BÀN VỀ CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN VÀ PHI SẢN XUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN ĐẮC HƯNG

Trong thời gian gần đây, quy định về giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại (NHTM), khái niệm bất động sản trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng và giải pháp tín dụng ngân hàng để cứu thị trường bất động sản… được đề cập đến khá nhiều trên một số diễn đàn, thu hút sự quan tâm không nhỏ của dư luận. Vậy, những nội dung trên cần được hiểu ra sao và liệu tín dụng ngân hàng có giúp phục hồi được thị trường bất động động sản hay không? Bài viết xin nêu một số suy nghĩ về những khía cạnh như đã đề cập.

Trước hết, cần nhận thức bất động sản là gì và phi sản xuất được hiểu ra sao? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Bất động sản” là: “Tài sản không chuyển rời đi được, như đất cát, nhà cửa,…”. Cũng theo cuốn từ điển này, từ “phi” có nghĩa là “trái với, không phải”. Trên cơ sở đó, nếu lắp ghép với từ sản xuất thì chúng ta có “phi sản xuất” có nghĩa là: không phải sản xuất, trái với sản xuất, hay không phải lĩnh vực sản xuất.

Một sự liên hệ khác, đó là Bộ luật Dân sự. Tại Chương 2, Điều 181, của Bộ luật này có quy định, “Bất động sản” đó là “Tài sản không di, dời được bao gồm:

1- Đất đai.

2- Nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó.

3- Các tài sản khác gắn liền với đất đai.

4- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”

Như vậy, tại Bộ luật Dân sự, danh từ “Bất động sản” được giải thích cụ thể hơn, chi tiết hơn.

Một số nghiên cứu khác cho rằng, việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã. Theo đó, bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.

Trong tiếng Anh, cụm từ Real Estate được dịch là bất động sản hay tài sản bất động. Trong tiếng Pháp, từ Immobilié cũng được dịch là Bất động sản. Tại Trung Quốc, người ta sử dụng thuật ngữ địa sản, tức là tài sản gắn liền với đất đai…

Qua nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau có thể thấy, hầu hết các nước đều coi Bất động sản là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất. Nội dung này được thể hiện tại Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp; tại Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; tại Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga và tại Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…Song trong Luật của CHLB Nga thì lại quy định cụ thể hơn, bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự.

Continue reading

BÀN VỀ CĂN CỨ MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP BỊ CẤM THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

PHẠM HOÀI HUẤN

Đặt vấn đề

Cùng với kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các qui định kiểm soát tập trung kinh tế (trong đó bao gồm các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp) đã hình thành nên một bộ phận quan trọng trong pháp luật cạnh tranh. Bởi vì các qui định kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho dù được thiết lập một cách chặt chẽ và tinh vi đến đâu thì cũng sẽ trở nên vô nghĩa khi các bên tham gia thỏa thuận tập trung kinh tế lẩn tránh sự điều chỉnh của pháp luật bằng cách hợp nhất, sáp nhập. Do vậy, việc thiết lập chế định kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tranh là một điều không có hề có sự bàn cãi. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp còn được nhìn nhận ở những tác động tích cực nhất định của chúng đối với việc phát triển kinh tế cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong quá trình hội nhập. Có một thực tế là vấn đề miễn trừ được qui định trong pháp luật cạnh tranh đối với những giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mang ý nghĩa có lợi không được qui định một cách rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh với tư cách là đạo luật trực tiếp điều chỉnh đối với các hành vi này. Từ đó đặt ra nhu cầu cần phải nhìn nhận lại vấn đề này về mặt lí luận cũng như thực tiễn áp dụng.

Cơ sở lí luận của cơ chế miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm

Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp sáp nhập doanh nghiệp được nhìn nhận bằng việc một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập[1]. Quyền tự do kinh doanh thừa nhận khả năng doanh nghiệp được phép hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm cũng như thừa nhận cho doanh nghiệp quyền được tự chủ trong quá trình hoạt động của mình. Có nhiều lí do để các doanh nghiệp cân nhắc đến việc tiến hành một giao dịch sáp nhập. Trong giao dịch sáp nhập, ngoài việc phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp liên quan còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh với tư cách là mảng pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Continue reading

NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TOÀN CẦU VÀ NHÌN LẠI NỢ

PHẠM THỊ THU HẰNG – Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Trong tháng 7 vừa qua, thị trường tài chính quốc tế trở nên nhạy cảm với những thông tin liên quan đến vấn đề nợ nần của các nước châu Âu và Mỹ. Phải chăng kinh tế thế giới đang bắt đầu đi vào khủng hoảng nợ công toàn cầu? Theo phân tích, do lo ngại về nợ khu vực đồng Euro và việc bế tắc trong thoả thuận giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà về nâng trần nợ công trước thời hạn 2/8 khiến vàng thế giới liên tục tăng mạnh và lập kỷ lục mới 1.638USD/1ounce vàng vào 29/7 vừa qua.

Từ khi bắt đầu nổ ra cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu, các nhà hoạch định chính sách Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã lo ngại rằng cơn hỗn loạn tài chính bắt đầu từ Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha rồi sẽ nhấn chìm những nền kinh tế lớn khác trong khu vực.

Hy Lạp đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai. Theo số liệu nghiên cứu, nợ trong hạn của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đôla Mỹ, lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ lên tới mức kỷ lục, trên 9% đối với các khoản vay có kỳ hạn.

