng mức bồi thường quá cao.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bà Hòa chỉ chấp nhận bồi thường một nửa số tiền mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử vì bà cho rằng bà Tuyết cũng có lỗi khi nắm đầu, bứt tóc bà.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP QUYỀN PHÁT SÓNG PHIM

HOÀNG YẾN

Tòa buộc phía bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn hơn 75 triệu đồng. Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Theo hồ sơ, Công ty Ảnh Vương khởi kiện Công ty Phượng Tùng bởi đã cung cấp bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương cho một số đài truyền hình phát sóng trong khi bộ phim này Ảnh Vương giữ bản quyền…

Đòi hơn 800 triệu đồng

Năm 2008, Ảnh Vương mua quyền phát sóng bộ phim trên từ Công ty San Yang (Đài Loan) với giá 39.000 USD. Công ty đã xin giấy phép, làm thủ tục nhập khẩu phim theo đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi mua, công ty không thể cung cấp cho các đài truyền hình để phát sóng vì phim đã được Phượng Tùng cung cấp trước đó.

Công ty Ảnh Vương cho rằng mình bị xâm phạm quyền phát sóng hợp pháp bộ phim nên khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại toàn bộ tiền mua bản quyền phát sóng và tổn thất về cơ hội kinh doanh là hơn 800 triệu đồng.

Phần mình, Phượng Tùng xác nhận là bán quyền phát sóng bộ phim cho năm đài thu được 345 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty từ chối bồi thường bởi tháng 12-2007 công ty đã mua quyền phát sóng bộ phim từ Fafilm Việt Nam. Đồng thời do Fafilm Việt Nam hợp tác nhập khẩu phim từ nước ngoài nên mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm bản quyền thuộc Fafilm Việt Nam. Do đó, Fafilm Việt Nam mới là bị đơn của vụ án chứ không phải Phượng Tùng.

Phía Fafilm Việt Nam thừa nhận mình cũng đã mua bản quyền bộ phim và bán lại cho Phượng Tùng với giá 135 triệu đồng… Nay Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng, hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Cả hai cùng có lỗi

Xử sơ thẩm hồi đầu năm, TAND TP.HCM nhận định qua những chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy Công ty Ảnh Vương có quyền sử dụng bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương, có bản quyền phát sóng… Công ty này cho rằng Công ty Phượng Tùng không có bản quyền hợp pháp mà lại bán quyền phát sóng cho các đài truyền hình là xâm phạm quyền và lợi ích của mình là có cơ sở xem xét. Công ty Phượng Tùng ký hợp đồng bán phim cho các đài dù là vô tình cũng đã xâm phạm quyền của chủ sở hữu quyền tác giả mà Công ty Ảnh Vương có được.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 17/2011/TT-NHNN NGÀY 18 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam (VND) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng dưới hình thức có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố) là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) đối với các tổ chức tín dụng trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.

2. Cầm cố giấy tờ có giá là việc Ngân hàng Nhà nước nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá hoặc yêu cầu tổ chức tín dụng chuyển khoản giấy tờ có giá vào tài khoản của Ngân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một hay nhiều khoản vay cầm cố của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước.

3. Lãi suất cho vay cầm cố là lãi suất tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi thực hiện cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng và được Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.

4. Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là thời gian tính từ ngày Ngân hàng Nhà nước giải ngân khoản vay cầm cố đối với tổ chức tín dụng đến ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá đó.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 70/2011/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC Ở CÔNG TY, DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ, TỔ HỢP TÁC, TRANG TRẠI, HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THUÊ MƯỚN LAO ĐỘNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

Nghị định này quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động, gồm:

1. Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).

2. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

3. Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

Các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và cá nhân quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này gọi chung là doanh nghiệp.

