MỘT SỐ VIỆC CẦN LÀM TRƯỚC KHI TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

ĐINH TUẤN MINH

Do việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là bước đi đầu tiên trong quá trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế, mọi sai lầm trong quá trình này có thể sẽ làm cản bước các kế hoạch tái cấu trúc các lĩnh vực khác sau này.

Dựa trên những phát biểu dồn dập trong những ngày gần đây của các vị lãnh đạo hàng đầu Chính phủ, như Thủ tướng và phó Thủ tướng, thì việc tiến hành quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam có lẽ sẽ được tiến hành trong nay mai.

Tương tự như đã diễn ra ở một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines và Indonesia sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997 – 1998, việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam sẽ bao gồm các hoạt động: giải thể một số ngân hàng yếu kém, tiến hành sáp nhập một số ngân hàng yếu hơn vào ngân hàng khoẻ mạnh, và củng cố lại hoạt động của các ngân hàng còn lại trong hệ thống để đảm bảo rằng sau khi tái cơ cấu, hệ thống ngân hàng sẽ hoạt động an toàn hơn và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, khác với việc xử lý sự phá sản hoặc hoạt động yếu kém của một ngân hàng yếu kém trong thời kỳ bình thường, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đòi hỏi một kế hoạch đồng bộ và dài hạn, bao gồm trình tự xử lý cũng như xây dựng các kịch bản dự phòng cho các tình huống xấu nhất, để sao cho trong quá trình tái cấu trúc hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng của hệ thống không bị ảnh hưởng.

Kinh nghiệm tái cấu trúc ngành ngân hàng của các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Thái Lan… sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 – 1998 cho thấy để việc tài cấu trúc thành công, Chính phủ và ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần chuẩn bị những việc sau.

Khôi phục niềm tin

Hoạt động ngân hàng vận hành trơn tru được chủ yếu là nhờ dựa trên chữ tín. Vì thế, trước việc người dân và các doanh nghiệp đang thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng, bước đầu tiên là khôi phục lại niềm tin của họ.

Continue reading

VỤ THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT VÀ BÀI HỌC VỀ BẢO VỆ TÀI SẢN TRÍ TUỆ CHO CÁC DANH NGHIỆP VIỆT NAM

Công ty Guangzhou Buon Ma Thuot Coffee Co., Ltd (Trung Quốc) đã được Cơ quan sở hữu trí tuệ (SHTT) của nước này cấp bảo hộ độc quyền đối với 2 nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột. Đó là nhãn hiệu 3 chữ Hán kèm dòng chữ "BUON MA THUOT", số đăng ký 7611987 được cấp ngày 14.11.2010; nhãn hiệu logo kèm dòng chữ "BUON MA THUOT COFFEE 1896", số đăng ký 7970830, được cấp ngày 14.6.2011. Việc đánh mất tài sản trí tuệ ở nước ngoài sẽ gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc xuất khẩu cà phê Buôn Ma Thuột của Việt Nam.

Vụ việc này đã được phía Việt Nam bình luận dưới nhiều góc độ khác nhau, Civillawinfor xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của ông Trần Văn Hải (Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Chủ nhiệm khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) trên Tạp chí Hoạt động khoa học xung quanh vấn đề này.

Vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng nói rất nhiều đến việc Chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho sản phẩm cà phê nhân (được Cục SHTT Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ từ 2005) bị một công ty của Trung Quốc đăng ký bảo hộ độc quyền. Là một giảng viên đại học, đồng thời là người có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực SHTT, ông bình luận gì về vấn đề này?

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở rộng thị trường ra nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ của mình là hướng đi sống còn của các doanh nghiệp. Trong quá trình này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều doanh nghiệp thất bại, trong những thất bại này có việc doanh nghiệp đã tự đánh mất tài sản trí tuệ của mình tại thị trường nước ngoài.

Tài sản trí tuệ mà tôi đề cập ở đây được giới hạn bởi nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý – hai trong nhiều đối tượng được bảo hộ quyền SHTT.

Theo quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN), việc bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý tuân theo nguyên tắc độc lập, có thể diễn đạt nguyên tắc này bằng ví dụ: Quốc gia Q1 bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q2 cũng phải bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S, ngược lại khi quốc gia Q2 từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q3 cũng phải từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S.

Continue reading

HỘ GIA ĐÌNH VÀ TRÁCH NHIỆM TRẢ NỢ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG

THS. ĐÀO HOÀNG THẮNG – Trưởng ban Pháp chế Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

1. Tổng quan về hộ gia đình

Trong giai đoạn hiện nay, hộ gia đình (HGĐ) đang là đối tượng đầu tư rất lớn của các ngân hàng thương mại (NHTM). Số lượng giao dịch tài chính, tín dụng giữa các HGĐ và ngân hàng không ngừng gia tăng.

Điều 106 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định: “HGĐ mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.

