TRIẾT LÝ PHÁP LÝ VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CĂN BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Bộ Tư pháp đang thực hiện chương trình sửa đổi căn bản Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ LDS). Sửa đổi căn bản nghĩa là phải sửa đổi những nền tảng làm nên Bộ LDS. Muốn vậy, trước tiên phải nhận diện được những nền tảng đó là gì? Triết lý pháp lý không chỉ là nền tảng mà còn là linh hồn, là định hướng của một bộ luật. Tuy nhiên giống như trong nhiều bộ luật khác của ta, nó không được xác định rõ ràng và chú trọng đúng mức khi xây dựng Bộ LDS 2005.

I. Tầm quan trọng

I.1. Xác định mục đích, ý nghĩa của điều luật.

Một cách tổng quát, triết lý pháp lý (TLPL) có nhiệm vụ trả lời câu hỏi vì sao cần Luật pháp, tại sao một điều luật xác định phải có hiệu lực thi hành, làm thế nào để các điều luật có thể đảm bảo tốt nhất cuộc sống cùng tồn tại của con người, giải quyết hiệu quả nhất những xung đột không thể tránh khỏi trong cuộc sống đó.

Cụ thể hơn một chút, TLPL cần chỉ rõ pháp luật phải như thế nào để bảo vệ và bảo đảm được 02 giá trị căn bản nhất của mỗi cá nhân là Bình đẳng và Tự do trong những mối quan hệ phức tạp giữa họ với nhau, giữa họ với xã hội, với Nhà nước; phải làm sao để giải pháp giải quyết xung đột gần với Công lý nhất?

I.2. Định hướng xây dựng bộ luật.

Các bộ luật phải ổn định, có độ tin cậy cao, nhưng cũng phải thích ứng với những điều kiện luôn thay đổi của đời sống. Một hệ thống luật lệ giải quyết tốt các vấn đề hiện tại, vẫn cần nhiều thời gian cho những vấn đề mới. Đến lúc nó đưa ra được giải pháp tối ưu, thì nhiều khi các vấn đề này đã thành lạc hậu với những điều kiện đã thay đổi. Hệ thống pháp luật, vì vậy, luôn đứng trước một nhiệm vụ rất khó khăn: một mặt phải điều chỉnh những hành vi đã biết của cá nhân, sao cho ai cũng có thể chấp nhận và dự đoán được; mặt khác, không được điều chỉnh quá mức đến độ „đóng băng“ mọi hành vi trong thì hiện tại, ngăn chặn khả năng, cơ hội phát triển xã hội.

Làm thế nào để xây dựng được một bộ luật về cơ bản luôn đáp ứng được các điều kiện thay đổi không ngừng của thực tiễn? Cấu trúc bộ luật như một hệ thống mở cần được xây dựng theo nguyên tắc nào, cấu trúc điều luật sẽ ra sao? cũng là đối tượng của TLPL.

Continue reading

MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT

BÙI TRINH

Trong nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8.2011 vừa qua, Chính phủ đã yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên nhân lạm phát ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản ứng phó có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 9.

Trước đó, trong quá trình thẩm tra báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội sáu tháng đầu năm 2011 của Chính phủ, chuẩn bị nội dung cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII vào cuối tháng 7, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ lý giải nguyên nhân lạm phát cao chưa thuyết phục.

Từ đó đến nay, những thảo luận xung quanh câu chuyện này vẫn đang được tiếp tục. Xin giới thiệu tổng hợp, phân tích và góc nhìn của tác giả Bùi Trinh về vấn đề này.

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Bản chất của lạm phát về cơ bản là quan hệ tiền hàng. Tiền (M1, M2,…) nhiều hơn lượng hàng hoá (vật chất và dịch vụ) được tạo ra trong nền kinh tế.

