VỤ THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT VÀ BÀI HỌC VỀ BẢO VỆ TÀI SẢN TRÍ TUỆ CHO CÁC DANH NGHIỆP VIỆT NAM

Công ty Guangzhou Buon Ma Thuot Coffee Co., Ltd (Trung Quốc) đã được Cơ quan sở hữu trí tuệ (SHTT) của nước này cấp bảo hộ độc quyền đối với 2 nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột. Đó là nhãn hiệu 3 chữ Hán kèm dòng chữ "BUON MA THUOT", số đăng ký 7611987 được cấp ngày 14.11.2010; nhãn hiệu logo kèm dòng chữ "BUON MA THUOT COFFEE 1896", số đăng ký 7970830, được cấp ngày 14.6.2011. Việc đánh mất tài sản trí tuệ ở nước ngoài sẽ gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc xuất khẩu cà phê Buôn Ma Thuột của Việt Nam.

Vụ việc này đã được phía Việt Nam bình luận dưới nhiều góc độ khác nhau, Civillawinfor xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của ông Trần Văn Hải (Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Chủ nhiệm khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) trên Tạp chí Hoạt động khoa học xung quanh vấn đề này.

Vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng nói rất nhiều đến việc Chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho sản phẩm cà phê nhân (được Cục SHTT Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ từ 2005) bị một công ty của Trung Quốc đăng ký bảo hộ độc quyền. Là một giảng viên đại học, đồng thời là người có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực SHTT, ông bình luận gì về vấn đề này?

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở rộng thị trường ra nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ của mình là hướng đi sống còn của các doanh nghiệp. Trong quá trình này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều doanh nghiệp thất bại, trong những thất bại này có việc doanh nghiệp đã tự đánh mất tài sản trí tuệ của mình tại thị trường nước ngoài.

Tài sản trí tuệ mà tôi đề cập ở đây được giới hạn bởi nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý – hai trong nhiều đối tượng được bảo hộ quyền SHTT.

Theo quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN), việc bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý tuân theo nguyên tắc độc lập, có thể diễn đạt nguyên tắc này bằng ví dụ: Quốc gia Q1 bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q2 cũng phải bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S, ngược lại khi quốc gia Q2 từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q3 cũng phải từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S.

Continue reading