CƠ CẤU ĐẠI BIỂU VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI

THS. CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam & PHẠM TUẤN ANH – Giảng viên, Học viện Kỹ thuật quân sự

Trong cơ chế quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành các văn bản quy phạm về tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền và tự do của công dân. Bên cạnh đó, cơ quan này còn có vai trò quan trọng trong việc giám sát đối với các quyền tư pháp và hành pháp.

Từ việc nhận thức cơ quan lập pháp là một chủ thể hết sức quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức quyền lực nhà nước. Cho đến nay, đã có nhiều học thuyết pháp lý tiến bộ trong lịch sử và các Nhà nước pháp quyền đều mong muốn rằng, quyền lực nhân dân được bảo đảm một cách tốt nhất và công bằng nhất giữa các bộ phận dân chúng trên cùng một lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, các lý thuyết và thực tiễn xây dựng nên cơ quan lập pháp cũng đã được nghiên cứu và tìm hiểu khá công phu. Chẳng hạn, ở một số nước, khi nói về đối trọng quyền lực nhà nước giữa ba nhánh quyền lực, họ cho rằng với tư cách là một chủ thể độc lập có quyền lập hiến và lập pháp, rõ ràng, Nghị viện đã có được những ưu thế của mình. Việc không xây dựng các cơ chế đối trọng ngay trong cơ quan lập pháp cũng tạo ra nguy cơ lạm quyền từ chính cơ quan này. Cụ thể, trong các chính thể nhà nước liên bang khi xây dựng một cơ quan lập pháp, thông thường họ xây dựng theo mô hình lưỡng viện. Mô hình này đảm bảo sự công bằng về tỷ lệ đại biểu trên số lượng cử tri, đồng thời dung hoà sự bình đẳng của mỗi bang với tư cách là một chủ thể của một địa giới hành chính độc lập. Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong nó chính là sự kiềm chế, đối trọng quyền lực của chính cơ quan lập pháp để tránh sự áp đảo của những nơi có số lượng cử tri cao, đại biểu lớn. Nếu chỉ dựa trên tiêu chí là tỷ lệ dân số, các địa phương đông dân có thể liên kết với nhau để thông qua những đạo luật có lợi cho mình và gây bất lợi cho các địa phương có dân số ít[1]. Ví dụ tại Mỹ, tiểu bang có số dân đông nhất là California được bầu tới 53 đại biểu, chiếm trên 12% trên tổng số 435 ghế của Hạ viện. Nếu không xây dựng cơ chế kiềm chế, đối trọng, rõ ràng các đại biểu của bang California chỉ cần thực hiện những liên kết với một số bang khác có số lượng đại biểu đông đạt đến một tỷ lệ nhất định sẽ có thể áp đảo để phủ quyết, biểu quyết các đạo luật có lợi cho bang của mình và các bang tham gia liên kết, đồng thời gây bất lợi cho phần còn lại.

Về thành phần đại biểu để ứng cử vào cơ quan lập pháp, không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia không cho phép những công chức, viên chức đang kiêm nhiệm tại cơ quan nhà nước được phép tham gia ứng cử hoặc được kiêm nhiệm trong Nghị viện. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: “Không một Thượng hoặc Hạ nghị sĩ nào được phép kiêm nhiệm thêm bất cứ công việc nhà nước khác, hay một điều gì tương tự khiến thù lao có thể tăng lên trong lúc đương nhiệm. Cũng như, không có một viên chức nhà nước đương nhiệm nào khác có thể ứng cử nghị sĩ Quốc hội khi còn đang công tác”[2]. Hay tại Pháp: “Chức vụ Bộ trưởng không được kiêm nhiệm với chức vụ dân biểu, hay chức vụ đại diện nghề nghiệp trên lĩnh vực quốc gia, hay các chức vụ công và hoạt động nghề nghiệp”[3].

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 CÓ PHẢI LÀ “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”?

PGS. TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 (LDN 2005). Những người soạn thảo thường gọi đạo luật này là “Luật Doanh nghiệp thống nhất”, vì nó được xây dựng trên cơ sở (nói đúng hơn là với mục tiêu) hợp nhất hai luật: Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật DNNN). LDN 2005 ra đời tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nói cụ thể hơn, LDN 2005 đã xoá bỏ các mô hình tổ chức pháp lý của các DNNN theo quy định của Luật DNNN, để chuyển sang các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005.

1. Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định của LDN 2005, trong thời hạn bốn năm, kể từ ngày 01/7/2006, tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang mô hình công ty. Như vậy, ngày 30/6/2010 là hạn cuối cùng để các DNNN – gồm các tổng công ty và Công ty nhà nước (CTNN) độc lập – phải chuyển đổi thành Công ty cổ phần (CTCP) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH).

Vào thời điểm năm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN. Trong 10 năm vừa qua, chúng ta đã cổ phần hóa được gần 4.000 doanh nghiệp. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp, tính đến trước thời điểm 1/7/2010, Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900 doanh nghiệp thành công ty TNHH một thành viên. Số còn lại khoảng gần 300 doanh nghiệp, hoặc sẽ được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số không đủ điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được theo các hình thức trên thì tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp bổ sung vốn1.