Hy Lạp đã chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các quốc gia thành viên Eurozone. Bộ trưởng Tài chính các nước Eurozone đã quyết định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ 110 tỷ Euro với lãi suất ưu đãi là 5%. Sau khi nhận được khoản hỗ trợ 110 tỷ Euro, Hy Lạp vẫn tiếp tục ở trong nguy cơ vỡ nợ. Gần đây, IMF ước tính nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lên đến 172% GDP (so với mức khoảng 120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ) trong khi thâm hụt ngân sách của nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản hỗ trợ mới.

Sau cuộc họp khẩn cấp ngày 21/07/2011, lãnh đạo 17 nước thuộc Eurozone và IMF đã đồng ý cấp cho Hy Lạp 159 tỷ Euro (229 tỷ USD), với lãi suất 3,5%, thời gian đáo hạn có thể lên tới 30 năm, và có thể gia hạn 10 năm nữa. Ngoài ra, Eurozone cũng đưa ra một số loại hình bảo lãnh đối với trái phiếu chính phủ Hy Lạp để các ngân hàng Hy Lạp có thể tiếp tục được Ngân hàng Trung ương châu Âu hỗ trợ thanh khoản.

Tại Ireland, dấu hiệu đầu tiên cho cuộc khủng hoảng nợ công tại quốc gia này là một thị trường bất động sản bong bóng. Trong một thập niên tính đến năm 2007, giá nhà tại Ireland tăng gần gấp 4 lần, thậm chí còn đắt hơn cả những thành phố vẫn được mệnh danh là đắt đỏ trên thế giới như Los Angeles. Khi bong bóng bất động sản vỡ tung đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Và khi chính phủ ra tay cứu trợ ngân hàng – nợ công trở thành gánh nặng cho ngân khố quốc gia.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: RỐI CHUYỆN ỦY QUYỀN TRONG ÁN DÂN SỰ

THANH TÙNG

Thực tiễn xét xử án dân sự, không ít lần giữa VKS và tòa, giữa tòa cấp dưới với tòa cấp trên đã tranh cãi về chuyện ủy quyền của các đương sự.

Nguyên nhân là quy định chưa cụ thể, chưa điều chỉnh được một số tình huống mới phát sinh trong đời sống…

Năm 2007, ba nhân viên của một công ty bị bắt, bị khởi tố vì trộm giấy ủy nhiệm chi mà giám đốc công ty ký sẵn (trị giá hơn 3,6 tỉ đồng) rồi mang đến một chi nhánh của Ngân hàng B yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản cá nhân.

Có cần ghi rõ phạm vi ủy quyền?

Sau đó, Ngân hàng B ủy quyền cho chi nhánh nơi các bị can đến chuyển tiền tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau phiên sơ thẩm cuối năm 2010 của TAND TP.HCM, chi nhánh ngân hàng kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

Trong phiên phúc thẩm gần đây, đại diện VKSND Tối cao đã đề nghị tòa bác kháng cáo vì theo nội dung giấy ủy quyền thì Ngân hàng B chỉ ủy quyền cho chi nhánh tham gia phiên sơ thẩm chứ không ủy quyền cả việc kháng cáo. Việc kháng cáo của chi nhánh ngân hàng là vượt quá phạm vi ủy quyền.

Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM lại cho rằng chi nhánh ngân hàng đã được Ngân hàng B ủy quyền thường xuyên để giải quyết công việc hằng ngày. Vì thế, đại diện chi nhánh ngân hàng có thể tham gia ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trong một vụ án có liên quan tới mình. Từ đó, tòa tiếp tục xử chứ không bác kháng cáo như đề nghị của đại diện VKS.

Nhận định của tòa phúc thẩm đã gây tranh cãi về mặt pháp lý. Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng (TAND quận Gò Vấp, TP.HCM), quan điểm của đại diện VKSND Tối cao là hợp lý. Thẩm phán Hoàng lý giải: Đương sự phải ghi rõ nội dung ủy quyền vì sơ, phúc thẩm là hai giai đoạn tố tụng độc lập, khác nhau.

Continue reading

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

NGUYỄN VÂN ANH – Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Quản lý nhà nước (QLNN) hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) là một trong những chức năng quản lý nhà nước đang diễn ra tại các địa phương. Tuy nhiên thời gian qua, vì nhiều lý do nên việc thực hiện chức năng này tại các địa phương còn nhiều hạn chế . Bài viết sau đây sẽ đề cập đến thực trạng của công tác quản lý nhà nước hoạt động CGCN đối với các dự án đầu tư tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT), qua đó đề xuất một số nội dung quản lý nhà nước tại địa phương cần phải hoàn thiện để nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động này trong thời gian tới.

Hiện nay, đầu mối tiếp nhận các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh BR – VT là Sở Kế hoạch đầu tư (quản lý các dự án đầu tư ngoài các khu công nghiệp) và Ban quản lý các khu công nghiệp (tiếp nhận các dự án đầu tư trong khu công nghiệp). Sở Kế hoạch – đầu tư và Ban quản lý các khu công nghiệp là cơ quan ra quyết định hoặc tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định cấp giấy phép đầu tư trên cơ sở tập hợp ý kiến đóng góp của các sở, ban, ngành liên quan.

Theo chức năng, Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm về nội dung xem xét các vấn đề công nghệ và hợp đồng CGCN các dự án cùng việc xác nhận những cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư.

Vấn đề thẩm định/thẩm tra công nghệ dự án đầu tư:

Từ 2001 cho tới nay (chủ yếu từ 2006 trở lại đây) có khoảng 30 dự án đầu tư trong và ngoài nước được lấy ý kiến về công nghệ hoặc làm thủ tục thẩm định công nghệ. Công tác thẩm định công nghệ tại tỉnh được thực hiện theo quy định cụ thể về quy trình thủ tục từ giao nộp hồ sơ, phương pháp thẩm định (chuyên viên, chuyên gia, tổ chức hội đồng, trả lời ý kiến.v.v.)

