THÔNG TƯ SỐ 124/2011/TT-BTC NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN VỀ LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ

Căn cứ Pháp lệnh phí và lệ phí;

Căn cứ Luật Đất đai 2003 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ Luật Quản lý thuế và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/06/2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện về lệ phí trước bạ như sau:

Chương I

PHẠM VI ÁP DỤNG

Điều 1. Đối tượng chịu lệ phí trước bạ

1. Nhà, đất:

a) Nhà, gồm: nhà ở; nhà làm việc; nhà sử dụng cho các mục đích khác.

b) Đất, gồm: các loại đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 13 Luật Đất đai năm 2003 thuộc quyền quản lý sử dụng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (không phân biệt đất đã xây dựng công trình hay chưa xây dựng công trình).

2. Súng săn, súng thể thao.

3. Tàu thuỷ, kể cả sà lan, ca nô, tàu kéo, tàu đẩy.

4. Thuyền , kể cả du thuyền.

5. Tàu bay.

6. Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (sau đây gọi chung là xe máy).

7. Ôtô (kể cả ô tô điện), rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 77/2011/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 29/2009/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ MUA, BÁN TÀU BIỂN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2009/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ về đăng ký và mua, bán tàu biển với nội dung sau đây:

1. Bổ sung khoản 8 Điều 3 như sau:

“8. Hồ sơ hợp lệ là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật”.

2. Sửa đổi Điều 11 như sau:

“Điều 11. Thủ tục đăng ký tàu biển Việt Nam

1. Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam.

a) Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam được cấp cho tàu biển có đủ các điều kiện và đã được đăng ký vào sổ đăng ký tàu biển quốc gia theo trình tự thủ tục quy định tại Nghị định này.

b) Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam có giá trị sử dụng kể từ ngày được cấp đến ngày xóa đăng ký tàu biển đó.

c) Giấy chứng nhận đăng ký được cấp 01 (một) bản chính.

2. Đối tượng được cấp: chủ tàu có tàu biển đã được đăng ký.

3. Hồ sơ đăng ký tàu biển Việt Nam bao gồm:

a) Tờ khai đăng ký tàu biển theo mẫu quy định tại Phụ lục I của Nghị định này.

b) Bản chính giấy chứng nhận xóa đăng ký hoặc tạm ngừng đăng ký đối với tàu biển đã qua sử dụng hoặc biên bản nghiệm thu bàn giao tàu đối với tàu biển được đóng mới.

c) Hợp đồng mua, bán tàu biển hoặc hợp đồng đóng mới tàu biển hoặc các bằng chứng khác có giá trị pháp lý tương đương về quyền sở hữu đối với tàu biển (bản chính).

d) Giấy chứng nhận dung tích tàu biển (bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu).

Continue reading

SỨC SỐNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP, ĐỨC, HÀ LAN

BÙI THANH HẰNG & ĐỖ GIANG NAM – Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ở Việt Nam, tính từ năm 1995 đến nay đã có hai Bộ luật Dân sự – BLDS (BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005) và hiện chúng ta cũng có kế hoạch xem xét xây dựng BLDS thứ ba trong vài năm tới. Như vậy, tuổi thọ trung bình của BLDS nước ta là 10 năm. Một trong những lý do khách quan dẫn đến tuổi thọ khiêm tốn của BLDS Việt Nam là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, một lý do khiến BLDS Việt Nam chưa có sức sống cao và phải liên tục sửa đổi là nó chưa đạt được chuẩn mực cần có. Nghĩa là BLDS chưa có một cấu trúc hợp lý, logic cho hệ thống quy phạm dân sự; còn lúng túng trong việc lựa chọn ngôn từ diễn đạt và chưa nhìn nhận đúng vai trò của Tòa án trong việc giải thích pháp luật. Bài viết đề cập dưới góc nhìn so sánh với BLDS Pháp, Đức, Hà Lan nhằm góp phần hoàn thiện BLDS với tính cách là một văn bản thống nhất, làm nền tảng cho cả hệ thống luật tư.

1. Cấu trúc cần có của Bộ luật Dân sự Việt Nam

Bàn về BLDS Pháp, nhiều học giả coi đó là “bản Hiến pháp” của dân luật hay ví nó như một đài kỷ niệm1. Sự so sánh này một mặt cho thấy vị trí vô cùng quan trọng nhưng rất gần gũi, quen thuộc của BLDS Pháp đối với mỗi người dân trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, nó cũng khẳng định tính ổn định, khả năng vượt thời gian của BLDS Pháp2 và tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của BLDS Pháp đối với pháp luật dân sự thế giới3.