Trong số gần 300 doanh nghiệp nói trên, có khoảng 40 doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa từ trước ngày 01/7/2010 mà đã xác định xong giá trị doanh nghiệp, nhóm này sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần hóa; khoảng 30 doanh nghiệp đến ngày 01/7/2010 tuy chưa xác định xong giá trị doanh nghiệp nhưng dự kiến trong tháng 7 sẽ xác định xong thì trong năm 2010 sẽ hoàn thành thực hiện cổ phần hóa, cũng sẽ không phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên; khoảng 40 doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP để chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhóm này sẽ phải tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được thì tiến hành bán doanh nghiệp hoặc cho phá sản. Còn khoảng 182 doanh nghiệp phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên và về cơ bản đã được chuyển đổi hết trong tháng 7/20102.

Continue reading

LUẬT PHÁ SẢN NHIỀU BẤT CẬP

THÁI NGUYÊN TOÀN

Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15.6.2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.10.2004 và thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, Luật Phá sản đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho việc giải quyết phá sản gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bị can thiệp quá sâu

Công ty Vật tư nông nghiệp (Cty VTNN) Quảng Nam là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ các địa phương trong tỉnh. Đến năm 2005, việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trên 25 tỷ đồng và 258.000 USD. Do đó, TAND tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, định giá tài sản chỉ còn trên 2,8 tỷ đồng. Vụ việc đang tiến hành giải quyết thì UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi 648m2 đất cho Cty VTNN thuê xây dựng trụ sở làm việc, đồng thời ấn định giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất là 875 triệu đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá tài sản hình thành trên đất được mua hoặc thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật.

Trên văn bản là vậy, nhưng thực tế UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi đất của Cty VTNN để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở TNMT sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường từ nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Công ty VTNN để trừ nợ vay 1.138.931.374 đồng và trên 258.000 USD (tương đương 5,272 tỷ đồng tại thời điểm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Hoặc, Cty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng đất xây dựng nhà kho; Văn phòng đại diện. Năm 2007 UBND thành phố Đà Nẵng thu hồi 13.294m2 đất cho thuê để khai thác quỹ đất và phê duyệt giá đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Cty VTNN Quảng Nam gần 1,5 tỷ đồng và giao cho Công ty Cổ phần Trường Xuân và Công ty Quản lý – Khai thác đất Đà Nẵng có nhiệm vụ thanh toán khoản tiền trên cho Cty VTNN Quảng Nam, nhưng đến nay 2 Công ty này vẫn im hơi lặng tiếng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ BỊ NẮM TÓC…

NGUYỄN ĐOÀN

Tòa chấp nhận yêu cầu bồi thường vì có chứng cứ chứng minh. Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà.

TAND tỉnh Vĩnh Long vừa xử phúc thẩm đã chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm số tiền bồi thường của bà Nguyễn Thị Hòa và buộc bà phải bồi thường 6,5 triệu đồng cho phía nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Tuyết trong vụ kiện tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Nhập viện vì bị bứt tóc

Bà Tuyết trình bày giữa gia đình bà và gia đình bà Hòa thường xuyên xảy ra cự cãi, xuất phát từ mâu thuẫn đất đai từ trước. Chiều 8-2, bà cùng chồng ra thăm ruộng nhà nên đi tắt ngang qua phần đất nhà bà Hòa. Vừa thấy hai vợ chồng bà, bà Hòa chửi ngay: “Cấm không cho hai vợ chồng mày đi qua đất nhà tao”. Nghe bà Hòa nói, bà thấy rất tức vì bà Hòa chỉ thuộc hàng con cháu của mình mà lại chửi mình như thế nên bà có chửi lại. Sau đó bà bị bà Hòa xông tới vật xuống đất, đánh đầu, bứt tóc làm bà đau nhức… Bà vội đến trạm y tế xã kiểm tra và lên BV Đa khoa Vĩnh Long điều trị hết chín ngày, qua BV 121 Cần Thơ điều trị hết bốn ngày mới trở về. Nay bà phải khởi kiện đòi bồi thường tiền thuốc men điều trị, viện phí, chụp CT, tàu xe, tiền ăn, mất thu nhập người bệnh và nuôi bệnh là 10 triệu đồng.

Bà Hòa thừa nhận có chửi vợ chồng bà Tuyết trước nhưng bà Tuyết cũng chửi lại và còn dọa đánh mẹ bà. Bà Tuyết là người nắm đầu bà trước nên bà mới nắm tóc, đánh đầu bà lại. Sau được nhiều người chạy lại can ngăn, bà mới được con đưa đến trạm xá…

Bồi thường vì gây thiệt hại sức khỏe

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hòa thừa nhận việc nắm tóc, đánh đầu bà Tuyết nên đồng ý bồi thường nhưng không chấp nhận số tiền như yêu cầu của phía nguyên đơn mà để HĐXX xem xét.