Quá trình thẩm định một số dự án đầu tư thấy rằng. Đối với các dự án đầu tư trong nước hầu hết các dự án chưa hoàn thiện về mặt công nghệ. Dây chuyền công nghệ chưa được đầu tư hệ thống xử lý môi trường, nếu có thì công suất xử lý không đảm bảo. Sau khi thẩm định nhiều doanh nghiệp đã phải bổ sung hoặc thay đổi lại thiết kế ban đầu. Một số doanh nghiệp có dự án đầu tư nhưng năng lực tài chính không đủ thực hiện theo mức độ và quy mô đầu tư, hoặc có dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước lựa chọn phương án nhập các dây chuyền công nghệ lạc hậu lỗi thời của Trung quốc đang tìm cách bán lại cho doanh nghiệp Việt Nam với giá rẻ. Đối với các dự án này, cơ quan thẩm định công nghệ đã có những khuyến cáo, nhưng các doanh nghiệp này vẫn thực hiện.Thực tế chỉ một thời gian sau đi vào hoạt động các doanh nghiệp này đã bị đóng cửa.

Continue reading

CÁC THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

THS. NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN – Đại học Quốc gia TPHCM

Giống như các loại hợp đồng thương mại khác, nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại (NQTM) cũng thể hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, tuy nhiên, với những đặc thù nhất định của hoạt động NQTM nên hợp đồng NQTM có những điểm khác biệt với các loại hợp đồng khác, kể cả đối với hợp đồng đại lý.

Chủ thể của hợp đồng NQTM là các thương nhân có quyền kinh doanh độc lập, hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lưới thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền, để đảm bảo lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền khác. Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành mô hình NQTM, khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạng lưới NQTM, phải trả phí khai thác lợi ích cho bên nhượng quyền và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền (đối với các hợp đồng đại lý, bên nhận đại lý không phải thực hiện nghĩa vụ này). Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân thủ trung thành mô hình NQTM (bên đại lý cũng không có quyền kiểm soát này đối với bên nhận đại lý)1. Hoạt động của hệ thống NQTM thường dẫn tới hệ quả phân chia thị trường và có thể gây hạn chế cạnh tranh (HCCT) trong thỏa thuận về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở “điều khoản về địa điểm bán hàng” (location clause); cấm bên nhận quyền quảng cáo ngoài phạm vi của mình; mua bán độc quyền liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu sản phẩm; quy định bán kèm. Ngoài ra, trong hợp đồng NQTM, nhiều trường hợp còn quy định về ấn định giá bán cho các thành viên của hệ thống NQTM và có thể có một số ràng buộc khác. Căn cứ vào tính chất của đối tượng điều chỉnh, hợp đồng NQTM có thể được chia thành các loại: (i) NQTM về dịch vụ, theo đó bên nhận quyền chào bán một dịch vụ dưới tên thương mại hoặc biểu tượng và đôi khi là nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền, theo những chỉ dẫn của bên nhượng quyền; (ii) NQTM về sản xuất, quy định bên nhận quyền sản xuất các sản phẩm theo đúng những chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán chúng dưới nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền; (iii) NQTM về phân phối, trong đó bên nhận quyền đơn thuần bán các sản phẩm nhất định trong một cửa hàng mang tên thương mại hoặc biểu tượng của bên nhượng quyền. Do đó, mỗi loại đối tượng của hợp đồng NQTM sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung cụ thể của hợp đồng. Chúng thường được thể hiện dưới các dạng sau:

Continue reading

KHÁI NIỆM “VỐN TRÍ TUỆ” VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XUẤT – NHẬP KHẨU NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. PHẠM THÁI VIỆT – Khoa Truyền thông Quốc tế và Văn hóa Đối ngoại, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao.

Bài viết đề cập đến một vấn đề đang được thảo luận sôi nổi trên diễn đàn khoa học xã hội thế giới nhưng còn ít được chú ý và cũng ít được nghiên cứu ở Việt Nam – “vốn trí tuệ”. Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích một số quan niệm đang được thảo luận về “vốn trí tuệ” và kết cấu của nó, về vị trí của “vốn con người” trong “vốn trí tuệ” và việc đo lường “vốn trí tuệ”, qua đó, đề xuất một vài ý kiến tham khảo cho quá trình xây dựng chiến lược xuất – nhập khẩu nguồn lực trí tuệ của Việt Nam.

1. Sự gia tăng vai trò của "vốn trí tuệ"

Trong vòng 20 năm trở lại đây, “vốn trí tuệ”, “nguồn lực trí tuệ” đã trở thành những chủ đề thời sự và được thảo luận rộng khắp. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào thật rõ ràng để có thể xác định chính xác nội hàm của những khái niệm này.

Vấn đề trí tuệ của con người và việc sử dụng nó để tạo ra của cải – vốn không phải là điều mới mẻ. Ai cũng biết rằng, sự khác biệt giữa con người với giới động vật là ở chỗ, con người với sự trợ giúp của trí tuệ (tư duy, ý thức) đã tiến hành sản xuất và tái sản xuất ra đời sống của chính mình. Bằng trí tuệ, con người đã không dừng lại ở việc thỏa mãn với những gì có sẵn trong giới tự nhiên, mà còn tạo ra thế giới riêng của mình.