Theo từ điển luật học, thì HGĐ là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”1. Như vậy, HGĐ ở nông thôn bao gồm những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và hôn nhân, sinh sống bằng nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, là đơn vị sản xuất cơ bản, ổn định, là điều kiện quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp. Do đó, HGĐ có đặc trưng riêng biệt, không giống như những đơn vị kinh tế khác, cũng vì thế mà HGĐ là đơn vị kinh tế xã hội khá đặc biệt. Gần đây, để phát triển kinh tế nông thôn, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách lớn nhằm nông nghiệp, nông thôn phát triển2.

Trên khía cạnh pháp lý, HGĐ có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.

Khái niệm tài sản chung của HGĐ được hiểu theo quy định tại Điều 108 BLDS. Tài sản chung chính là khối tài sản do các thành viên của cả hộ tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung, hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung. Tài sản chung này bao gồm: quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất (gồm cả đất ở và đất canh tác), rừng, rừng trồng của hộ khi được nhà nước giao đất canh tác, trồng rừng cho hộ và các tài sản chung được tạo thành theo các căn cứ được quy định tại Điều 170 BLDS.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 90/2011/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Pháp lệnh Ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

1. Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này bao gồm:

a) Công ty cổ phần;

b) Công ty trách nhiệm hữu hạn.

3. Việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định này, phải thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan. Trường hợp quy định của pháp luật chuyên ngành khác với quy định tại Nghị định này, doanh nghiệp phát hành trái phiếu thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Trái phiếu doanh nghiệp” là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu.

2. “Trái phiếu chuyển đổi” là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu.

3. “Trái phiếu có bảo đảm” là loại trái phiếu được bảo đả

Continue reading

CUỘC CHƠI WTO: CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ CỦA J.E.STIGLITZ

TRẦN HẢI HẠC – Đại học Paris XIII

Sau một quá trình đàm phán kéo dài 11 năm, Việt Nam đã trở nên thành viên Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation [WTO]) từ đầu năm nay (Năm 2007 – Civillawinfor). Vấn đề bây giờ của Việt Nam, theo dư luận phổ biến hiện nay ở trong nước, là thực thi các cam kết đã thoả thuận, tôn trọng các luật chơi mà ta đã công nhận: thoả thuận này được xem là cân đối, các luật chơi của WTO là bình đẳng. Theo cách đặt vấn đề này, các chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề còn lại là “đưa đất nước bay lên từ đường băng WTO”.[1] Đường băng này bằng phẳng, vSSSSSSSSSà Việt Nam có cất cánh hay không là do năng lực của bản thân, trước tiến là năng lực cải cách toàn diện: nó tuỳ thuộc vào “những yếu tố nội tại” mà “tư cách thành viên WTO không tạo nên”.[2] Theo phát biểu của một chuyên gia: “Thắng, thua trước hết tại mình chứ không phải tại WTO, vì cho đến nay chưa có nước nào vì vào WTO mà khánh tận, phá sản và cũng chưa nước thành viên nào nạp đơn xin rút lui khỏi tổ chức này”.[3]

Cũng có một cách khác để tiếp cận vấn đề, đi từ mặt trái của WTO và cũng là bộ mặt thật của nó, mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không nêu lên hay tránh không muốn nếu ra, chí ít trong thời kỳ đàm phán vào WTO, vì nhiều lý do: có thể do yêu cầu đấu tranh tư tưởng với quan điểm chống gia nhập WTO trong nội bộ của đảng; cũng có thể do yêu cầu tranh thủ ngoại giao những cường quốc tư bản chủ nghĩa có tiếng nói quyết định trong việc kết nạp. Bộ mặt này của WTO được nhà kinh tế Mỹ Joseph Stiglitz vạch ra thẳng thừng trong hai tác phẩm mới đây của ông: Fair trade for all. How trade can promote development, viết cùng với Andrew Charlton [2005], và Making globalization work [2006].[4]

Trong kinh tế học hiện đại, J. Stiglitz được biết đến như là người thầy của kinh tế học vi mô mới (mà đặc tính là từ bỏ giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo), và đóng góp của ông cho thuyết về thông tin đã được thưởng giải Nobel kinh tế học (cùng với George Akerlof và Michael Spence) năm 2001. Stiglitz thuộc trường phái Keynes mới, chủ trương xác lập cơ sở vi mô của những mất cân bằng vĩ mô (như thất nghiệp không tự nguyện của Keynes): đối phó với tính bất trắc và thông tin phi cân xứng, các tác nhân kinh tế có lối ứng xử “cứng nhắc”, họ chỉ tham gia các thị trường (lao động, tín dụng, đất đai) có những chuẩn tắc mà họ thương lượng và được nhà nước thể chế hoá. Nói về bàn tay vô hình điều tiết thị trường của Adam Smith, ông cho rằng: “Đúng là vô hình, bởi vì nó không có. Thị trường không hề tự điều tiết”.[5]