Hiện có hai luồng ý kiến về vấn đề lạm phát của Việt Nam. Luồng ý kiến của đa số những người quản lý, giám sát và một số chuyên gia khá nổi tiếng cho rằng lạm phát của Việt Nam hiện nay đến từ phía cầu và mối quan hệ giữa tổng cầu và lượng cung tiền (M2). Đa số các chuyên gia coi C + I (tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ tài sản) là tổng cầu bắt nguồn từ chữ aggregate demand.

Còn theo hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), tổng cầu bao gồm cầu cho sản xuất và nhu cầu cuối cùng. Nhu cầu cuối cùng bao gồm nhu cầu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (C), chi tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ (G – khoản này theo định nghĩa của SNA chỉ là các khoản chi tiêu thường xuyên của Chính phủ), tích luỹ gộp tài sản cố định (I) và xuất khẩu thuần.

Việc sử dụng thuật ngữ đôi khi cũng dẫn đến những ngộ nhận, và đôi khi cũng dẫn đến những nhân định sai lệch về tình hình kinh tế nói chung và vấn đề lạm phát nói riêng.

Continue reading

Khả năng sử dụng trọng tài quốc tế về luật biển TRONG TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THAO (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Ngày 8/7/2011, tại chuyến thăm Trung Quốc của mình, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã nêu với người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì về ý tưởng giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua Tòa Trọng tài quốc tế về Luật biển của Liên hiệp quốc (ITLOS, hay còn được gọi là Tòa án quốc tế về Luật biển). Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Manila ngày 11/7/2011, ông Rosario nói “Tôi đã đề xuất rằng chúng ta cần thông qua ITLOS. Philippines sẵn sàng bảo vệ lập trường của Manila theo luật pháp quốc tế trong khuôn khổ Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển và chúng tôi cũng đã hỏi liệu họ (Trung Quốc) có sẵn sàng làm như vậy hay không”.

Phát biểu của Ngoại trưởng Philippines đã làm dấy lên những niềm hy vọng mới về một giải pháp cho vấn đề Biển Đông vốn đã căng thẳng trong nhiều ngày qua. Thế nhưng, đề xuất của Manila đã bị Bắc Kinh từ chối thẳng thừng. Ngày 12/7/2011, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói trước báo giới “Trung Quốc giữ vững lập trường rằng tranh chấp trên Biển Hoa Nam nên được giải quyết thông qua đàm phán trực tiếp giữa các nước liên quan trực tiếp”. Cũng theo ông Hồng Lỗi, tranh cãi về vấn đề này cần được giải quyết dựa trên “luật pháp quốc tế đã được công nhận”. Trước đó, ngày 11/7/2011, trong diễn văn đề cập tới “sự phát triển hòa bình của Trung Quốc và môi trường quốc tế” tại Hong Kong, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, bà Phó Oánh lên lớp “Quan trọng là giải quyết những điểm xung đột. Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cần phải thể hiện phương thức ngoại giao khôn khéo để đảm bảo những mâu thuẫn của chúng ta sẽ được kiềm chế, xử lý hiệu quả và chúng ta có thể sẽ không để những mâu thuẫn đó ảnh hưởng đến quan hệ. Có thể nhận thấy chúng tôi đang đi theo hướng này”. Ngày 13/7/2011, Đại sứ Việt Nam tại Manila, ông Nguyễn Vũ Tú lên tiếng ủng hộ lời kêu gọi của Philippines về một giải pháp mang tính nguyên tắc theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp. Ông khẳng định, Việt Nam sẵn sàng làm việc chặt chẽ với Philippines cả song phương lẫn hợp tác giữa các bên yêu sách nhằm đạt được một giải pháp thỏa thuận giải quyết hòa bình tranh chấp”. Có vẻ như Việt Nam cũng sẵn sàng cùng Philippines đưa tranh chấp Trường Sa ra trước ITLOS nếu được yêu cầu.