Tầm quan trọng của trí tuệ đối với đời sống xã hội và sự phát triển con người nói chung là điều không phải bàn cãi. Ngay từ thế kỷ thứ XVI, F. Bacon (nhà triết học Anh) đã đưa ra mệnh đề nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Và, cùng với sự phát triển của lịch sử, C.Mác đã tiên đoán về sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ và trực tiếp của tri thức khoa học vào lực lượng sản xuất.(*)

Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây là: Vì sao, vào những năm cuối thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI này, vấn đề “trí tuệ”, “tri thức”, “thông tin” lại được “hâm nóng” và được đưa ra bàn thảo rộng khắp? Thuật ngữ “kinh tế tri thức”, “xã hội thông tin”, “nguồn vốn trí tuệ”,… cũng đã trở nên quen thuộc và xuất hiện ngày một nhiều trên báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các chương trình nghị sự toàn cầu, khu vực cũng như quốc gia.

Tình hình đó đã làm nảy sinh các câu hỏi: Phải chăng, trước đó con người đã tạo ra của cải, sự phồn thịnh và phát triển nhưng không dựa nhiều lắm vào trí tuệ của mình, mà chủ yếu là dựa vào các lực lượng tự nhiên? Hay phải chăng, trước thời điểm đó, con người đã không đánh giá hết vai trò của trí tuệ trong đời sống của mình?

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: HỦY KẾT QUẢ ĐẤU GIÁ KHÔNG RÕ CĂN CỨ

HỒNG TÚ

Sau khi hủy kết quả bán đấu giá lô gỗ sưa, Sở Tư pháp bảo là theo chỉ đạo của tỉnh, tỉnh lại đổ cho công an, công an bảo chẳng biết.

Ông Trần Đình Nam đang khiếu nại các cơ quan chức năng tỉnh Kon Tum khi hủy kết quả bán đấu giá lô gỗ sưa mà không nêu căn cứ cụ thể. Thay vì lô gỗ có giá gần 10 tỉ đồng, chỉ bán có hơn 3 tỉ đồng.

Vô tình trúng đấu giá!

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Hạt Kiểm lâm huyện Kon PLông, tỉnh Kon Tum đã tịch thu hơn 4 m3 gỗ sưa (gồm gốc, rễ, cành, ngọn) và 11 chiếc xe máy. Tháng 6-2010, hạt kiểm lâm ủy quyền choTrung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh Kon Tum (TTĐG) bán đấu giá lô tài sản cho ngân sách. Trên cơ sở định giá, TTĐG đưa ra giá khởi điểm cho lô hàng là hơn 1,5 tỉ đồng.

Sau đó, TTĐG tổ chức phiên bán đấu giá lô hàng với hình thức bỏ phiếu qua ba vòng. Mức chênh lệch của mỗi lần trả giá được quy định là 300 triệu đồng, giá cao nhất của vòng trước được tính là giá khởi điểm cho vòng tiếp theo.

Tại phiên bán đấu giá, vòng một kết thúc với mức giá được trả cao nhất là hơn 2,1 tỉ đồng. Ở vòng thứ hai, ông Nguyễn Quang Trung là người trả cao nhất với giá 8,5 tỉ đồng và đây cũng là giá khởi điểm của vòng ba. Qua vòng ba, chỉ còn lại hai người tiếp tục ra giá là ông Nguyễn Quang Trung với mức giá 8,5 tỉ đồng và ông Phạm Ngọc Sự ra giá 3,4 tỉ đồng.

Với mức 8,5 tỉ đồng, TTĐG tuyên bố ông Trung trúng đấu giá lô tài sản trên. Tuy nhiên, sau đó TTĐG phát hiện ông Trung đã vi phạm nguyên tắc trả giá vì không thực hiện đúng mức chênh lệch giữa các lần trả (đúng ra ông Trung phải trả giá 8,8 tỉ đồng mới hợp lệ).

Continue reading

KHÁI NIỆM SỞ HỮU ĐẤT TOÀN DÂN THỜI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LÊ VĂN TỨ

Để việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Đất đai hiệu quả, thiết nghĩ việc đầu tiên cần làm là xem thử Hiến pháp nước ta quy định như thế nào về đất đai qua từng thời kỳ.

Để trả lời câu hỏi này, cần đối chiếu hai điều liên quan đến chế độ đất đai trong mỗi bản hiến pháp. Có thể thấy điều 19 Hiến pháp 1980 và điều 17 Hiến pháp 1992 đều thống nhất khẳng định chế độ sở hữu đất toàn dân về đất đai. Nhưng điều 18 Hiến pháp 1992 có khác so với điều 20 Hiến pháp 1980.

Theo điều 20 Hiến pháp 1980: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…”. Với quy định như vậy, có thể hiểu người sở hữu đất (toàn dân) đã ủy toàn quyền cho Nhà nước. Vì toàn bộ nền kinh tế đã công hữu hóa, nên Nhà nước không chỉ quản lý xã hội với tư cách cơ quan quyền lực, mà còn thông qua cơ chế kế hoạch hóa, trực tiếp quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó có đất đai. Trong thời kỳ này, đất đai chỉ được giao cho các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã sử dụng, do đó mọi biến động trong sử dụng đất đều nằm trong khuôn khổ chế độ công hữu do Nhà nước thống nhất quản lý.

Xin dẫn tiếp điều 18 Hiến pháp 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”.

Có thể thấy hai điểm khác biệt giữa điều 18 Hiến pháp 1992 với điều 20 Hiến pháp 1980:

1) Theo Hiến pháp 1992, Nhà nước giao đất cho tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ cho người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng (nếu Nhà nước chưa có quyết định gì khác, cũng có nghĩa là đất có thể bị thu lại).