Ngoài trường đại học, Stiglitz được tín nhiệm làm chủ tịch của Hội đồng các tư vấn kinh tế (Council of Economic Advisers) của tổng thống Clinton các năm 1993-1997, rồi làm kinh tế gia trưởng và phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank [WB]) các năm 1997-2000. Ở cương vị này, Stiglitz không những công kích quan điểm chính thống của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund [IMF]), ông còn gây cuộc tranh cãi trong nội bộ WB giữa phe “tân cổ diển” và phe “xét lại” mà ông là đại biểu, và cuối cùng ông đã phải từ chức ra đi. Tác phẩm Globalization and its discontents [2002] tố cáo “sự cuồng tín của chủ nghĩa tự do” đang chế ngự các định chế tài chính quốc tế: “WB, IMF, WTO đầy dẫy những chuyên gia giáo điều và tự phụ, những bonsevic của thị trường, đã chồng chất bao nhiều điều phi lý và tổn hại ở các nước nghèo. Không có gì phải ngạc nhiên nếu sự nổi giận đang dâng lên từ các nước này”.[6]

Continue reading

KHI KHOA HỌC TRỞ THÀNH CÔNG CỤ TUYÊN TRUYỀN

DAVID CYRANOSKI

Va chạm trên biển và xung đột lãnh thổ thường không liên quan nhiều đến khoa học. Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu và các tạp chí khoa học đang bị vướng vào những mâu thuẫn lãnh thổ kéo dài bấy lâu trên Biển Đông. 

Đã xảy ra những cuộc đụng độ liên quan tới các tàu phục vụ nghiên cứu, trong khi người ta nói rằng chính phủ Trung Quốc sử dụng các công bố khoa học vào mục đích tuyên truyền cho tuyên bố chủ quyền của mình.

Tham vọng tăng cường khai thác biển của Trung Quốc không còn là điều gì bí mật. Kế hoạch năm năm lần thứ 12, từ 2011 tới 2015, được thông qua hồi tháng 3 vừa rồi, đã khẳng định tầm quan trọng của kinh tế biển. Hồi tháng 5, Báo cáo Phát triển Đại dương của Trung Quốc đã ước tính rằng các ngành kinh tế biển, bao gồm khoan dầu và khí ngoài khơi, đánh bắt cá, và đóng tàu, tới năm 2020 sẽ đem lại 5,3 nghìn tỷ NDT (830 tỷ USD). Tháng trước, Zhang Jixian, Viện trưởng Viện Thám hiểm và vẽ bản đồ Trung Quốc tuyên bố rằng quốc gia này sẽ tăng cường nỗ lực vẽ bản đồ cho cái gọi là “ba triệu kilomet vuông chủ quyền mặt nước”, một diện tích lớn hơn nhiều so với quan điểm các nước láng giềng liên quan. Dự án vẽ bản đồ này sẽ được hỗ trợ bởi vệ tinh vẽ bản đồ đầu tiên của Trung Quốc, dự kiến sẽ phóng vào tháng 12, và tàu ngầm Jiaolong, dự kiến sẽ đưa người xuống độ sâu đại dương 7.000 m (1) vào năm tới. Nếu cuộc lặn này thành công, Trung Quốc sẽ giành được từ tay đối thủ đáng gờm Nhật Bản kỷ lục thám hiểm đại dương ở mức sâu nhất.

Những xung đột liên quan tới biển Đông đã kéo dài vài thập kỷ, nhưng những báo cáo thăm dò trữ lượng dầu – ước tính có thể thu được từ 1,6 tỷ tới 21,3 tỷ thùng – và các nguồn tài nguyên khoáng sản càng làm tăng mối quan tâm quyền lợi từ các bên.

Các cuộc thám hiểm thường gắn liền với công tác nghiên cứu, và do vậy các nhà khoa học đột nhiên bị lôi vào ngay giữa tâm điểm xung đột. Hồi tháng 6, Việt Nam khẳng định tàu cá của Trung Quốc đã xung đột với tàu thám hiểm địa chấn của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Và ngày 25/09, Nhật Bản đã yêu cầu một tàu nghiên cứu của Trung Quốc rời khỏi khu vực đặc quyền kinh tế mà Nhật Bản khẳng định chủ quyền xung quanh quần đảo Senkaku.

Continue reading

TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

TS. MAI THU HIỀN VÀ NGUYỄN THỊ NHƯ NGUYỆT – Đại học Ngoại thương Hà Nội

Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia. Từ những nước nghèo nhất ở châu Phi đến những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Campuchia hay những cường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật, EU thì đều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của chính phủ nhằm các mục đích khác nhau. Nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lý tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất cứ thời điểm nào và để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Trong khi đó, nợ công của Việt Nam hiện nay đang ở mức 54,3% GDP với tốc độ tăng trưởng nợ hàng năm trên 15%. Với tốc độ này, nợ công của Việt Nam sẽ vượt 100% GDP, một con số đáng báo động đối với một nền kinh tế nhỏ đang phát triển và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ. Do đó, bài viết này sẽ tập trung phân tích rõ hơn tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam để từ đó đưa ra dự báo về tình hình nợ công của Việt Nam cũng như một số đề xuất về chính sách nhằm quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam.

1. Tình hình nợ công ở Việt Nam

Việt Nam mở cửa kinh tế được 25 năm và đã  đạt được những bước phát triển vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD năm 2010 (Biểu đồ 4). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt
Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa.

Quy mô nợ công

Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công  của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu đồ 1). Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần
đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%). Nợ công đạt trên 100% GDP là một con số không nhỏ đối với một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam.