Việc ví von BLDS như một đài kỷ niệm làm chúng ta không khỏi liên tưởng đến mối liên hệ giữa BLDS với quy phạm tạo nên nó như là mối liên hệ giữa một công trình kiến trúc kỳ vĩ được tạo nên bởi những viên gạch bình dị nhờ sức sáng tạo của những kiến trúc sư tài ba được thể hiện thông qua việc xây dựng kết cấu, sự sắp đặt tinh tế, khéo léo và sự lựa chọn những viên gạch cho công trình đó. Nói cách khác, điều trước hết cần phải làm khi xây dựng một văn bản pháp luật – trong đó có BLDS – là phải lựa chọn được cấu trúc thích hợp, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Với tầm quan trọng như thế, cấu trúc của một bộ luật nhất thiết phải được xây dựng đầu tiên để giới hạn phạm vi những vấn đề được đưa vào BLDS và những vấn đề được đặt trong những đạo luật riêng (luật chuyên ngành), đồng thời xác định tương quan giữa BLDS và các luật chuyên ngành, tránh việc đưa vào Bộ luật những nội dung pháp lý không thuộc bản chất của dân sự4.

Là một văn bản nền tảng cho cả hệ thống luật tư, việc xây dựng BLDS phải đảm bảo thống nhất về tính rõ ràng, tính xác định và tính có thể dự báo trước được5. Tuy nhiên, BLDS cũng phải hàm chứa trong nó sự mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội do đặc tính quan hệ dân sự – là những quan hệ luôn biến động cùng sự vận hành, phát triển của xã hội dân sự và nền kinh tế thị trường.

Continue reading

VẤN ĐỀ NHẬP, TÁCH CÁC YÊU CẦU TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ VÀ CƠ CHẾ CHUYỂN HOÁ GIỮA VIỆC DÂN SỰ, VỤ ÁN DÂN SỰ

TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Kể từ sau năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự nước nhà, trước những yêu cầu của công cuộc cải cách vì một nền tố tụng dân chủ, vì lợi ích chính đáng của nhân dân, một thủ tục tố tụng đặc biệt đã được xây dựng trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004(BLTTDS) với tên gọi thủ tục giải quyết việc dân sự. Thủ tục này được xây dựng nhằm áp dụng giải quyết đối với các vụ việc không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên đương sự. Có thể nói, đây là một thủ tục giản đơn hơn so với thủ tục giải quyết các vụ việc mà các bên đương sự có tranh chấp về quyền, lợi ích vì thời hạn giải quyết được rút ngắn, Toà án không cần mở phiên toà xét xử với một Hội đồng xét xử gồm nhiều thành viên, theo một thủ tục phức tạp mà chỉ cần một Thẩm phán “thăng đường” dưới hình thức một phiên họp đơn giản.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn làm rõ những bất cập khi vận dụng một số quy định cụ thể của thủ tục này trong thực tiễn và tìm kiếm giải pháp khắc phục để thủ tục giải quyết việc dân sự sẽ thực sự là phương tiện hữu hiệu của người dân trên con đường đi tìm công lý như mong mỏi của các nhà lập pháp. Với logic này, ba vấn đề cơ bản sẽ được tiếp cận và xử lý, đó là việc xác định phạm vi những loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự; vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự; cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự.

1. Các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án

Hiện nay, các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS không có những phân định cụ thể về những loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất của các loại việc dân sự có thể phân chia các việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự thành hai loại cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Các việc dân sự mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận để làm cơ sở cho việc thi hành án sau này. Theo quy định của BLTTDS thì các việc dân sự này bao gồm yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Như vậy, từ một số việc dân sự cụ thể đã được quy định trong BLTTDS, chúng ta đã có thể khái quát và xác định được bản chất chung của chúng. Dưới góc độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng trên cơ sở xác định được bản chất của loại việc này, về lâu dài các cơ quan có thẩm quyền có thể mở rộng, quy định bổ sung những loại việc dân sự khác có cùng bản chất được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Theo chúng tôi, những việc dân sự cần được bổ sung vào loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự bao gồm yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi do người con nuôi đã thành niên và cha, mẹ nuôi thoả thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi; các bên cùng thoả thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật và thoả thuận được về vấn đề phân chia tài sản, việc nuôi con; yêu cầu Toà án công nhận các thoả thuận về quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động .v.v.

Continue reading