Trong phần tuyên án, TAND huyện Vũng Liêm nhận định lỗi hoàn toàn thuộc về bà Hòa và các khoản bồi thường mà nguyên đơn yêu cầu đều là các chi phí hợp lý, đúng theo pháp luật quy định nên buộc bà Hòa bồi thường 10 triệu đồng. Không đồng ý án sơ thẩm, bà Hòa kháng cáo vì cho rằng mức bồi thường quá cao.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bà Hòa chỉ chấp nhận bồi thường một nửa số tiền mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử vì bà cho rằng bà Tuyết cũng có lỗi khi nắm đầu, bứt tóc bà.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP QUYỀN PHÁT SÓNG PHIM

HOÀNG YẾN

Tòa buộc phía bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn hơn 75 triệu đồng. Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Theo hồ sơ, Công ty Ảnh Vương khởi kiện Công ty Phượng Tùng bởi đã cung cấp bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương cho một số đài truyền hình phát sóng trong khi bộ phim này Ảnh Vương giữ bản quyền…

Đòi hơn 800 triệu đồng

Năm 2008, Ảnh Vương mua quyền phát sóng bộ phim trên từ Công ty San Yang (Đài Loan) với giá 39.000 USD. Công ty đã xin giấy phép, làm thủ tục nhập khẩu phim theo đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi mua, công ty không thể cung cấp cho các đài truyền hình để phát sóng vì phim đã được Phượng Tùng cung cấp trước đó.

Công ty Ảnh Vương cho rằng mình bị xâm phạm quyền phát sóng hợp pháp bộ phim nên khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại toàn bộ tiền mua bản quyền phát sóng và tổn thất về cơ hội kinh doanh là hơn 800 triệu đồng.

Phần mình, Phượng Tùng xác nhận là bán quyền phát sóng bộ phim cho năm đài thu được 345 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty từ chối bồi thường bởi tháng 12-2007 công ty đã mua quyền phát sóng bộ phim từ Fafilm Việt Nam. Đồng thời do Fafilm Việt Nam hợp tác nhập khẩu phim từ nước ngoài nên mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm bản quyền thuộc Fafilm Việt Nam. Do đó, Fafilm Việt Nam mới là bị đơn của vụ án chứ không phải Phượng Tùng.

Phía Fafilm Việt Nam thừa nhận mình cũng đã mua bản quyền bộ phim và bán lại cho Phượng Tùng với giá 135 triệu đồng… Nay Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng, hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Cả hai cùng có lỗi

Xử sơ thẩm hồi đầu năm, TAND TP.HCM nhận định qua những chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy Công ty Ảnh Vương có quyền sử dụng bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương, có bản quyền phát sóng… Công ty này cho rằng Công ty Phượng Tùng không có bản quyền hợp pháp mà lại bán quyền phát sóng cho các đài truyền hình là xâm phạm quyền và lợi ích của mình là có cơ sở xem xét. Công ty Phượng Tùng ký hợp đồng bán phim cho các đài dù là vô tình cũng đã xâm phạm quyền của chủ sở hữu quyền tác giả mà Công ty Ảnh Vương có được.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 17/2011/TT-NHNN NGÀY 18 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng như sau:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam (VND) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng dưới hình thức có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố) là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) đối với các tổ chức tín dụng trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.

2. Cầm cố giấy tờ có giá là việc Ngân hàng Nhà nước nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá hoặc yêu cầu tổ chức tín dụng chuyển khoản giấy tờ có giá vào tài khoản của Ngân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một hay nhiều khoản vay cầm cố của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước.

3. Lãi suất cho vay cầm cố là lãi suất tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi thực hiện cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng và được Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.

4. Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là thời gian tính từ ngày Ngân hàng Nhà nước giải ngân khoản vay cầm cố đối với tổ chức tín dụng đến ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá đó.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 70/2011/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC Ở CÔNG TY, DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ, TỔ HỢP TÁC, TRANG TRẠI, HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THUÊ MƯỚN LAO ĐỘNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

Nghị định này quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động, gồm:

1. Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).

2. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

3. Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

Các công ty, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và cá nhân quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này gọi chung là doanh nghiệp.

Điều 2. Mức lương tối thiểu vùng

Quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01 tháng 10 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 như sau:

1. Mức 2.000.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 71/2011/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em về các hành vi vi phạm quyền trẻ em; trách nhiệm bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;

2. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng được hưởng các quyền cơ bản của trẻ em

1. Trẻ em là công dân Việt Nam được hưởng các quyền, thực hiện bổn phận theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trẻ em là công dân Việt Nam trong thời gian sinh sống ở nước ngoài được hưởng các quyền và thực hiện bổn phận theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước nơi trẻ em đang sinh sống và điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên.

3. Trẻ em là người nước ngoài trong thời gian cư trú tại Việt Nam được hưởng các quyền và thực hiện các bổn phận theo quy định của các điều ước quốc tế mà hai nước là thành viên.

Continue reading