Điều 2. Mức lương tối thiểu vùng

Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01 tháng 10 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 như sau:

1. Mức 2.000.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 71/2011/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em về các hành vi vi phạm quyền trẻ em; trách nhiệm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;

2. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng được hưởng các quyền cơ bản của trẻ em

1. Trẻ em là công dân Việt Nam được hưởng các quyền, thực hiện bổn phận theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trẻ em là công dân Việt Nam trong thời gian sinh sống ở nước ngoài được hưởng các quyền và thực hiện bổn phận theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước nơi trẻ em đang sinh sống và điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên.

3. Trẻ em là người nước ngoài trong thời gian cư trú tại Việt Nam được hưởng các quyền và thực hiện các bổn phận theo quy định của các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên.

Continue reading

NHỮNG CẢI CÁCH GÓP PHẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LÝ VỀ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT NHƯ

1- Đặt vấn đề

Hiện nay các nhà đầu tư khai thác bất động sản thưởng gặp vướng mắc trong quá trình giao đất, cho thuê đất, kinh doanh bất động sản… với nhiều nguyên nhân khác nhau: có thể là do những quy định chưa phù hợp, hay do sự chống chéo của những Điều Luật, hoặc là do sự hạn chế về trình độ nghiệp vụ của người thihành công vụ khi vận dụng các Điều Luật, cũng không loại trừ những hành vi nhũng nhiễu của cán bộ thực thi… Cần sớm có những cải cách để xây dựng hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia thị trường bất động sản.

Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả trình bày những vấn đề cơ bản đã gây ra vướng mắc trong quá trình giao đất, cho thuê đất đối với các chủ đầu tư, thông qua tiền sử dụng đất và giải phóng mặt bằng; trình bày những chồng chéo của Luật đất đai, Luật kinh doanh bất động sản như sau:

2- NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT VIỆC VỀ BẤT ĐỘNG SẢN

2.1. Những bất cập của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành

2.1.1. Quy định đơn giá tính tiền sử dụng đất, phương pháp tính tiền sử dụng đất

Từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay đơn giá đất tính tiền sử dụng đất, phương pháp tính tiền sử đất đã qua nhiều sửa đổi theo các quy định:

· Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

· Nghị Định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất

· Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 11/12/2004 hướng dẫn thi hành nghị định số 198/2000/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất.

· Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về Sửa đổi bổi sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

· Thông tư 70/2006/TT-BTC Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung thông tư 117/2004/TT-BTC

· Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 22/7/2007 sửa đổi Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

· Nghị định 44/2008/NĐ-CP ngày 09/04/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đấ t

· Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư

· Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi bổ sung 1 số điều Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất

· Thông tư 93/2011/TT-BTC ngày 29/06/2011 sửa đổi bổ sung thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 11/12/2004 của bộ tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 198/2000/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất.

Continue reading

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT GIỮA TÊN MIỀN VÀ THƯƠNG HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LS. LÊ QUANG VINH – Công ty luật BROSS & PARTNERS

Tên miền có giá không kém một thương hiệu tốt.

Trên thế giới cho đến năm 2004 đã ghi nhận được một số giao dịch chào bán tên miền với giá đắt nhất như sau:
Tên miền Business.com giá 7.5 triệu USD (tháng 12/1999)
Tên miền AsSeenOnTv.com giá 5.1 triệu USD (tháng 1/2000)
Tên miền Altavista.com có giá 3.3 triệu USD (tháng 8/1998)
Tên miền CreditCards.com có giá 2.75 triệu USD (tháng 7/2004)

Tên miền là gi?