Các câu hỏi đặt ra là: ITLOS liệu có giúp được gì cho tranh chấp ở Biển Đông; những điều kiện gì cần phải đáp ứng về mặt thủ tục để ITLOS có đủ thẩm quyền; vấn đề cụ thể gì sẽ được đưa ra trước ITLOS; liệu các bên có tìm được tiếng nói chung; hay vì sao Trung Quốc không chấp nhận đưa tranh chấp Biển Đông ra trước ITLOS hay các cơ quan tài phán quốc tế khác?

Continue reading

KHẢ NĂNG SỬ DỤNG TÒA TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN TRONG TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THAO – Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 8/7/2011, tại chuyến thăm Trung Quốc của mình, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã nêu với người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì về ý tưởng giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua Tòa Trọng tài quốc tế về Luật biển của Liên hiệp quốc (ITLOS, hay còn được gọi là Tòa án quốc tế về Luật biển). Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Manila ngày 11/7/2011, ông Rosario nói “Tôi đã đề xuất rằng chúng ta cần thông qua ITLOS. Philippines sẵn sàng bảo vệ lập trường của Manila theo luật pháp quốc tế trong khuôn khổ Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển và chúng tôi cũng đã hỏi liệu họ (Trung Quốc) có sẵn sàng làm như vậy hay không”.

Phát biểu của Ngoại trưởng Philippines đã làm dấy lên những niềm hy vọng mới về một giải pháp cho vấn đề Biển Đông vốn đã căng thẳng trong nhiều ngày qua. Thế nhưng, đề xuất của Manila đã bị Bắc Kinh từ chối thẳng thừng. Ngày 12/7/2011, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói trước báo giới “Trung Quốc giữ vững lập trường rằng tranh chấp trên Biển Hoa Nam nên được giải quyết thông qua đàm phán trực tiếp giữa các nước liên quan trực tiếp”. Cũng theo ông Hồng Lỗi, tranh cãi về vấn đề này cần được giải quyết dựa trên “luật pháp quốc tế đã được công nhận”. Trước đó, ngày 11/7/2011, trong diễn văn đề cập tới “sự phát triển hòa bình của Trung Quốc và môi trường quốc tế” tại Hong Kong, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, bà Phó Oánh lên lớp “Quan trọng là giải quyết những điểm xung đột. Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cần phải thể hiện phương thức ngoại giao khôn khéo để đảm bảo những mâu thuẫn của chúng ta sẽ được kiềm chế, xử lý hiệu quả và chúng ta có thể sẽ không để những mâu thuẫn đó ảnh hưởng đến quan hệ. Có thể nhận thấy chúng tôi đang đi theo hướng này”. Ngày 13/7/2011, Đại sứ Việt Nam tại Manila, ông Nguyễn Vũ Tú lên tiếng ủng hộ lời kêu gọi của Philippines về một giải pháp mang tính nguyên tắc theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp. Ông khẳng định, Việt Nam sẵn sàng làm việc chặt chẽ với Philippines cả song phương lẫn hợp tác giữa các bên yêu sách nhằm đạt được một giải pháp thỏa thuận giải quyết hòa bình tranh chấp”. Có vẻ như Việt Nam cũng sẵn sàng cùng Philippines đưa tranh chấp Trường Sa ra trước ITLOS nếu được yêu cầu.

Các câu hỏi đặt ra là: ITLOS liệu có giúp được gì cho tranh chấp ở Biển Đông; những điều kiện gì cần phải đáp ứng về mặt thủ tục để ITLOS có đủ thẩm quyền; vấn đề cụ thể gì sẽ được đưa ra trước ITLOS; liệu các bên có tìm được tiếng nói chung; hay vì sao Trung Quốc không chấp nhận đưa tranh chấp Biển Đông ra trước ITLOS hay các cơ quan tài phán quốc tế khác?

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM: CA SĨ ĐÒI ĐƯA CHỦ SPA RA TÒA

HOÀNG YẾN

Cho rằng mình bị xài ảnh mà không được xin phép, ca sĩ đòi bồi thường 20.000 USD. Tiếp đó, khi đến spa trên tìm hiểu, anh còn thấy ảnh của mình được in thành poster lớn dựng ngay cổng ra vào.

