HIỂM HỌA CỦA NGHỊCH LÝ

TS. NGUYỄN ĐỨC MẬU

Có một số quan chức hôm qua xuất hiện ở những nơi sang trọng, xuất hiện trên báo chí và được đánh giá như những cán bộ có nhiều năng lực và mẫu mực, thế nhưng hôm nay lại bị khởi tố, bắt giam vì tham nhũng. Nghịch lý kiểu này mang đầy hiểm hoạ đối với xã hội.

Trong đời sống xã hội, nghịch lý có tính hiểm hoạ vốn không thiếu. Chẳng hạn, giàu – nghèo là chuyện của xưa, nay, của mai sau và của mọi nơi trên thế giới. Nhưng nghịch lý có tính hiểm hoạ cao của chuyện giàu – nghèo là người có trí tuệ không cao, làm việc không nhiều, lương thực tế từ một đến vài ba triệu một tháng, nhưng đời sống thực thì cao ngất ngưởng (đó là những người trong hệ thống quan chức), ngược lại nhiều trí thức và không hoặc chưa phải là trí thức, làm việc ngày đêm, song lương lại thấp, và tất nhiên đời sống thấp. Nghịch lý đó tác động xấu đến xã hội trên nhiều phương diện như nhận thức về xã hội, định hướng cuộc sống, lý tưởng sống và tác động đến cả giáo dục trẻ em, thanh niên.

Thực tế cuộc sống cũng đang tồn tại hai chiều đánh giá, hai hệ thống đánh giá, hay có thể nói là hai hệ thống giá trị, đang lưu hành "hợp pháp" bên cạnh nhau như những nghịch lý. Chẳng hạn, chúng ta luôn nói đến chất lượng giáo dục thấp, giáo dục không đạt tiêu chuẩn quốc tế, thợ lành nghề ít một cách trầm trọng, bằng cấp thật, chất lượng giả rất nhiều, số tiến sĩ có chất lượng thật ít đến mức đáng buồn. Thế nhưng mọi người đều biết, hiện nay số học sinh tiểu học, trung học cơ sở có tỉ lệ giỏi rất cao,cao lắm. Cũng vậy, khoá luận tốt nghiệp đại học điểm 9 (thang điểm 10) bị xem là điểm trung bình! Luận văn cao học cũng thế. Luận án tiến sĩ lại cũng nhiều người xuất sắc. Rồi nữa, các giải thưởng nhiều, các cuộc thi được tổ chức nhiều, tưng bừng, rôm rả lắm… Nếu nhìn vào hệ thống đánh giá hoặc kết quả đó, thì hiện tại và tương lai của Việt Nam đâu còn thua kém nước nào trên thế giới! Sự bình an, tin tưởng của các bậc phụ huynh đối với con cái tưởng là vững chắc, nhưng thực ra là một sự bình an, tin tưởng đáng báo động.

Continue reading

TÍNH ỒN ÀO LẮM CHUYỆN CỦA NGƯỜI VIỆT

PHẠM HY SƠN

Quả thật chúng ta lắm chuyện theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Khác với người Mỹ những nơi hội họp hay làm việc của họ thật yên lặng. Họ chăm chú làm việc hay lắng nghe người khác nói, không muốn nghe họ cũng giữ yên lặng để người khác nghe.

Nếu vào thư viện hay vào phòng mạch của các Bác sĩ Mỹ chúng ta thấy họ giữ yên lặng gần như tuyệt đối. Cần nói với nhau điều gì, người ta nói rất nhỏ đủ nghe để không làm phiền người khác. Còn người Việt chúng ta chỗ nào tụ tập độ năm, bảy người trở lên là ồn ào rồi.

Điều đáng ngạc nhiên là đến sở làm, đến những nơi người Mỹ làm việc phần lớn chúng ta biết giữ im lặng nhưng ở những cơ sở hay nơi làm việc của người Việt thì chúng ta lại theo thói quen cũ cười cười, nói nói rất huyên náo.

Tết Nguyên Đán năm 2006 cộng đồng người Việt ở chỗ tôi tổ chức Hội Chợ được ông Thị Trưỏng thành phố tới thăm. Ông đọc diễn văn chào mừng nhưng trên khán đài ông nói một thì ở dưới đồng bào nói mười, rất ồn ào chẳng ai thèm nghe, thèm biết ông ấy nói gì. Chúng ta quá ư vô ý và không một chút lịch sự với khách. Đến phần văn nghệ, nữ danh ca Mai Lệ Huyền có giọng hát mạnh và truyền cảm như vậy mà cũng không át được số khách dự đang huyên náo ở phía dưới.