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: HAI NHÀ NHÙNG NHẰNG CÁI VÁCH TƯỜNG?

HỒNG TÚ

Hai nhà nhùng nhằng cái vách tườngNhà phố liên kế xây dựng theo kiến trúc thời cũ, mỗi nhà thường được hưởng một nửa bề dày bức tường chung.

Mới đây, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị bản án sơ thẩm của tòa thị xã vụ hai nhà hàng xóm ở nhà liên kế kiện tranh nhau một bức tường. VKS cho rằng bản án trên đã vi phạm phạm vi xét xử, HĐXX xác định chứng cứ không đúng khi tuyên án.

Bức tường xây hơn 50 năm

Ông N. trình bày, mấy năm trước, bà hàng xóm cất nhà đã xây bốn cây cột lấn qua bức tường nhà ông. Ông đã yêu cầu bà này dừng xây cất, không được xâm phạm vào bức tường riêng của ông.

Bà hàng xóm thì bảo nhà bà và ông N. nằm trong dãy nhà được xây dựng cách đây hơn 50 năm, theo kiến trúc thời cũ, sử dụng chung một vách tường dày 20 cm. Việc này được thể hiện rất rõ trong bản vẽ hiện trạng nhà đất và được những người sống lâu năm ở đây xác nhận. Do vậy, bức tường trên là của chung, mỗi bên nhà được quyền sở hữu một nửa bề dày. Bà yêu cầu tòa bác bỏ đơn của ông N. và buộc ông phải bồi thường thiệt hại gần 50 triệu đồng vì đã ngăn bà xây nhà.

Tòa, viện không thống nhất

Sau khi nghiên cứu, tòa cũng nhìn nhận bức tường giữa hai nhà được xây đã lâu, bề dày như các bên trình bày, còn nó thuộc của riêng ai thì cần phải xem xét thêm. Do vậy, tòa đã có văn bản đề nghị cơ quan chức năng cung cấp hồ sơ liên quan đến quá trình hợp thức hóa một trong hai căn nhà. Tuy nhiên, sau đó cơ quan được yêu cầu trả lời rằng hồ sơ bị… thất lạc, không tìm thấy.

Thế là tòa phải đi xuống khảo sát thực tế. Kết quả đo đạc diện tích của nhà bà hàng xóm (không bao gồm bức tường) đúng với giấy tờ nhà đất của bà. Còn diện tích thực tế nhà ông N. so với giấy tờ hụt đúng bằng diện tích bức tường dày 20 cm. Từ kết quả này, tòa tuyên “Bức tường trên là của ông N.”, bác yêu cầu phản tố của bà hàng xóm.

Ngay sau đó, VKSND thị xã Bạc Liêu đã kháng nghị cho rằng tòa dựa vào kết quả đo đạc để công nhận bức tường thuộc quyền sở hữu của nhà ông N. là không có căn cứ. Theo viện, đây là dãy nhà liên kế (có tường chung) được xây dựng từ rất lâu. Tòa cần căn cứ vào bản vẽ hiện trạng để xác định tường nhà của ai khi mà giấy tờ nhà đất của hai nhà không thể hiện về bức tường. Tòa không thể nói diện tích nhà ông N. thiếu nên phải cộng cả bức tường vào cho đủ.

Continue reading

THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CỦA QUÁ TRÌNH R&D

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày nay, công nghệ đã trở thành động lực trực tiếp, một nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung, từng doanh nghiệp nói riêng. Chính vì vậy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu (KQNC) – một trong những hướng đi tích cực góp phần thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và đẩy nhanh ứng dụng KQNC vào cuộc sống đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Bài viết dưới đây cung cấp một cách tiếp cận mới về việc thương mại hóa KQNC nhằm bổ sung và làm phong phú thêm bức tranh thương mại hóa KQNC tại Việt Nam.

Để làm rõ các hình thức thương mại hóa KQNC, chúng ta cần thống nhất một số điểm sau:

Thứ nhất, sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” được đề cập trong Luật Thương mại 2005 để bàn về các hoạt động thương mại KQNC: “Hoạt động thương mại là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Thứ hai, tiếp cận việc thương mại hóa KQNC từ các quá trình nghiên cứu – triển khai (R&D), bao gồm quá trình R&D theo chiều xuôi; quá trình R&D theo chiều ngược và một số hình thức thương mại KQNC khác.

Thương mại hóa KQNC theo các quá trình nghiên cứu

Quá trình R&D theo chiều xuôi: Quá trình này thông thường trải qua các công đoạn:

clip_image002

Sản phẩm của mỗi công đoạn đều được gọi là KQNC. Vấn đề đặt ra là, phải chăng tới khi KQNC hoàn thiện, tức là quá trình nghiên cứu trải qua các công đoạn từ (1) đến (4) thì KQNC mới thương mại hóa được?