Continue reading

KHÁI NIỆM ĐẠI DIỆN VÀ PHÂN LOẠI ĐẠI DIỆN TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

THS. HỒ NGỌC HIỂN – Tổng Công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam

Pháp luật về đại diện thương mại là một lĩnh vực pháp luật quan trọng trong hệ thống pháp luật thương mại. Các nước có nền kinh tế thị trường đều quan tâm xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật về đại diện thương mại, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự ổn định và phát triển của nghề nghiệp đại diện, thông qua đó thúc đẩy thương mại phát triển. Ở Việt Nam, đại diện trong lĩnh vực thương mại là một vấn đề pháp lý tương đối mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết này bước đầu nghiên cứu và đề xuất kiến nghị một số vấn đề cơ bản về khái niệm đại diện và phân loại đại diện trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm đại diện theo pháp luật Việt Nam

Về định nghĩa, Điều 139 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) quy định: đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Theo Luật Thương mại 2005, đại diện cho thương nhân là một loại trung gian thương mại, bên cạnh các hoạt động môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại (Điều 3 Luật Thương mại 2005). Theo Điều 141 Luật Thương mại 2005, đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

Luật Thương mại 2005 cũng xác định trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của BLDS.

Từ những quy định trên, chúng ta có một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã có sự tiếp nhận và có sự hài hòa nhất định với quan niệm chung của các nước về đại diện và đại diện thương mại. Đại diện trước hết là hành vi của một chủ thể (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác (gọi là người được đại diện) để xác lập, thực hiện một giao dịch cụ thể. Đại diện cho thương nhân là hành vi đại diện nhằm mục đích lợi nhuận (vì là hành vi của thương nhân đại diện cho một thương nhân khác và để hưởng thù lao đại diện).

Continue reading

LỄ GIÁO NHO GIA PHONG KIẾN VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. PHAN MẠNH TOÀN – Đại học Hàng Hải

Trong bài viết này, tác giả đã trình bày quan niệm của Nho giáo về gia đình và phân tích lễ giáo đạo Nho trong việc xây dựng gia đình trong thời kỳ phong kiến, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế của lễ giáo Nho gia trong việc hình thành và phát triển các quan hệ gia đình. Để xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay theo những nguyên tắc, định hướng mới thì việc phát huy những giá trị hợp lý, tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của lễ giáo Nho gia là rất cần thiết.

Có những tôn giáo coi quan hệ gia đình là sợi dây trói buộc con người vào tội lỗi, lôi kéo con người đến sự phiền luỵ khổ đau, con người mới sinh ra đã mang tội do tổ tông để lại… Vì thế, con người phải tách khỏi gia đình, lìa bỏ người thân mới có thể kiếm tìm được cuộc đời hạnh phúc. Nho giáo thì trái lại, nó khẳng định “con người không thể sống chung với loài cầm thú” mà sống không tách rời nhau, quan hệ với nhau trong những cộng đồng từ “nhà” đến “nước” và “thiên hạ”, trong đó “nhà” là gốc.

Trong lễ giáo đạo Nho, “nhà” có một sức mạnh và khả năng khống chế rất lớn đối với mỗi con người, nó chế định những sợi dây ràng buộc con người một cách chặt chẽ. Coi nhà là gốc của nước và thiên hạ, muốn trị được nước trước hết phải giữ yên được nhà nên Nho giáo luôn cố gắng tìm cách xây dựng gia đình, gia tộc thành những “cự thất”, những thế lực mạnh mẽ. Mỗi người từ lúc ra đời đến khi tạ thế không thể lìa bỏ gia đình, hơn nữa phải luôn tìm cách nâng cao vị thế gia đình. Gia đình mong đợi ở họ điều đó và người đời cũng ứng xử với họ tuỳ theo địa vị gia đình anh ta.

Với mục đích củng cố gia đình, gia tộc nên vấn đề trật tự kỷ cương chặt chẽ, chính danh định phận, gia pháp nghiêm ngặt… là những yếu tố không thể thiếu trong nền nếp gia phong được lễ giáo đạo Nho nhấn mạnh và đề cao. Lễ giáo đạo Nho qui định một cách chặt chẽ các mối quan hệ giữa người với người, trong đó những quan hệ cơ bản nhất là tam cương và ngũ luân, còn các quan hệ khác chỉ là thứ yếu.(*)Trong những cương – luân đó thì các quan hệ trong phạm vi gia đình là chủ yếu. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ Nho giáo nên giai cấp phong kiến Việt Nam trong lịch sử cũng chủ trương xây dựng gia đình, củng cố các mối quan hệ gia đình theo những khuôn mẫu của lễ giáo đạo Nho. Vì thế, dấu ấn và ảnh hưởng của lễ giáo đạo Nho ở nước ta hiện nay được biểu hiện khá rõ trong phạm vi gia đình. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, để xây dựng các mối quan hệ gia đình trên những nguyên tắc mới thì ảnh hưởng của lễ giáo Nho gia phong kiến là điều không thể không tính đến.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH: QUẢNG CÁO “CHÊ” SẢN PHẨM ĐỐI PHƯƠNG, XỬ SAO?