Cái lắm chuyện thứ hai mới thực là lắm chuyện. Nó luôn luôn gây phiền toái cho người khác, đó là đi soi mói chuyện của người rồi đem loan truyền khắp nơi. Ở bên nhà công việc này dành cho những người rảnh rỗi chuyên đi “ngồi lê đôi mách”. Ra ngoại quốc dù làm ăn vất vả người ta vẫn không quên được cái tính ấy: thích nói và thích nghe chuyện xấu của người khác. Nhà này có đứa con hư hỏng sì ke ma túy, nhà kia vợ chồng xích mích… chỉ một thời gian ngắn mọi người trong sở đều biết, rồi mọi người trong thành phố đều biết.

Continue reading

ĐẰNG SAU LÀN SÓNG CÔNG, VIÊN CHỨC TỪ BỎ NHIỆM SỞ. . .

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

1. Làn sóng mới trong dịch chuyển lao động- nửa mừng nửa lo…

Có thể nói, thị trường lao động Việt Nam thời đổi mới và hội nhập đang chứng kiến sự xuất hiện và tô đậm dần những động thái mới chưa từng có suốt nhiều thập kỷ nay, như xu hướng tăng nhanh những lao động “có bằng cấp đầy mình”, được đào tạo khá bài bản từ các nguồn khác nhau; sự chuyển dịch linh hoạt và năng động, kiểu “nhẩy việc” liên tục hoặc làm việc và nhận lương đồng thời từ nhiều “cửa” khác nhau của các lao động trẻ có tài và có chí tiến thủ; sự  gia tăng đồng thời cả dòng lao động xuất khẩu, lẫn lao động nhập khẩu; Đặc biệt, trong đó đang nổi lên xu hướng “chảy máu chất xám” từ trong nước ra nước ngoài, từ miền Bắc vào miền Nam và nhất là từ khu vực Nhà nước sang khu vực ngoài Nhà nước…

Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng ở TP.HCM giai đoạn từ tháng 7-2003 đến 31-12-2007 đã có 6.422 (tức mỗi năm có khoảng 1.500 )cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị hành chính và sự nghiệp Nhà nước thuộc TP.HCM chủ động rời bỏ nhiệm sở để chuyển sang làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước; dẫn đầu  là khối sự nghiệp giáo dục với hơn 3.000 người. Làn sóng di chuyển lao động này ngày càng lan tỏa rộng sang các cơ quan  khác, như Sở Bưu chính – Viễn thông  (năm 2007 đã có ba cán bộ chủ chốt và một số chuyên viên xin nghỉ việc), Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Giao thông công chính, Sở Du lịch, các cơ quan trực thuộc Thành đoàn, UBND các quận, huyện, xã , phường, báo chí và nhà xuất bản…, trong đó có cả Phó Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, Phó Giám đốc Sở Giao thông công chính, Phó Giám đốc Sở Du lịch, Phó Chủ tịch Quận 12, Phó Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ, Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ…; Tại Viện Kinh tế TP.HCM, chỉ trong vòng một năm đã có hơn mười nhà khoa học "ra đi", trong đó có những người có trình độ, bằng cấp cao. Sắp tới, một số Thạc sỹ thuộc Chương trình đào tạo 300 Tiến sỹ& Thạc sỹ của TP.HCM cũng sẽ nghỉ việc sau khi hết thời hạn cam kết phục vụ… Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở nhiều địa phương khác trên cả nước. Đặc biệt, khối ngành Tài chính- Ngân hàng được cho là có nhiều bổng lộc nhất do đặc thù ngành( cán bộ NHNN có hệ số lương gần gấp ba lần hệ số thông thường), cũng đang "lao đao" bởi "làn sóng" cán bộ công chức rời bỏ nhiệm sở, trong đó có cả cấp Vụ trưởng…

Continue reading

CÔNG LÝ VÀ DỤC VỌNG: DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI NÀY KHÔNG THỂ TÀN PHÁ DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI KIA, ĐÓ LÀ CÔNG LÝ

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

PHẦN 1

Hiển nhiên, không thể cãi được rằng, người ta sống ở đời đều mong được sống hạnh phúc, thoải mái, an toàn, tự do, bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc được xác định trong hiến chương Liên Hiệp Quốc về các quyền cơ bản nhất của con người. Chẳng lẽ, con người lại không muốn an toàn, nghĩa là lúc nào người ta cũng thích bị người khác rình rập săn đuổi, cưỡng bức bắt làm nô lệ, bị đánh đập, hắt hủi, đè nén, thậm chí thủ tiêu không khác gì một con sâu bị di mất tiêu?