Trước đây, trong thời bao cấp, quá trình nghiên cứu hầu hết được diễn ra tại các viện nghiên cứu/trường đại học thì việc thương mại hóa KQNC thường được hiểu như vậy. Còn nay, chúng ta đang tiếp cận với một quá trình “đổi mới mở – open innovation”, quá trình nghiên cứu này, hiện nay không phải chỉ có duy nhất tổ chức hay cá nhân tham gia thực hiện nữa, mà hình thức triển khai đã trở nên phong phú hơn rất nhiều. Một vấn đề nghiên cứu hay, một ý tưởng tốt, được các chuyên gia/doanh nghiệp xác định có tính thương mại cao, có thể có nhiều tổ chức tham gia thực hiện như việc đầu tư kinh phí tại bất kỳ các giai đoạn nghiên cứu khác nhau để hoàn thiện sản phẩm, mức độ hoàn thiện của KQNC ở mỗi công đoạn khác nhau, sẽ đem lại giá trị khác nhau. Sản phẩm càng hoàn thiện sẽ mang lại giá trị càng cao. Từ doanh thu nhận được, chủ sở hữu của công trình nghiên cứu phải chia sẻ lợi ích với các tổ chức/cá nhân tham gia trên tinh thần tự thỏa thuận hoặc theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT).

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN: ỦY QUYỀN VỀ TÀI SẢN TRONG ÁN LY HÔN?

HỒNG TÚ

Luật quy định đối với “việc ly hôn” đương sự không được ủy quyền cho người khác nhưng “việc ly hôn” là gì thì lại đang có nhiều cách hiểu khác nhau.

Khi ly hôn, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa phúc thẩm nếu hai bên chỉ còn tranh chấp về phần tài sản chung hay không? Luật quy định chưa rõ nên tòa lúng túng, các chuyên gia thì mỗi người một ý…

Năm 1995, anh NCH đăng ký kết hôn với chị HCU. Sau đó, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Xung đột lên đến đỉnh điểm vào năm 2004 khi anh H. cho rằng đứa con thứ hai không phải là con mình. Do không thể hàn gắn, tháng 4-2008, chị U. đã nộp đơn ra TAND một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai để yêu cầu tòa chấp thuận cho mình ly hôn với anh H.

Định ủy quyền về phần tài sản

Tháng 3-2010, TAND huyện này xử sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U., giao hai con cho chị U. nuôi dưỡng. Về phần tài sản, tòa giao quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho chị U. nhưng chị U. phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh H. số tiền bằng phần giá trị tương đương với phần của anh H.

Không đồng ý, anh H. kháng cáo về phần nuôi con và phần tài sản. Sau khi TAND tỉnh Đồng Nai thụ lý, làm việc với tòa, anh H. đã thay đổi yêu cầu kháng cáo. Anh không kháng cáo phần con chung nữa mà chỉ kháng cáo yêu cầu TAND tỉnh Đồng Nai xem xét phần chia tài sản chung.

Sau đó do vụ án chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi bản thân chuẩn bị phải xuất cảnh ra nước ngoài, chị U. đã dự định ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia quá trình xét xử phúc thẩm.

Continue reading

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

THS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Các quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện nay đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam (BLTTDS), bao gồm 28 điều luật (từ Điều 99 tới Điều 126) là cơ sở pháp lý quan trọng cho Toà án trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Để hướng dẫn thực hiện các quy định của BLTTDS về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, ngày 27-4-2005 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII của BLTTDS về vấn đề này. Tuy nhiên, việc vận dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn bổ sung.

1. Về tính khẩn cấp của các biện pháp cần áp dụng

Điểm đột phá và tiến bộ của BLTTDS hiện nay là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là theo khoản 2 Điều 99 BLTTDS thì “Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án đó”.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS thì “ Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Toà án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết ”.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 91/NQ-CP NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2011 PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 8 NĂM 2011

Trong các ngày 30, 31 tháng 8 và 01 tháng 9 năm 2011, Chính phủ họp phiên thường kỳ đầu tiên của nhiệm kỳ 2011 – 2016, thảo luận và quyết nghị những vấn đề sau:

1. Các báo cáo: Tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2011, tình hình kinh tế – xã hội năm 2011 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012; tình hình thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư Nhà nước; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015; đánh giá thực hiện ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước năm 2012; đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 5 năm 2006 – 2010 và kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 5 năm 2011 – 2015; kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010, tình hình triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011 và đề xuất danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 – 2015; tình hình thực hiện Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2011, Chương trình công tác của Chính phủ tháng 8 năm 2011; công tác cải cách hành chính tháng 8 năm 2011; công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh phòng, chống tham nhũng tháng 8 năm 2011 do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng Thanh tra Chính phủ trình.

a) Về tình hình kinh tế – xã hội 8 tháng và cả năm 2011:

Chính phủ thống nhất nhận định: Tình hình kinh tế – xã hội 8 tháng và cả năm 2011 tiếp tục chuyển biến tích cực, nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội dự báo đạt và vượt kế hoạch. Lạm phát được kiềm chế và giảm dần theo từng tháng, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 là 0,93%, thấp nhất kể từ đầu năm; kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với chỉ tiêu kế hoạch, nhập siêu giảm mạnh; thu ngân sách đạt khá, bội chi ngân sách giảm; thị trường ngoại hối từng bước ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng. Tăng trưởng GDP năm 2011 dự kiến đạt khoảng 6%; sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng cao; tuy chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển ổn định, được mùa, được giá; dịch vụ tiếp tục phát triển, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng mạnh. An sinh xã hội được quan tâm, các chính sách xã hội tiếp tục được triển khai tích cực, góp phần giảm bớt khó khăn và từng bước cải thiện đời sống nhân dân; các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao có tiến bộ; công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo được chú trọng. Cải cách hành chính và đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác đối ngoại đạt được nhiều kết quả quan trọng. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quốc phòng được tăng cường, chủ quyền quốc gia được đặc biệt coi trọng. Những kết quả trên khẳng định các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo Kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59/2011/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và đang phát huy tác dụng tích cực.