Tên miền xuất phát từ thuật ngữ tiếng Anh “Domain Names” (thường được viết tắt là DN) là tên được sử dụng để định danh các điạ chỉ trên Internet. Internet gồm một mạng lưới hàng nghìn các mạng máy tính độc lập có chứa hàng triệu máy chủ cung cấp thông tin. Trường hợp muốn lấy thông tin hoặc trao đổi thông tin dưới dạng email, chia sẻ hình ảnh hoặc tác phẩm âm nhạc từ một máy chủ cụ thể, người sử dụng phải biết chính xác địa chỉ internet của máy chủ đó thì mới có thể thực hiện được công việc này. Địa chỉ của máy chủ được biểu thị bằng một dãy số duy nhất gọi là giao thức Protocol (địa chỉ IP). Ví dụ địa chỉ IP của nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm khổng lồ GOOGLE INC là 209.85.129.18. Tuy nhiên, việc biểu thị địa chỉ IP bằng dãy số khiến người sử dụng không thể nhớ được, vì vậy, người ta đã nghĩ ra cách biến địa chỉ IP đó thành một tên miền có thể nhớ được. Chẳng hạn như trường hợp GOOGLE.COM, người sử dụng chỉ cần nhớ tên miền GOOGLE.COM mà không cần phải nhớ địa chỉ 209.85.129.18 vì trên mỗi máy chủ đã cài đặt sẵn một công cụ chuyển đối tự động từ GOOGLE.COM thành dãy số ứng với địa chỉ IP 209.85.129.18.

Các loại tên miền và cấu trúc của nó

Tên miền bao gồm tên miền quốc tế dùng chung (generic top level domain) viết tắt là gTLD (ví dụ: .COM) và tên miền quốc gia dùng chung (country code Top Level Domain) viết tắt là ccTLD (ví dụ: .VN của Việt Nam, .SG của Singapore, .JP của Nhật Bản, .CN của Trung Quốc).
Dưới tên miền cấp cao nhất dùng chung là các tên miền định danh một địa chỉ IP cụ thể. Ví dụ:
Tên miền cấp 2: bross.vn
Tên miền cấp 3: trungnguyen.com.vn
Tên miền cấp 4: trade.garco10.com.vn
Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động của chủ thể đăng ký, các tên miền dùng chung được phân loại theo lĩnh vực. Ví dụ: .COM/.BIZ dùng cho các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại; .EDU dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; .GOV.VN dành cho các cơ quan, tổ chức nhà nước ở trung ương và địa phương; .NET.VN dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thiết lập và cung cấp các dịch vụ trên mạng.

Tại sao phải đăng ký tên miền?

Theo nguyên tắc chung trên thế giới hiện nay tên miền sẽ được đăng ký nếu thoả mãn 2 điều kiện: duy nhất và ai nộp đơn đăng ký trước thì được cấp trước. Do vậy, để sở hữu tên miền, bạn phải tiến hành đăng ký tên miền bạn dự định sử dụng với cơ quan quản lý về tên miền càng sớm càng tốt.

Continue reading

LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LÊ VĂN TỨ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 70, quy định mức lương tối thiểu mới theo vùng để áp dụng thống nhất cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo nghị định này, kể từ ngày 1-10-2011, lương tối thiểu vùng I sẽ tăng lên thành 2 triệu đồng (xem chi tiết ở bảng 1).

Hai cách hiểu về mức lương tối thiểu

Vậy là năm nay có hai lần nâng lương tối thiểu và lần này sớm ba tháng so với các năm trước. So với mức hiện hành, lương tối thiểu tăng khá cao. Tính riêng khu vực doanh nghiệp trong nước, mức lương tối thiểu vùng I, II và III, tăng 47-48%, còn vùng IV tăng tới 68%. Giới doanh nghiệp cho rằng khó kham nổi, nhưng cơ quan lao động và công đoàn lại cho rằng lương tối thiểu như thế vẫn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động. Sự đánh giá khác nhau như vậy là do cách hiểu về vai trò lương tối thiểu còn khác nhau.

Lương tối thiểu hiện đang được hiểu theo hai nghĩa: 1) Là mức lương sàn, “mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định” (điều 55 Bộ luật Lao động). 2) Là mức lương cơ bản, “bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính mức lương các loại lao động khác” (điều 56 Bộ luật Lao động).
Cả hai đều là nghĩa pháp lý vì đã được ghi trong luật, nhưng nội dung lại không hoàn toàn giống nhau, do vậy khó thống nhất ý kiến.

Continue reading