QUỲNH NHƯ

Cục Quản lý cạnh tranh cho rằng vụ khiếu nại của Acecook với quảng cáo của Masan thuộc thẩm quyền Bộ TT&TT.

Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam khiếu nại đến Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) để Cục xử lý quảng cáo mì “Tiến Vua bò cải chua” của Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan. Tuy nhận định quảng cáo “có dấu hiệu” của hành vi “quảng cáo nói xấu, so sánh” nhưng Cục này đã trả lại hồ sơ.

Không vi phạm cạnh tranh?

Khi khiếu nại đến Cục Quản lý cạnh tranh, Acecook cho rằng quảng cáo mì gói “Tiến Vua bò cải chua” của Masan vi phạm quy định về cạnh tranh. Cụ thể, đoạn quảng cáo đã đưa hình ảnh hai vắt mì, một vắt màu vàng nhạt là mì Tiến Vua bò cải chua của Masan, một vắt màu vàng sậm của doanh nghiệp (DN) khác. Sau đó cho nước vào tô mì để so sánh và đưa ra thông điệp nếu cho nước vào vắt mì mà “nước chuyển sang vàng đục chứng tỏ sợi mì có nhuộm màu”. Phần đầu đoạn quảng cáo có nhắc đến cụm từ “phẩm màu độc hại” nên càng gây ấn tượng xấu cho người tiêu dùng về mì màu vàng sậm.

Luật sư Nguyễn Thanh Long, Văn phòng luật sư Phạm và Liên danh – đại diện cho Acecook trong vụ việc này, cho rằng quảng cáo trên của Masan mang tính so sánh và đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng. Điều 45 Luật Cạnh tranh cấm DN thực hiện các hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Trong đó, khoản 1 Điều 45 cấm “so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của DN khác”. Khoản 3 Điều 45 thì cấm “đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng”.

Nghị định 120/2005 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh có quy định phạt tiền từ 15 đến 25 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo trên. Tuy nhiên, quảng cáo này thực hiện trên nhiều tỉnh, thành và sản phẩm lại là thực phẩm nên mức phạt sẽ nằm ở mức 30 đến 50 triệu đồng. Ngoài ra, DN vi phạm có thể bị buộc cải chính công khai và bị tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Thế nhưng, vừa qua Cục Quản lý cạnh tranh đã ra thông báo trả lại hồ sơ khiếu nại.

Continue reading

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở NƯỚC NGOÀI

TS. VŨ TRỌNG BÌNH – Phó viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp – nông thôn

TS. DENIS SAUTIER – Viện Nghiên cứu CIRAD-Pháp

Nhãn mác và chỉ dẫn địa lý khác biệt ở chỗ một bên là tài sản doanh nghiệp, một bên là tài sản của cộng đồng. Trước vấn đề tên địa lý Phú Quốc và Buôn Ma Thuột bị các công ty nước ngoài đăng ký sở hữu trí tuệ, chúng ta cần bình tĩnh cân nhắc các khía cạnh của bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

Nhãn mác và chỉ dẫn địa lý

Thông thường có hai cách để nâng cao giá trị gia tăng các chuỗi giá trị sản phẩm nông sản. Cách thứ nhất là tăng cường chế biến, với các sản phẩm phổ thông, là đóng gói để xuất khẩu sản phẩm cuối cùng đến tận người tiêu dùng trong và ngoài nước với số lượng lớn. Với loại chuỗi thương mại này, nhãn mác thương mại (trade mark) của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để xây dựng thị trường.

Một doanh nghiệp nông sản, thực phẩm chỉ thành công về xây dựng thương hiệu qua nhãn mác có bảo hộ của mình, khi có sản phẩm phân phối đến tận người tiêu dùng. Còn nếu chỉ dừng ở khâu cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến quốc tế như phần lớn các công ty chè, cà phê, gạo, thủy sản… của Việt Nam hiện nay, thì việc xây dựng thương hiệu có nhãn mác bảo hộ đến người tiêu dùng là rất khó khăn, không khả thi.

Cách hai, chỉ dẫn địa lý (GIS), được định nghĩa trong điều 21 của WTO về thỏa thuận TRIPs (thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ) năm 1995, có thể tóm tắt là sự kết hợp giữa chất lượng, sự nổi tiếng, những đặc tính đặc trưng của sản phẩm gắn với vùng địa lý nào đó. Châu Âu đi đầu trong xây dựng các chuỗi ngành hàng riêng biệt có bảo hộ chỉ dẫn địa lý, với sản phẩm đóng gói cho người tiêu dùng, có nhãn mác ghi tên địa phương sản xuất. Nhiều nước đã xây dựng logo quốc gia về chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn địa lý.

Để sản phẩm được sử dụng chỉ dẫn địa lý trên nhãn mác, nhà sản xuất phải tuân thủ điều kiện nhất định, đảm bảo sản xuất ra sản phẩm đúng với yêu cầu bảo hộ, nhất là tính đặc trưng, nguồn gốc bản địa. Tên chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, trở thành tài sản chung của cộng đồng, vùng, thậm chí quốc gia, là di sản văn hóa nếu sản phẩm đó gắn với các truyền thống văn hóa. Do đó, tất cả mọi nhà sản xuất, tuân thủ điều kiện sản xuất và phân phối của yêu cầu chỉ dẫn địa lý, đều có quyền đề nghị được sử dụng tên chỉ dẫn địa lý trên sản phẩm của mình. Đây là điểm khác biệt giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: một bên là tài sản doanh nghiệp, một bên là tài sản của cộng đồng.