Continue reading

MỘT SỐ TỒN TẠI CỦA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG HIỆN NAY – NHỮNG KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

TS. NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG – Ngân hàng nhà nước & THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT ÁNH – Viện Kinh tế Tài chính – Học viện Tài chính

Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng đã tạo cơ hội cho phát triển kinh tế trong những năm vừa qua, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của quá trình hồi phục hay suy giảm của kinh tế thế giới. Từ năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng có những diễn biến phức tạp; sau những khó khăn về kinh tế năm 2008, 2009, bước sang năm 2010 nền kinh tế có dấu hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổi lên, đòi hỏi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu giải quyết như: tỷ lệ lạm phát gia tăng; lãi suất cao; tiền Việt Nam mất giá so với đô la Mỹ; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao; hiệu quả của đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có xu hướng chậm lại…

Trước bối cảnh sức ép tăng lạm phát từ nhiều phía và rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn xã hội, nền kinh tế và đặc biệt là các doanh nghiệp, Chính phủ đã xácđịnh kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 (Nghị quyết 11) về các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội trong năm 2011. Bám sát Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, chặt chẽ và thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng tín dụng dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, phù hợp với các điều kiện vĩ mô; đồng thời tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất… Kết quả bước đầu là tích cực và đã được khẳng định, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm lại và có chiều hướng giảm dần, tổng sản phẩm trong nước 06 tháng đầu năm 2011 tăng 5,57% so với cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên, một số tác động thiếu tích cực của chính sách cũng bộc lộ và nền kinh tế, nhất là các doanh nghiệp vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn, nghiêm trọng… này nhằm phân tích nguyên nhân các mặt hạn chế của cơ chế, chính sách về hoạt động tiền tệ ngân hàng trong mối quan hệ với các chính sách kinh tế khác và kiến nghị một số giải pháp của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Từ năm 2007 đến nay, nhìn chung tình hình kinh tế Việt Nam không được ổn định, gặp nhiều khó khăn (xem bảng 1, biểu đồ 1), trong đó lạm phát từ năm 2004 đến nay luôn ở mức cao.

           Bảng 1: Một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế Việt Nam

Biểu đồ 1: Diễn biến nhập siêu và bội chi Ngân sách Nhà nước, 2003-6T/2011

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 124/2011/TT-BTC NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN VỀ LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ

Căn cứ Pháp lệnh phí và lệ phí;

Căn cứ Luật Đất đai 2003 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ Luật Quản lý thuế và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;

Căn cứ Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/06/2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện về lệ phí trước bạ như sau:

Chương I

PHẠM VI ÁP DỤNG

Điều 1. Đối tượng chịu lệ phí trước bạ

1. Nhà, đất:

a) Nhà, gồm: nhà ở; nhà làm việc; nhà sử dụng cho các mục đích khác.

b) Đất, gồm: các loại đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 13 Luật Đất đai năm 2003 thuộc quyền quản lý sử dụng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (không phân biệt đất đã xây dựng công trình hay chưa xây dựng công trình).

2. Súng săn, súng thể thao.

3. Tàu thuỷ, kể cả sà lan, ca nô, tàu kéo, tàu đẩy.

4. Thuyền , kể cả du thuyền.

5. Tàu bay.

6. Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (sau đây gọi chung là xe máy).

7. Ôtô (kể cả ô tô điện), rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 77/2011/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 29/2009/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ MUA, BÁN TÀU BIỂN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2009/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ về đăng ký và mua, bán tàu biển với nội dung sau đây:

1. Bổ sung khoản 8 Điều 3 như sau:

“8. Hồ sơ hợp lệ là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật”.

2. Sửa đổi Điều 11 như sau:

“Điều 11. Thủ tục đăng ký tàu biển Việt Nam

1. Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam.

a) Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam được cấp cho tàu biển có đủ các điều kiện và đã được đăng ký vào sổ đăng ký tàu biển quốc gia theo trình tự thủ tục quy định tại Nghị định này.

b) Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam có giá trị sử dụng kể từ ngày được cấp đến ngày xóa đăng ký tàu biển đó.

c) Giấy chứng nhận đăng ký được cấp 01 (một) bản chính.

2. Đối tượng được cấp: chủ tàu có tàu biển đã được đăng ký.

3. Hồ sơ đăng ký tàu biển Việt Nam bao gồm:

a) Tờ khai đăng ký tàu biển theo mẫu quy định tại Phụ lục I của Nghị định này.

b) Bản chính giấy chứng nhận xóa đăng ký hoặc tạm ngừng đăng ký đối với tàu biển đã qua sử dụng hoặc biên bản nghiệm thu bàn giao tàu đối với tàu biển được đóng mới.

c) Hợp đồng mua, bán tàu biển hoặc hợp đồng đóng mới tàu biển hoặc các bằng chứng khác có giá trị pháp lý tương đương về quyền sở hữu đối với tàu biển (bản chính).

d) Giấy chứng nhận dung tích tàu biển (bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu).

Continue reading

SỨC SỐNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP, ĐỨC, HÀ LAN

BÙI THANH HẰNG & ĐỖ GIANG NAM – Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ở Việt Nam, tính từ năm 1995 đến nay đã có hai Bộ luật Dân sự – BLDS (BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005) và hiện chúng ta cũng có kế hoạch xem xét xây dựng BLDS thứ ba trong vài năm tới. Như vậy, tuổi thọ trung bình của BLDS nước ta là 10 năm. Một trong những lý do khách quan dẫn đến tuổi thọ khiêm tốn của BLDS Việt Nam là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, một lý do khiến BLDS Việt Nam chưa có sức sống cao và phải liên tục sửa đổi là nó chưa đạt được chuẩn mực cần có. Nghĩa là BLDS chưa có một cấu trúc hợp lý, logic cho hệ thống quy phạm dân sự; còn lúng túng trong việc lựa chọn ngôn từ diễn đạt và chưa nhìn nhận đúng vai trò của Tòa án trong việc giải thích pháp luật. Bài viết đề cập dưới góc nhìn so sánh với BLDS Pháp, Đức, Hà Lan nhằm góp phần hoàn thiện BLDS với tính cách là một văn bản thống nhất, làm nền tảng cho cả hệ thống luật tư.