Chẳng lẽ, con người sống mà không muốn thoải mái, được làm việc, được nghỉ ngơi theo ý muốn của mình mà lúc nào cũng chỉ như con sen thằng ở phải trông chừng ý thích của ông chủ? Chẳng lẽ, mỗi người sống lại không mang hạnh phúc mà chỉ tìm cách hiện diện ở đời như một nô lệ, một cỗ máy phục vụ cho mục đích của người khác, trong khi bản thân mình không có mục đích nào hơn là sinh ra để làm phương tiện?

Chẳng cần lý sự dài dòng, điều hiển nhiên nhất nằm ngay trong máu thịt tự nhiên của con người đó là: cuộc đời không thể sống được nếu không mưu cầu hạnh phúc. Chẳng lẽ, người ta có thể sống khi nơm nớp bị săn như con thú, sống hay chết chỉ nằm trong gang tấc hiểm họa của những nòng súng săn, những cung tên, hay lưỡi dáo? Trước hết, muốn sống thì phải được tồn tại một cách an toàn, nghĩa là cuộc sống không bị cướp đi một cách vô cớ. Tiếp theo, cuộc sống không thể gọi là sống nếu chỉ được tồn tại như một hòn đá nằm vô tri bên bờ suối, hay như một con trâu đang kéo cày cho chủ, hoặc một con lợn đang vục miệng vào chậu cám đầy ú cơm thừa canh cặn để mau chóng trở thành thứ xúc xích cho bữa ăn của chủ hoặc tồn tại như một cỗ máy hoạt động đều đặn không có nổi một chút đời sống của là hồn.

Continue reading

“VĂN HÓA THUẾ”

NGUYỄN GIA HẢO

Bấy lâu nay khi nói tới thất thoát tài sản, đến tham nhũng và lãng phí ta thường nói tới “tài sản nhà nước” mà ít nói tới tiền thuế do người dân đóng góp. Người dân chưa quen và chưa quan tâm biết hàng năm mình đã đóng góp cho Nhà nước bao nhiêu, khác với người dân ở các nước kinh tế phát triển thường nói tới số thuế đóng góp hàng năm hơn là tiết lộ thu nhập của mình.

Người làm công ăn lương trong bộ máy công quyền hầu như chỉ hiểu mình ăn “lương ngân sách” để quản lý… “tiền ngân sách” mà ít thấy ngân sách là hợp thành của các khoản thuế đóng góp của từng người dân bình thường… từ đó mà xác định mọi hành vi ứng xử của mình từ trong công việc hàng ngày cho đến những quốc sách.

Người dân hiểu nộp đủ thuế là nghĩa vụ của mỗi công dân, là quyền lợi của mỗi người dân, tuy phần đóng góp của những người thu nhập còn thấp, còn nhỏ nhoi, song phải có được niềm tự hào vì mình đã đóng góp cho xã hội; hơn thế nữa người dân coi đó là trách nhiệm với đất nước, và, do “của đau, con xót” mà đòi được quyền kiểm soát hiệu quả đồng tiền mình bỏ ra.

Người làm công, ăn lương nhà nước cũng phải hiểu mình đang được nuôi từ tiền thuế của chính mình và mọi người đóng góp để có trách nhiệm với công việc mình được giao, có trách nhiệm quản lý đồng tiền thuế sao cho có hiệu quả, không bị thất thoát và hơn nữa, có được một thái độ đúng với công việc mình làm, nhờ đó, họ sẽ có được thái độ ứng xử đúng với đối tượng mình phục vụ, với người đóng thuế, chăm lo, giúp đỡ cho họ phát triển công việc, phát triển kinh doanh… từ đó mà tăng nguồn thuế, tăng nguồn cải thiện đồng lương…

Continue reading

NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

NGUYỄN VĂN TRỊNH

Nhà ở và vấn đề đời sống của công nhân tại các khu công nghiệp đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Nó là lĩnh vực đòi hỏi sớm có những quốc sách mang tầm chiến lược.

1. Vị trí và thực trạng vấn đề nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp

Phát triển khu công nghiệp tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ (kể cả số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất) và lao động nhập cư. Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới và mở rộng, các dự án hoạt động trong khu công nghiệp. Chỉ tính riêng trong thời kỳ 2001 – 2005, các khu công nghiệp đã thu hút thêm 65,6 vạn lao động trực tiếp, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước (1991 – 2000).