Ca sĩ AK đang chuẩn bị nộp đơn khởi kiện Spa Y. (dành cho nam tại quận 1, TP.HCM) đòi bồi thường 20.000 USD vì đã dùng hình ảnh của anh quảng cáo mà không xin phép… Trước đó ca sĩ này dự định nộp đơn khởi kiện tại TAND TP.HCM nhưng sau đó được hướng dẫn phải nộp đơn ở TAND quận cho đúng thẩm quyền.

Dùng ảnh ca sĩ làm poster, tờ rơi

Theo ca sĩ K., khoảng tháng 2-2011, một người bạn báo hình ảnh của anh xuất hiện trên một số tờ rơi được phát trên đường để quảng cáo cho Spa Y. Bán tín bán nghi, anh nhờ người bạn đem tờ rơi về cho xem. Nhìn qua tờ rơi, anh nhận ra ảnh được sử dụng trên đó là một trong những tấm ảnh anh đã chụp để chuẩn bị cho album của mình vào năm ngoái (nhưng vì lý do cá nhân album này không phát hành).

Tiếp đó, khi đến spa trên tìm hiểu, anh còn thấy ảnh của mình được in thành poster lớn dựng ngay cổng ra vào. Qua trao đổi với người quản lý spa, anh được biết chủ spa này là bạn của người đã chụp ảnh cho anh lúc trước. Người chủ đã mua lại bức ảnh trên với giá 20 triệu đồng để lấy làm quảng cáo.

Quay về tìm nhiếp ảnh gia, anh không thể nào tìm được bởi anh này đã chuyển đi đâu không rõ.

Bức xúc trước việc ảnh của mình bị xài không xin phép, ca sĩ K. đã buộc spa này không được tiếp tục sử dụng hình ảnh này để quảng cáo và bồi thường tổn thất cho anh. Tuy nhiên, phía spa chỉ gỡ poster có hình ảnh anh xuống nhưng không đồng ý bồi thường vì đã trả tiền cho nhiếp ảnh gia trước khi sử dụng.

Continue reading

XÁC LẬP TƯ CÁCH THÀNH VIÊN CÔNG TY

PHẠM HOÀI HUẤN

Diễn biến sự việc:

Tháng 5/2001 ông Ngô Trường Thanh và ông Nguyễn văn Long thành lập Công ty TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát (sau đây gọi là Công ty). Tổng số vốn ban đầu là 1,6 tỷ đồng, trong đó số vốn góp của ông Thanh là 900 triệu đồng. Đến tháng 8/2001, tổng số vốn của Công ty thay đổi còn 900 triệu đồng, trong đó phần góp vốn của ông Thanh chỉ còn 200 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Long khai ông và ông Thanh là bạn, ông Thanh lại có nghiệp vụ kế toán nên ông Long mời ông này làm cho Công ty. Ông Long muốn ông Thanh có vị trí nhất định trong Công ty với chức danh Phó giám đốc kiêm Kế toán trưởng Công ty nên ông đã bảo ông Thanh đứng tên trong Hội đồng thành viên Công ty mà không cần góp vốn. Vì vậy ông đã dùng tiền cá nhân để nộp vào phần vốn góp của ông Thanh cho đúng quy định pháp luật là 200.000.000 đồng. Thực tế mọi điều hành, quản lý Công ty đều do ông Long quyết định.

Bà Lê Thị Nhất Linh (nhân chứng) là nhân viên Công từ tháng 8/2003. Đến 17/7/2006 xác nhận có đánh máy và kí vào hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa ông Nguyễn Văn Long, Ngô Trường Thanh và bà mà không có chữ kí của ông Thanh.

Ngày 14/6/2006 ông Thanh khởi kiện, yêu cầu công nhận phần vốn của ông tại Công ty và chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn ông đang nắm giữ tại Công ty.

Phán quyết của tòa

Tòa án nhân dân đã chấp nhận yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận phần vốn góp trong Công ty và chia lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp.

Continue reading