Continue reading

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT, ANH LÀ AI?

PHẠM THỊ MINH TRANG – Công ty Luật Phuoc & Partners

Luật Doanh nghiệp nên chăng cho phép doanh nghiệp có hơn một người đại diện theo pháp luật, miễn là các thành viên hoặc cổ đông của doanh nghiệp đồng ý như vậy và đăng ký cho cơ quan cấp phép.

Trong quá trình làm việc với công ty nước ngoài, rất nhiều luật sư gặp tình huống vui khi nhận được những hồ sơ được ký bởi luật sư của công ty mà đáng lẽ cần phải được ký bởi người đại diện theo pháp luật. Lý do được giải thích rất đơn giản là luật sư là người đại diện cho công ty về những vấn đề pháp lý, chứ trong công ty của họ, không có chức danh người đại diện theo pháp luật.

Tình huống trên khiến chúng ta có dịp xem lại một cách nghiêm túc vị trí pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong pháp luật Việt Nam.

Luật Việt Nam quy định thế nào?

Người đại diện theo pháp luật trước tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự, theo đó đây là người đứng đầu pháp nhân (là các doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tư nhân không được coi là pháp nhân) và được ghi trong điều lệ hoặc quyết định thành lập(1). Và với tư cách người đại diện theo pháp luật, họ có quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của doanh nghiệp(2).

Luật Doanh nghiệp không có quy định nào cụ thể hơn về người đại diện theo pháp luật mà chỉ xác định ai là người đại diện trong doanh nghiệp đối với từng loại hình doanh nghiệp (chủ tịch hội đồng thành viên và giám đốc đối với công ty TNHH, chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc đối với công ty cổ phần…).  Có thể nói, Luật Doanh nghiệp còn nợ doanh nghiệp một quy định rõ ràng về người đại diện theo pháp luật.

Trong thực tế, có quy ước chung là người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp về cả đối nội lẫn đối ngoại. Người đại diện theo pháp luật được quyền ký kết hợp đồng, thỏa thuận mà không cần ủy quyền hoặc chấp thuận nào – nói cách khác, quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là vô hạn. Trong nội bộ, người đại diện theo pháp luật quyết định các vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp.

Việc dồn toàn bộ quyền đại diện cho doanh nghiệp vào tay người đại diện theo pháp luật dẫn đến kết quả gì?

Rủi ro với bên ngoài

Thói quen cho rằng quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là không hạn chế khiến doanh nghiệp Việt Nam ít quan tâm đến việc xác định thẩm quyền của người ký hợp đồng phía đối tác. Thói quen này rất nhiều khi là một sai lầm và tăng rủi ro cho các bên khi giao kết hợp đồng.

Continue reading

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG THƯỜNG NIÊN CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH, BỘ CÔNG THƯƠNG NĂM 2010

CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Thực thi pháp luật về phòng vệ thương mại

Phòng vệ thương mại là một những công cụ quan trọng được các quốc gia sử dụng nhằm bảo hộ sản xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu. Pháp luật về phòng vệ thương mại gồm ba biện pháp là chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Năm 2010, lần đầu tiên, 01 vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo yêu cầu của doanh nghiệp đã được đã được Cục Quản lý cạnh tranh điều tra, phối hợp với các luật sư, hiệp hội, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan.

Cục đã tổ chức điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam, cụ thể:

– Hoàn thiện báo cáo cuối cùng về điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam; thông báo cho các bên liên quan và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hoàn tất hồ sơ vụ việc và kết thúc điều tra. Trên cơ sở báo cáo điều tra cuối cùng của Cục Quản lý cạnh tranh, ngày 23 tháng 02 năm 2010, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 890/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau. Theo Quyết định này, Việt Nam sẽ không áp dụng biện pháp tự vệ đối với mặt hàng kính nổi, có mã HS 7005 29 90 00 và 7005 21 90 00, nhập khẩu vào Việt Nam.

– Trực tiếp tham vấn, hướng dẫn các hiệp hội, doanh nghiệp về việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước. Tuyên truyền phổ biến các quy định về pháp luật phòng vệ thương mại của Việt Nam đến cộng đồng doanh nghiệp.

XEM TOÀN VĂN BÁO CÁO TẠI ĐÂY

Quan điển và định hướng phát triển xuất nhập khẩu nhằm PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011- 2020

PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Thường trực Bộ Công Thương & TS. HỒ TRUNG THANH – Viện Nghiên cứu Thương mại

I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2001-2010

Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước. Xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo.

Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm. Quy mô xuất khẩu tăng từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 72,19 tỷ năm 2010, tăng hơn 4,7 lần. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên GDP tăng từ 46% năm 2001 lên 70% năm 2010. Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng. Nếu như năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010 đã có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ.