Tính đến tháng 7-2006, cả nước có 135 khu công nghiệp và khu chế xuất được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thu hút trên 865,64 nghìn lao động trực tiếp. Số lao động trực tiếp này chủ yếu tập trung tại một số tỉnh, thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 14,3 vạn, tỉnh Bình Dương có hơn 13 vạn, tỉnh Đồng Nai có trên 18,8 vạn. Ngoài ra, nếu tính cả số lao động gián tiếp thì tổng số việc làm được tạo ra từ chương trình phát triển khu công nghiệp khoảng trên 1,2 triệu người. Tỷ trọng lao động nhập cư trong tổng số lao động làm việc trong các khu công nghiệp của cả nước chiếm bình quân khoảng 37%. Tuy nhiên, ở các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương tỷ lệ này chiếm trên 50%.

Continue reading

KHI TIỀN “NGỒI XỔM” TRÊN LUẬT PHÁP

NGUYỄN QUANG THÂN

Có những chuyện xẩy ra, có vẻ như là chuyện nhỏ, dễ dàng bỏ qua. Nhưng thực ra thì những chuyện đó chẳng nhỏ chút nào. Chuyện của năm cũ nhưng xem ra còn mới trong năm mới, vì nó báo hiệu sự lên ngôi để tác oai tác phách của đồng tiền.

Những ai có lương tri đều thấy nhức nhối khi nghe tin Cty Thuận Thảo ở Tuy Hoà, một Cty TNHH làm du lịch đang đêm ngang nhiên cho 50 công nhân và xe tải đào bứng và vận chuyển nhiều cây bàng biển lâu năm dọc đường Trần Phú về khu resort cao cấp “của nhà mình” nằm gần đó. Một vụ ăn cướp trắng trợn ngang nhiên lấy của công làm của tư. Chuyện tưởng như đùa, không ai nghĩ lại có thể xảy ra trong một xã hội có chính quyền, có luật pháp. Lý do mà bà giám đốc Thuận Thảo nêu ra cũng rất hồn nhiên: Cty Thuận Thảo cần có cây xanh lâu năm mang về khu rờ-xọt để “phục vụ nhân dân” dịp Tết!
Chính xác hơn, Thuận Thảo cần cây xanh để thu hút khách hàng, làm ra lợi nhuận. Cần thì bứng chứ sao! Cái lý do “phục vụ nhân dân” nghe cũng giả dối làm sao! Giả dối vì, nhân dân Tuy Hoà bao năm nay được đi dưới bóng dâm của những cây bàng biển, từ nay phải trả tiền mới được Thuận Thảo “phục vụ”, không phải thênh thang trên đường mang tên Trần Phú mà trong khu nghỉ ngơi của Cty Thuận Thảo. Mọi người đều biết rằng, cái giá để được vào khu rờ-xọt  thường không rẻ chút nào, chắc dân nghèo không mấy người tới được!

Continue reading

NGHĨ VỀ SỰ ĐỒNG THUẬN

NGUYỄN QUANG THÂN

Đồng thuận của xã hội về một vấn đề quan trọng nào đó không đòi hỏi sự nhất trí 100 phần trăm của mọi thành viên, mọi tầng lớp. Nhưng đồng thuận nào cũng phải quanh hạt nhân CHÂN LÝ – SỰ THẬT. Nếu chân lý được nhận nhầm, xã hội phải gánh chịu hậu quả và phải sửa sai. Đồng thuận trên cơ sở chân lý là điều kiện không thể thiếu để một quốc gia, một dân tộc phát triển bền vững.

Lịch sử dân tộc đã hơn một lần cho ta kinh nghiệm hào hùng về sự đồng thuận. Hội nghị Diên Hồng đời Trần là biểu hiện đồng thuận của toàn dân, nhờ vậy mà chúng ta đã ba lần đánh đuổi được đội quân xâm lược hùng hậu nhất thế giới thời đó. Cách mạng tháng Tám là sự đồng thuận không tỳ vết khi “toàn dân đứng đều lên một ngày” giành nền độc lập sau tám mươi năm nô lệ. Trong ký ức không thể tàn phai của rất nhiều người đang sống hôm nay, cuộc cách mạng đẹp đẽ đó đã kết dân tộc thành một khối nam châm với sức quyến rũ thần kỳ. Thời đó, từ anh phu xe đến ông vua đều chào đón độc lập tự do với niềm vui như nhau là rủ bỏ được cuộc đời nô lệ, làm công dân một nước độc lập.

