BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

THS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam (BLTTDS), bao gồm 28 điều luật (từ Điều 99 tới Điều 126) là cơ sở pháp lý quan trọng cho Toà án trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Để hướng dẫn thực hiện các quy định của BLTTDS về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, ngày 27-4-2005 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII của BLTTDS về vấn đề này. Tuy nhiên, việc vận dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn bổ sung.

1. Về tính khẩn cấp của các biện pháp cần áp dụng

Điểm đột phá và tiến bộ của BLTTDS hiện nay là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là theo khoản 2 Điều 99 BLTTDS thì “Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án đó”.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS thì “ Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Toà án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết ”.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 91/NQ-CP NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2011 PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 8 NĂM 2011

Trong các ngày 30, 31 tháng 8 và 01 tháng 9 năm 2011, Chính phủ họp phiên thường kỳ đầu tiên của nhiệm kỳ 2011 – 2016, thảo luận và quyết nghị những vấn đề sau:

1. Các báo cáo: Tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2011, tình hình kinh tế – xã hội năm 2011 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012; tình hình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư Nhà nước; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015; đánh giá thực hiện ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước năm 2012; đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 5 năm 2006 – 2010 và kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 5 năm 2011 – 2015; kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010, tình hình triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011 và đề xuất danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 – 2015; tình hình thực hiện Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2011, Chương trình công tác của Chính phủ tháng 8 năm 2011; công tác cải cách hành chính tháng 8 năm 2011; công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh phòng, chống tham nhũng tháng 8 năm 2011 do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng Thanh tra Chính phủ trình.

a) Về tình hình kinh tế – xã hội 8 tháng và cả năm 2011:

Chính phủ thống nhất nhận định: Tình hình kinh tế – xã hội 8 tháng và cả năm 2011 tiếp tục chuyển biến tích cực, nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội dự báo đạt và vượt kế hoạch. Lạm phát được kiềm chế và giảm dần theo từng tháng, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 là 0,93%, thấp nhất kể từ đầu năm; kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với chỉ tiêu kế hoạch, nhập siêu giảm mạnh; thu ngân sách đạt khá, bội chi ngân sách giảm; thị trường ngoại hối từng bước ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng. Tăng trưởng GDP năm 2011 dự kiến đạt khoảng 6%; sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng cao; tuy chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển ổn định, được mùa, được giá; dịch vụ tiếp tục phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng mạnh. An sinh xã hội được quan tâm, các chính sách xã hội tiếp tục được triển khai tích cực, góp phần giảm bớt khó khăn và từng bước cải thiện đời sống nhân dân; các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao có tiến bộ; công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo được chú trọng. Cải cách hành chính và đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác đối ngoại đạt được nhiều kết quả quan trọng. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quốc phòng được tăng cường, chủ quyền quốc gia được đặc biệt coi trọng. Những kết quả trên khẳng định các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59/2011/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và đang phát huy tác dụng tích cực.

Continue reading

MỘT SỐ TỒN TẠI CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG HIỆN NAY – NHỮNG KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

TS. NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG – Ngân hàng nhà nước & THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT ÁNH – Viện Kinh tế Tài chính – Học viện Tài chính

Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng đã tạo cơ hội cho phát triển kinh tế trong những năm vừa qua, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của quá trình hồi phục hay suy giảm của kinh tế thế giới. Từ năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng có những diễn biến phức tạp; sau những khó khăn về kinh tế năm 2008, 2009, bước sang năm 2010 nền kinh tế có dấu hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổi lên, đòi hỏi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu giải quyết như: tỷ lệ lạm phát gia tăng; lãi suất cao; tiền Việt Nam mất giá so với đô la Mỹ; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao; hiệu quả của đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có xu hướng chậm lại…

Trước bối cảnh sức ép tăng lạm phát từ nhiều phía và rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn xã hội, nền kinh tế và đặc biệt là các doanh nghiệp, Chính phủ đã xácđịnh kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 (Nghị quyết 11) về các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2011. Bám sát Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, chặt chẽ và thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, phù hợp với các điều kiện vĩ mô; đồng thời tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất… Kết quả bước đầu là tích cực và đã được khẳng định, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm lại và có chiều hướng giảm dần, tổng sản phẩm trong nước 06 tháng đầu năm 2011 tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên, một số tác động thiếu tích cực của chính sách cũng bộc lộ và nền kinh tế, nhất là các doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn, nghiêm trọng… này nhằm phân tích nguyên nhân các mặt hạn chế của cơ chế, chính sách về hoạt động tiền tệ ngân hàng trong mối quan hệ với các chính sách kinh tế khác và kiến nghị một số giải pháp của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Từ năm 2007 đến nay, nhìn chung tình hình kinh tế Việt Nam không được ổn định, gặp nhiều khó khăn (xem bảng 1, biểu đồ 1), trong đó lạm phát từ năm 2004 đến nay luôn ở mức cao.

           Bảng 1: Một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế Việt Nam

Biểu đồ 1: Diễn biến nhập siêu và bội chi Ngân sách Nhà nước, 2003-6T/2011

Continue reading