Trong 10 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác là tiêu dùng, đầu tư và nhập khẩu[1]. Tăng trưởng xuất khẩu cao và tương đối ổn định trong nhiều năm đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô như hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ. Chính sách khuyến khích xuất khẩu trong giai đoạn vừa qua cũng đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái. Khả năng đáp ứng các quy định về môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm của nhiều nhóm hàng được nâng cao[2]. Các phương pháp sản xuất thân thiện môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Phát triển xuất khẩu đã góp phần tạo thêm việc làm[3], tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn. Phát triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trình độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Continue reading

QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 2011- 2020

PGS. TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Thường trực Bộ Công Thương

TS. HỒ TRUNG THANH – Viện Nghiên cứu Thương mại

I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2001-2010

Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước. Xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo.

Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 ở mức cao, đạt 19%/năm. Quy mô xuất khẩu tăng từ 15 tỷ USD năm 2001 lên 72,19 tỷ năm 2010, tăng hơn 4,7 lần. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên GDP tăng từ 46% năm 2001 lên 70% năm 2010. Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và đa dạng. Nếu như năm 2004, Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD thì đến hết năm 2010 đã có 18 nhóm hàng, trong đó có 10 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và 8 nhóm hàng trên 2 tỷ USD. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 220 nước và vùng lãnh thổ.

Trong 10 năm qua, xuất khẩu đã đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế bên cạnh các yếu tố khác là tiêu dùng, đầu tư và nhập khẩu[1]. Tăng trưởng xuất khẩu cao và tương đối ổn định trong nhiều năm đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô như hạn chế nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ. Chính sách khuyến khích xuất khẩu trong giai đoạn vừa qua cũng đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái. Khả năng đáp ứng các quy định về môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm của nhiều nhóm hàng được nâng cao[2]. Các phương pháp sản xuất thân thiện môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Phát triển xuất khẩu đã góp phần tạo thêm việc làm[3], tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với khu vực nông thôn. Phát triển xuất khẩu cũng đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trình độ lao động, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BỨC XÚC SAU PHÁN QUYẾT CỦA HAI CẤP TÒA

imageNGUYỄN ĐÌNH BÍCH

Sau hơn 20 năm, thủ tục mua bán nhà để xuất cảnh giữa bà Lê Thị Liên đang định cư nước ngòai với Cty Du lịch phục vụ dầu khí (nay là Cty TNHH MTV du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam – OSC Việt Nam) bị lật ngược bằng một vụ kiện mà phán quyết của hai cấp toà đã khiến dư luận vô cùng bức xúc.

Mua bán hay cho mượn nhà?

Căn nhà 143 Nguyễn Văn Trỗi (Nhà 143, trước là Nam Kỳ Khởi Nghĩa ), phường 11, quận Phú Nhuận, thuộc sở hữu của vợ chồng ông Châu Văn Được và bà Lê Thị Liên. Năm 1984, ông Được đi biểu diễn nghệ thuật rồi ở lại Tây Đức. Bà Liên xin bán nhà để xuất cảnh theo chồng định cư ở nước ngoài và OSC Việt Nam đã mua nhà 143, thanh toán đủ tiền cho bà Liên. Đến ngày xuất cảnh, thủ tục mua bán vẫn chưa xong nên bà Liên ủy quyền cho anh trai là ông Lê Mộng Ngọc tiếp tục thực hiện và chờ UBND TPHCM giải quyết.

Theo Biên bản bàn giao ngày 2/7/1986 giữa Cty quản lý nhà và bộ phận mua bán nhà xuất cảnh của Sở Nhà đất (Sở NĐ) TP HCM, hồ sơ thể hiện bà Liên đã bán nhà 143 cho OSC qua Văn tự bán nhà ngày 20/11/1985 có chữ ký của bà Liên và xác nhận của UBND phường 11, quận Phú Nhuận, các Biên lai thu tiền, công văn của OSC đề nghị được mua nhà…

OSC thanh toán tiền mua nhà có biên nhận tay do bà Liên ký nhận theo từng đợt trả tiền, với nội dung ghi rõ việc mua bán nhà, giao nhận tiền đợt thứ mấy và kết quả giám định chữ ký là của bà Liên. Tại Công văn số 19 ngày 19/3/1988, OSC giải trình với Sở NĐ về giá mua nhà như sau: Gíá thỏa thuận giữa cty và chủ nhà là 660.000 đồng, OSC đã thanh toán nhiều đợt với tổng số 729.688 đồng cho bà Liên ký nhận (có chứng từ), trong đó có cả tiền OSC trả thêm cho chủ nhà do thị trường biến động.

Continue reading

ĐÒI LẠI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CẦN ĐẾN ĐÂU?

ĐÔNG QUANG

Giấy tờ có giá là gì?. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có phải là giấy tờ có giá? Khi bị người khác chiếm giữ các loại giấy tờ này thì có quyền yêu cầu Tòa giải quyết?

Thời gian qua, nhiều ý kiến thắc mắc “Giấy tờ có giá” là gì?. Các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do người khác đang chiếm giữ (như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN), Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy đăng ký xe máy, xe ô tô…) có phải là yêu cầu trả lại “Giấy tờ có giá” không?. Nếu yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa có thụ lý?. Về vấn đề này, TANDTC vừa có văn bản số 141/TANDTC-KHXX hướng dẫn khá cụ thể.

Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở không phải là giấy tờ có giá

Tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công ụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005; tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009; các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Chứng khoán; trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

THS. VIÊN THẾ GIANG – Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, là cơ sở khẳng định vị trí của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có thể mang lại những hậu quả xấu đối với nền kinh tế, nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng. Cạnh tranh làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, gây ra hiện tượng độc quyền, làm phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo; cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật… Do vậy, hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước và tư duy cạnh tranh từ đối đầu sang hợp tác cùng có lợi là xu hướng tất yếu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững.

Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang nhiều rủi ro, những hậu quả từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh phát sinh từ hoạt động ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến luồng chu chuyển vốn trong nền kinh tế mà nó còn làm ảnh hưởng đến mục tiêu an toàn hệ thống. Nhằm từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh an toàn, lành mạnh, Nhà nước nghiêm cấm hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể tham gia thị trường. Tuy nhiên, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, về bản chất là hành vi cạnh tranh không đẹp và thường nhằm vào các đối thủ cạnh tranh cụ thể. Do đó, việc phát hiện, xử lý một cách chính xác hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể tham gia thị trường cần phải được dựa trên hành lang pháp lý cụ thể, thống nhất. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi một số vấn đề pháp lý liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng.

2. BẢN CHẤT CỦA HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

Mặc dù còn nhiều quan niệm, cách diễn đạt khác nhau về cạnh tranh1, song, điểm chung của các quan niệm về cạnh tranh là: i) có ít nhất từ hai chủ thể trở lên; ii) các chủ thể này có chung mục đích; iii) các chủ thể đó cùng cố gắng giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh; iv) được diễn ra trong môi trường pháp lý bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi trường pháp lý đó, cạnh tranh có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực về xã hội. Kết quả của quá trình cạnh tranh là, nếu doanh nghiệp nào đáp ứng được yêu cầu trên thị trường sẽ tồn tại và phát triển, nếu doanh nghiệp nào không đáp ứng được yêu cầu đó sẽ bị loại ra khỏi thị trường, và để không bị loại “ra khỏi cuộc chơi”, các đối thủ cạnh tranh buộc phải tìm mọi cách, kể cả những biện pháp không lành mạnh, không phù hợp với đạo đức kinh doanh, đạo đức của thị trường để giành phần thắng về phía mình.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐÓNG GÓP VÀ TÁC ĐỘNG

THS. LÊ VĂN HINH – Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1- Đặt vấn đề

Sau hơn một thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam cùng với các thị trường có liên quan đã tạo nên một thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam phát triển khá đa dạng. Hiện tại, TTCK đã được coi là một cấu phần quan trọng của TTTC Việt Nam (NHNN, 2007) [1] . Qua 11 năm phát triển, TTCK Việt Nam đã từng trải qua một thời kỳ bùng nổ ấn tượng vào năm 2006 (Vũ Đình Ánh, 2007)[2] và sau đó lại rơi vào tình trạng suy giảm từ năm 2009 đến nay: giá chứng khoán giảm liên tục xuống mức rất thấp so với mệnh giá, nhiều công ty chứng khoán thua lỗ…  Trong điều kiện khó khăn hiện nay, dường như xã hội đang hoài nghi về đóng góp tích cực của TTCK đối với xã hội. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung đánh giá về đóng góp và tác động của TTCK đến TTTC hay đến nền kinh tế.

2- TTCK Việt Nam: đóng góp và tác động

2.1. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu lý thuyết chia TTTC gồm thị trường tiền tệ (gồm thị trường vốn ngắn hạn, thị trường hối đoái và thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn) và thị trường vốn (trong đó gồm TTCK, TT vốn tín dụng) (Võ Trí Thành và cộng sự, 2004 [3]; Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2010[4]). Như vậy, TTCK là một cấu phần quan trọng của TTTC và là phương tiện để mọi thành phần kinh tế – xã hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. TTCK có thể coi là kênh dẫn vốn quan trọng chuyển vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư; tăng cường tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh; góp phần tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng quản trị trong nền kinh tế (vĩ mô và vi mô) (Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2004). Rõ ràng, TTCK có vai trò quan trọng đối với sự phát triển TTTC nói chung. Thực tế thế giới cho thấy, quá trình hình thành và phát triển, TTCK đều có thể có những đóng góp hay có tác động tiêu cực đến TTTC hay đến nền kinh tế nói chung. Sự phát triển của TTCK Việt Nam, trải qua 11 năm chắc chắn cũng không ngoài quy luật phát triển đó.

2.2. Đóng góp và tác động của TTCK Việt Nam đối với TTTC và nền kinh tế

Các con số qua 11 năm phát triển của TTCK Việt Nam là căn cứ, cơ sở và cũng là dấu hiệu để chúng ta ta đánh giá đóng góp (bao gồm cả tác động tích cực) và chỉ ra những tác động tiêu cực của nó đến TTTC hay rộng hơn là đến nền kinh tế Việt Nam.

Continue reading