Continue reading

BÀ BỘ TRƯỞNG VÀ TINH THẦN CHẤP PHÁP

NGUYÊN LÊ

Phát biểu trong phiên chất vấn trước Quốc hội với tư cách bộ quản lý ngành lao động, mặc dù câu trước vừa nói pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông, câu sau bà đã “công nhận” vai trò của lực lượng này với lý do nhiều nhà thầu nước ngoài không tuyển được lao động trong nước. Hơn nữa, bà phải biết rõ những nhà thầu nước ngoài mang theo lao động phổ thông đều là nhà thầu Trung Quốc…

Chưa bàn đến chuyện có thật là pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông hay không vì nghị định 34/2008/NĐ–CP của chính phủ về quản lý và tuyển dụng lao động nước ngoài vào nước ta làm việc do bộ bà soạn thảo không phân định rõ ràng. Còn trên thực tế, một số địa phương hiểu là không cấm, nên đã cấp phép, thậm chí có địa phương còn chỉ đạo cấp phép thật nhanh, cấp bao nhiêu tuỳ ý… nhà thầu.

Ở đây, xin bàn về sự “công nhận” của bà. Với tư cách bộ trưởng, hẳn bà phải hành xử theo… luật. Nếu quả thực tin rằng pháp luật cấm lao động phổ thông nước ngoài thì phát ngôn của bà phải trên cơ sở quy định của luật. Giả sử đúng là lao động phổ thông nước ngoài có vai trò nhất định nào đó thì bà cũng không nên công nhận điều đó trước Quốc hội, nơi bà đang phải trả lời chất vấn về trách nhiệm đã để xảy ra tình trạng này. Nó vừa không đúng với tư cách bộ trưởng vừa như một sự nguỵ biện công khai cho việc vi phạm pháp luật (vì bà nói là luật cấm) đang bị dư luận phản ứng mà bà là người phải chịu trách nhiệm.

Continue reading

NHẢY VIỆC VÀ VỀ HƯU TẠI CHỨC

TAP CHI BHXH – Trong Đại từ điển tiếng Việt, không có các kết hợp từ này. Chúng là những đơn vị ngôn ngữ mới xuất hiện gần đây, dùng để chỉ những hiện tượng, những trạng thái mới có trong đời sống xă hội ta.

Hiện tượng "nhảy việc"

Trước hết xin bàn về hiện tượng “nhảy việc”. Đó là t́nh trạng một số người lao động trẻ có tay nghề cao sau khi đă đi làm yên ổn tại một cơ quan, đơn vị nào đó, lại tự dưng xin bỏ việc để nhảy sang cơ quan, đơn vị khác làm. Mà không chỉ nhảy một lần. Rất nhiều người thâm niên công tác c̣n rất ít nhưng đă nhảy việc đến nhiều nơi, làm nhiều loại công việc khác nhau. Hiện tượng này đă trở nên phổ biến và được đặt ra thành một vấn đề trong xă hội.

Về nguyên nhân th́ tựu trung có hai loại: (1) một số bạn trẻ có năng lực và tâm huyết không bằng ḷng với công việc hiện tại, từ chuyên môn nghiệp vụ, môi trường công tác, đến tiền lương và cơ hội thăng tiến, nên họ nhảy việc để t́m đến một chỗ làm tốt hơn; (2) một số bạn trẻ không thể thích ứng nổi với công việc, nên đă phải bỏ nơi công tác này đi t́m nơi làm mới, cá biệt có người không thể làm nổi một công việc ǵ, nên họ phải liên tục nhảy việc, dù có chủ động nhảy hay không.

Continue reading

CẢNH SÁT GIAO THÔNG VÀ THƯỜNG PHỤC

HUY ĐỨC

Tai nạn giao thông có thể gây ra tai hoạ vô cùng thảm khốc, nhưng nó lại thường xảy ra vì sự bất cẩn nhiều hơn là vì một “âm mưu”. Để hạn chế tai nạn giao thông, không ai sử dụng “trinh sát mật” hay “đặc tình” mà chủ yếu công khai nhắc nhở những người đi đường cẩn thận. Thế nên mới có không ít băn khoăn khi thông tư 27 của bộ Công an lại “cho phép lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) được mặc thường phục để tuần tra, kiểm soát”.

Những CSGT “hoá trang” này “khi cần, sẽ bí mật sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; có quyền chặn người đi đường”. Đại tá Vũ Đỗ Anh Dũng, cục phó cục CSGT, giải thích rằng: “Nhiều trường hợp xe không mang biển hay lắp biển giả để đi cướp, khi bị phát hiện thì tìm mọi cách chống trả quyết liệt hoặc bỏ chạy… Rất cần một bộ phận mặc thường phục phát hiện, tạm giữ, sau đó phối hợp với lực lượng công khai”.