1. Cấu trúc cần có của Bộ luật Dân sự Việt Nam

Bàn về BLDS Pháp, nhiều học giả coi đó là “bản Hiến pháp” của dân luật hay ví nó như một đài kỷ niệm1. Sự so sánh này một mặt cho thấy vị trí vô cùng quan trọng nhưng rất gần gũi, quen thuộc của BLDS Pháp đối với mỗi người dân trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, nó cũng khẳng định tính ổn định, khả năng vượt thời gian của BLDS Pháp2 và tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của BLDS Pháp đối với pháp luật dân sự thế giới3.

Việc ví von BLDS như một đài kỷ niệm làm chúng ta không khỏi liên tưởng đến mối liên hệ giữa BLDS với quy phạm tạo nên nó như là mối liên hệ giữa một công trình kiến trúc kỳ vĩ được tạo nên bởi những viên gạch bình dị nhờ sức sáng tạo của những kiến trúc sư tài ba được thể hiện thông qua việc xây dựng kết cấu, sự sắp đặt tinh tế, khéo léo và sự lựa chọn những viên gạch cho công trình đó. Nói cách khác, điều trước hết cần phải làm khi xây dựng một văn bản pháp luật – trong đó có BLDS – là phải lựa chọn được cấu trúc thích hợp, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Với tầm quan trọng như thế, cấu trúc của một bộ luật nhất thiết phải được xây dựng đầu tiên để giới hạn phạm vi những vấn đề được đưa vào BLDS và những vấn đề được đặt trong những đạo luật riêng (luật chuyên ngành), đồng thời xác định tương quan giữa BLDS và các luật chuyên ngành, tránh việc đưa vào Bộ luật những nội dung pháp lý không thuộc bản chất của dân sự4.

Là một văn bản nền tảng cho cả hệ thống luật tư, việc xây dựng BLDS phải đảm bảo thống nhất về tính rõ ràng, tính xác định và tính có thể dự báo trước được5. Tuy nhiên, BLDS cũng phải hàm chứa trong nó sự mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội do đặc tính quan hệ dân sự – là những quan hệ luôn biến động cùng sự vận hành, phát triển của xã hội dân sự và nền kinh tế thị trường.

Continue reading

VẤN ĐỀ NHẬP, TÁCH CÁC YÊU CẦU TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ VÀ CƠ CHẾ CHUYỂN HOÁ GIỮA VIỆC DÂN SỰ, VỤ ÁN DÂN SỰ

TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Kể từ sau năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự nước nhà, trước những yêu cầu của công cuộc cải cách vì một nền tố tụng dân chủ, vì lợi ích chính đáng của nhân dân, một thủ tục tố tụng đặc biệt đã được xây dựng trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004(BLTTDS) với tên gọi thủ tục giải quyết việc dân sự. Thủ tục này được xây dựng nhằm áp dụng giải quyết đối với các vụ việc không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên đương sự. Có thể nói, đây là một thủ tục giản đơn hơn so với thủ tục giải quyết các vụ việc mà các bên đương sự có tranh chấp về quyền, lợi ích vì thời hạn giải quyết được rút ngắn, Toà án không cần mở phiên toà xét xử với một Hội đồng xét xử gồm nhiều thành viên, theo một thủ tục phức tạp mà chỉ cần một Thẩm phán “thăng đường” dưới hình thức một phiên họp đơn giản.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn làm rõ những bất cập khi vận dụng một số quy định cụ thể của thủ tục này trong thực tiễn và tìm kiếm giải pháp khắc phục để thủ tục giải quyết việc dân sự sẽ thực sự là phương tiện hữu hiệu của người dân trên con đường đi tìm công lý như mong mỏi của các nhà lập pháp. Với logic này, ba vấn đề cơ bản sẽ được tiếp cận và xử lý, đó là việc xác định phạm vi những loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự; vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự; cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự.

1. Các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án

Hiện nay, các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS không có những phân định cụ thể về những loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất của các loại việc dân sự có thể phân chia các việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự thành hai loại cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Các việc dân sự mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận để làm cơ sở cho việc thi hành án sau này. Theo quy định của BLTTDS thì các việc dân sự này bao gồm yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Như vậy, từ một số việc dân sự cụ thể đã được quy định trong BLTTDS, chúng ta đã có thể khái quát và xác định được bản chất chung của chúng. Dưới góc độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng trên cơ sở xác định được bản chất của loại việc này, về lâu dài các cơ quan có thẩm quyền có thể mở rộng, quy định bổ sung những loại việc dân sự khác có cùng bản chất được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Theo chúng tôi, những việc dân sự cần được bổ sung vào loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự bao gồm yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi do người con nuôi đã thành niên và cha, mẹ nuôi thoả thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi; các bên cùng thoả thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật và thoả thuận được về vấn đề phân chia tài sản, việc nuôi con; yêu cầu Toà án công nhận các thoả thuận về quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động .v.v.

Continue reading