Những đối tượng đã “mang biển số giả để đi cướp” thì phải được coi là “tội phạm hình sự”, cảnh sát hình sự có đủ lực lượng và khi cần thì phối hợp với CSGT chứ không thể để cho CSGT mặc thường phục “đi theo bọn chúng”. Mặt khác, những “phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ” như camera, máy bắn tốc độ, máy đo nồng độ cồn… tại sao lại phải sử dụng trong “bí mật”?

Continue reading

GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH GIAO LƯU, HỘI NHẬP

GS. ĐINH XUÂN LÂM – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc là cái "hồn", là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn cước của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập.

Trải hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã rèn đúc, tôi luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Đó là năng lực chế ngự thiên nhiên, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong chống giặc ngoại xâm; sự hình thành một hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc với tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cố kết cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, lấy nhân nghĩa làm gốc; trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng nhà – làng – nước; trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc; hòa hợp đề hòa đồng, cần cù, khiêm tốn, giản dị trong lối sống,… Tất cả tạo thành nhân cách của con người và được nhân dân làm thành nhân cách, cốt cách của dân tộc Việt Nam.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP (CSR): Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam

NGUYỄN ĐÌNH CUNG & LƯU MINH ĐỨC

Thời gian gần dây, du luận dang quan tâm chặt chẽ và bức xúc dối với hàng loạt vụ vi phạm dạo dức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng; diển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam. Sự dúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng. Tuy nhiên, dối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp dang hoạt dộng khác, bài toán về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lại duợc dặt ra và cần duợc thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận chính sách và thực tiễn.

Một công ty cần phải làm những gì dể có thể duợc xã hội dánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của co quan quản lý nhà nuớc tới dâu? Luật nên quy dịnh trách nhiệm của doanh nghiệp dến mức dộ nào thì hợp lý? Và phải chang nguời tiêu dùng ở các nuớc dang phát triển nhu Việt Nam có quá ít quyền lực, dễ bị tổn thuong, hoặc họ cung không ý thức duợc dầy dủ và sử dụng hết các quyền và phuong tiện của mình dể bảo vệ những lợi ích chính dáng của họ? Nhằm góp phần giải dáp các câu hỏi trên, chúng tôi tiếp cận từ góc dộ kinh nghiệm quốc tế trong linh vực này với suy nghi rằng các nền kinh tế phát triển dều dã từng dối mặt với những vấn dề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do dó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất dáng dể chúng ta tham khảo.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP – CSR: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CSR Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH CUNG – LƯU MINH ĐỨC

Thời gian gần dây, du luận dang quan tâm chặt chẽ và bức xúc dối với hàng loạt vụ vi phạm dạo dức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng; diển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam. Sự dúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng. Tuy nhiên, dối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp dang hoạt dộng khác, bài toán về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lại duợc dặt ra và cần duợc thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận chính sách và thực tiễn.

Một công ty cần phải làm những gì dể có thể duợc xã hội dánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của co quan quản lý nhà nuớc tới dâu? Luật nên quy dịnh trách nhiệm của doanh nghiệp dến mức dộ nào thì hợp lý? Và phải chang nguời tiêu dùng ở các nuớc dang phát triển nhu Việt Nam có quá ít quyền lực, dễ bị tổn thuong, hoặc họ cung không ý thức duợc dầy dủ và sử dụng hết các quyền và phuong tiện của mình dể bảo vệ những lợi ích chính dáng của họ? Nhằm góp phần giải dáp các câu hỏi trên, chúng tôi tiếp cận từ góc dộ kinh nghiệm quốc tế trong linh vực này với suy nghi rằng các nền kinh tế phát triển dều dã từng dối mặt với những vấn dề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do dó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất dáng dể chúng ta tham khảo.

Continue reading

TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI DÂN SỐ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

NGUYỄN VĂN TUÂN

Sau 15 năm (1993-2008) thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình, tình hình dân số nước ta đã có những thay đổi căn bản. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006, Việt Nam có khoảng 84.155.800; năm 2008 con số đó không dưới 86 triệu, là nước đông dân thứ 13 thế giới. Tuy nhiên, cùng với xu hướng biến động của dân số thế giới, dân số Việt Nam cũng đang chịu những tác động lớn trong thay đổi về mức sinh, mức chết, tình trạng già hoá và vấn đề di cư…

Mức sinh, mức chết giảm nhưng có sự khác nhau giữa các vùng

Để đo lường mức sinh, người ta dùng nhiều chỉ tiêu, thông thường nhất là “tỷ suất sinh thô”, tỷ suất này biểu thị số trẻ được sinh ra trong 1 năm, tính trung bình trên 1.000 dân. Tỷ suất sinh thô của Việt Nam năm 1957 là 44%0. Sau 50 năm đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình, tỷ suất này giảm xuống còn 17,2%0 năm 2007. Tuy “tỷ suất sinh thô” giảm nhiều so với dân số lớn nên số trẻ em sinh ra trong một năm hiện nay vẫn tới khoảng 1,5 triệu em. Tỷ suất sinh thô ở Việt Nam giai đoạn 1998-2007 có chiều hướng giảm, song giữa các năm có sự biến động: Năm 1999 tỷ suất sinh thô là 19,9; đến năm 2001 còn 18,6; tuy nhiên đến năm 2002 tỷ suất sinh thô lại tăng lên 19; năm 2003 giảm xuống 17,5; năm 2004 tăng lên 19,2; năm 2005 giảm xuống 18,6 và đến năm 2007 còn 17,2.

Bên cạnh đó, mức sinh rất khác nhau giữa các vùng trong cả nước. Tổng tỷ suất sinh ở Tây Nguyên (3,1 con) cao hơn rất nhiều ở miền Đông Nam bộ (1,7 con). Sự chênh lệch giữa các tỉnh còn lớn hơn: từ 1,5 con ở thành phố Hồ Chí Minh đến 3,9 con ở Kon Tum. Mặt khác, mức sinh cũng có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn nhưng không lớn: 2,3 con và 1,7 con.

Continue reading

THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG CỦA KHU VỰC NHÀ NƯỚC CAO HAY THẤP?

NGUYỄN QUANG A

Tổng cục thống kê mới công bố thu nhập bình quân hằng tháng của lao động khu vực nhà nước (năm 2006) là 1829,9 ngàn đồng/tháng. Nhiều người kêu thu nhập như thế là quá thấp. Tất nhiên so con số tuyệt đối với các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật thì hẳn là thấp, song so sánh như vậy là không ổn, là khập khiễng và méo mó. Phải so với những người lao động khác ở trong nước. Hãy xem thực hư thế nào?

Xem xét kỹ hơn thì thấy hơn một nửa số lao động đó là trong lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, khai khoáng… Số người này không có thu nhập từ ngân sách mà từ hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thực ra các tổ chức này phải tự lo theo cơ chế thị trường và nếu có so sánh thì nên so với khu vực tư nhân tương ứng mới có ý nghĩa. Nếu thu nhập của họ thấp hơn thu nhập của lao động tương tự trong khu vực tư nhân (và thu nhập chính thức của họ chắc là thấp hơn thu nhập của người tương tự ở khu vực tư nhân), thì điều đó có thể có những ý nghĩa gì? Nó có thể chứng tỏ sự yếu kém của khu vực kinh tế quốc doanh (hay sự bóc lột nhiều hơn của chủ sử dụng lao động!?) và chỉ riêng vì lý do này (và nhiều lý do chính đáng khác) nên cải tổ triệt để khu vực này theo hướng tư nhân hóa. Liệt họ vào đây cũng có cái lý vì họ thuộc khu vực nhà nước, song có thể gây ra lẫn lộn giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nhà nước.
Trong phân tích tiếp theo chúng ta loại họ ra và chỉ xem xét phần công chức, viên chức nhà nước.
Gần hai triệu người có thu nhập chủ yếu từ ngân sách: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (464,7 ngàn người; 1300,9 ngàn đồng), giáo dục đào tạo (1115,1 ngàn người; 1543,8 ngàn đồng), y tế (229,1 ngàn người; 1555,5 ngàn đồng), thể thao văn hóa (44,4 ngàn người; 1601,1 ngàn đồng), đảng, đoàn thể và hiệp hội (109,8 ngàn người; 1252,6 ngàn đồng). Chính vì thế khi tính trung bình và phân tích lĩnh vực nào thấp, lĩnh vực nào cao, hơn nhau bao nhiêu lần, sẽ mất ý nghĩa khi gộp chung như vậy. Có lẽ nên tách bạch ra sẽ đỡ gây nhầm lẫn hơn.

Continue reading

ĐÀNH PHẢI KIÊN NHẪN THÔI!

LÝ LAN

Tôi đã trở lại trạm chờ xe buýt đó để chụp một tấm hình, trong trường hợp miêu tả bằng lời của tôi không gợi được trí tưởng tượng của người đọc.

Đây là một đoạn vài chục mét ở góc đường Nguyễn Thị Minh Khai và Cách Mạng Tháng Tám. Trên hình có thể thấy lần lượt: một thùng rác công cộng màu xanh lá cây mới toanh, một gốc cây dầu cổ thụ, vỏ cây mốc thếch nứt nẻ, một trụ sắt sơn màu xanh dương cạnh một chàng trai trẻ, đó là trụ cắm bảng ghi các tuyến xe buýt dừng ở trạm này. Trụ xi măng cạnh đó là cột đèn đường, và cái trụ xanh lơ chống đỡ cái khung kiếng chữ nhật là cột điện thoại công cộng. Tiếp đến là hai gốc cây dầu nữa, một cây bị gắn tấm bảng to thông báo hay tuyên truyền gì đó, cuối cùng là cột đèn giao thông.

Chắc có người đang chau mày nghĩ xem câu đố núp ở chỗ nào. Ôi, có đố điếc gì đâu, tôi chỉ muốn ghi lại một góc đường Sài Gòn quen mà lạ, cũ mà mới.

Quen vì góc đường này tôi đi lại không biết bao nhiêu lần thuở còn là nữ sinh, rồi bẵng đi ba mươi mấy năm trời không có dịp đạp xe thong thả ngang qua ngắm trái dầu bay, bỗng dưng hôm nay tôi nhận ra mình đang đứng chờ xe buýt đúng cái chỗ mà ngày xưa có một người đứng chờ tôi đạp xe ngang qua để chạy theo! Những trụ đèn đường, điện thoại công cộng, trụ bảng xe buýt, kể cả cái thùng rác, đều là những vật mới bổ sung vào ba gốc cây dầu cũ kỹ ngày nào!

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. HOÀNG THÚY YẾN

Sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là một việc mới mẻ. Kết quả hồi quy sử dụng dữ liệu mảng của 64 tỉnh từ năm 1999-2003, cho thấy bất bình đẳng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Giải pháp gì nhằm giải quyết hữu hiệu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế, đó là nội dung chính của bài viết dưới đây.

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế, song nghiên cứu này tập trung chủ yếu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu mảng nhằm làm tăng độ chính xác và bộ số liệu cập nhật theo thời gian nhằm khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước. Hơn nữa, nghiên cứu này có thể được xem là một nghiên cứu thực chứng nhằm góp phần tìm ra các tác động bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế. Continue reading

TIẾNG NÓI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CÓ GIÁ TRỊ?

PHAN THANH TỊNH

Khi xây dựng hệ thống pháp luật kinh doanh, các cơ quan chức năng thường tham khảo ý kiến của doanh nghiệp, đối tượng liên quan trực tiếp và chịu sự điều chỉnh của hệ thống các văn bản này. Song hiện nay, nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đang thiếu tiếng nói của doanh nghiệp, vì sao?

Mỗi văn bản điều chỉnh về một lĩnh vực nào đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Bởi vậy khi được tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến cho một dự thảo văn bản pháp luật, các doanh nghiệp phải thể hiện được nguyện vọng trong những hoạt động này. Nói cách khác, ý kiến tham gia đóng góp, phản biện của cộng đồng doanh nghiệp đối với các văn bản pháp luật kinh doanh là một kênh quan trọng để “đưa hơi thở của cuộc sống vào đường lối, chính sách”. Việc làm này cũng đồng thời khắc phục tình trạng đơn phương, áp đặt những chính sách bất hợp lý, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp “không mặn mà”, thậm chí đã nản lòng với việc góp ý xây dựng văn bản pháp luật. Tại Hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách” được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức vừa qua, nhiều ý kiến cho rằng tình trạng một số cơ quan ban hành văn bản pháp luật đã “phớt lờ” ý kiến của doanh nghiệp vẫn chưa được khắc phục. Ðơn cử như việc lấy ý kiến góp ý của doanh nghiệp đối với dự thảo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt do VCCI tổ chức trong thời gian qua, nhiều ý kiến đề nghị xóa bỏ việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các mặt hàng đang dần được “thiết yếu hóa” với đời sống hiện nay như bia hơi, máy điều hòa nhiệt độ… Nhưng rốt cục đã không có sự khác biệt giữa luật ban hành và bản dự thảo trước đó, có nghĩa là nhiều ý kiến của các doanh nghiệp đã không được ghi nhận. Như vậy phải chăng tiếng nói của doanh nghiệp không có giá trị? Continue reading