XIN ĐỪNG VẼ VOI!

QUỐC DŨNG

Có rất nhiều văn bản quy định được đánh giá là thừa, vì nội dung của nó đã được quy định tại văn bản khác. Và vì đã được quy định tại các văn bản khác, mà quy định mới này sẽ chẳng thể có tác dụng nâng cao hiệu quả quản lý.

Thiếu thì… cấm !

Chỉ trong thời gian ngắn, Ban an toàn giao thông (ATGT) thành phố Hải Phòng đã có tới 2 lần ra văn bản chỉ với một mục đích: cắm biển hạn chế tải trọng trên đường 353 (Hải Phòng – Đồ Sơn). Lần đầu, vào 2/11/2009, Ban này ban hành Văn bản số 63/TB-BATGT với 3 nội dung. Đó là: cấm xe tải trọng trên 30 tấn chạy trên tuyến đường này; yêu cầu các chủ phương tiện chuyên chở vật tư, vật liệu liên hệ với Sở GT-VT để làm thủ tục cấp giấy phép chuyên chở vật liệu, vật tư trên tuyến đường này; Cấm các phương tiện chuyên chở vật liệu xây dựng chạy trên tuyến đường này trong khoảng thời gian từ 6h – 22h hàng ngày.

Vài ngày sau, không hiểu do tác động từ đâu, Ban ATGT thành phố Hải Phòng lại ban hành văn bản khác, điều chỉnh nội dung lệnh cấm theo hướng thu hẹp lại. Tức là chỉ còn cấm xe có tải trọng trên 3,5 tấn chở đất, cát, đá, sỏi hoạt động trên tuyến đường 353 trong khoảng thời gian từ 6h – 22h hàng ngày.

Vậy thì tại sao phải có văn bản cấm này và có cần thiết phải ban hành văn bản cấm này hay không ? Theo giải thích của Sở GT-VT, vì các xe chở đất, đá, cát, sỏi là “đối tượng” chính gây ô nhiễm môi trường và tăng cao nguy cơ mất ATGT trên tuyến. Tuy nhiên, nhìn vào quy trình ban hành, vẫn có thể thấy những điều chưa thuận. Tại văn bản đầu tiên (63/TB-BATGT ngày 2/11/2009), Ban ATGT thành phố đã vi phạm Luật DN khi ban hành “giấy phép con” với các phương tiện hoạt động trên tuyến. Dù kinh doanh vận tải, chở vật liệu xây dựng không là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tại văn bản thứ 2, việc cấm các phương tiện được chạy vào ban ngày cũng chưa thể coi là hợp lý. Vì lẽ, hiện có đầy đủ các quy định về tải trọng, tốc độ, bảo đảm môi trường, ngăn chặn rơi vãi… áp dụng với xe vận tải nói chung, vật liệu xây dựng nói riêng. Mà nếu cứ chiểu theo, thi hành đúng các văn bản này, thì hiện tượng rơi vãi, mất ATGT từ các phương tiện chuyên chở đất, đá, cát, sỏi… trên tuyến đường 353 sẽ mặc nhiên không còn, mà không cần tới lệnh cấm của Ban ATGT thành phố. Như vậy, hoàn toàn có thể xem văn bản này như sự hạn chế quyền hoạt động của DN đã được công nhận tại Luật DN. Cái thiếu ở tuyến đường 353 của Hải Phòng là một lực lượng đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm của DN trong chuyên chở vật liệu xây dựng, thay vì thiếu văn bản quản lý.

Continue reading

LÀM LUẬT VÀ LỢI ÍCH BỘ, NGÀNH…

TƯ GIANG

Các nhà soạn thảo luật Giáo dục ở bộ Giáo dục và đào tạo vẫn đang ôm món nợ với Quốc hội và đặc biệt là người dân: họ đã khất lần không chịu thể chế hoá tới 27 nội dung trong luật Giáo dục ban hành cách đây bốn năm dưới dạng các văn bản hướng dẫn. Dù vậy, bộ này tiếp tục trình xin Quốc hội sửa luật Giáo dục tại kỳ họp đang diễn ra.

Không riêng bộ Giáo dục, các bộ khác cũng đang nợ việc hướng dẫn tới 300 nội dung trong các luật chuyên ngành thuộc lĩnh vực họ quản lý dù các luật đó đã được Quốc hội thông qua từ lâu. Trong số đó, các bộ luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, môi trường, doanh nghiệp là tồn đọng nhiều nhất. Như vậy, về nhiều góc độ, các bộ luật đó khó mà triển khai tốt trong thực tế do thiếu nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Uỷ viên uỷ ban Pháp luật của Quốc hội Ngô Văn Minh nói: “Vì sao các bộ không có hướng dẫn thi hành luật, gây khó khăn cho cuộc sống của người dân và doanh nghiệp? Đó là do họ né tránh, giành phần thuận lợi về phía mình với tư cách là nhà quản lý, đẩy phần khó về phía người dân”.

Quả vậy, không giống nhiều nước khác trên thế giới, các bộ luật chuyên ngành ở Việt Nam thường được các bộ phụ trách soạn thảo rồi mới trình Quốc hội thông qua. Có nghĩa là, nói một cách đơn giản, các cơ quan hành pháp đang chia sẻ nhiều trách nhiệm với cơ quan lập pháp. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng “giành phần thuận lợi” cho các cơ quan quản lý trong tiến trình xây dựng luật và hướng dẫn thi hành luật.

Không thiếu ví dụ để chứng minh thực tế này. Các chuyên gia soạn thảo luật Bưu chính đang trình Quốc hội xem xét đã đề nghị bảo vệ vị trí độc quyền của tổng công ty Bưu chính Việt Nam. Như vậy, họ đã cố gắng thuận lợi hoá việc quản lý nhà nước và ngăn cản các doanh nghiệp khác chen chân vào lĩnh vực này.

Continue reading

PHỤ NỮ LÀ GÌ?

GIÁP SƠN

Có một câu hỏi có tính triết học, vấn đề mang tính nhân loại "Chúng ta là ai, từ đâu đến?". Chính vì đi tìm câu trả lời này mà con người phát triển thành con người văn minh. Nhưng dường như lời giải cho câu trả lời ấy quá khó, không phải là trả lời trong một hai nghìn năm mà được, nên loài người văn minh lại đặt ra câu hỏi khác, lúc đầu tưởng như dễ hơn, là một nửa của câu hỏi trên đây. Đó là: “Phụ nữ là gì?"

Phụ nữ là một nửa nhân loại. Kể từ khi môn xác suất thống kê ra đời, lại có câu trả lời chính xác hơn, là trong một cộng đồng dân cư phụ nữ bao giờ cũng chiếm một số cụ thể từ 51-52%. Tại sao vậy? Tại sao nữ giới bao giờ cũng có số lượng nhỉnh hơn nam giới? Đó là một bí mật của tự nhiên.

Kinh Thánh lý giải về người phụ nữ rất đơn giản trong câu chuyện về Adam và Eva. Thượng đế lấy cái xương sườn của người đàn ông Adam thổi linh hồn vào đó mà thành người đàn bà Eva. Tôi là người theo rường phái tôn trọng tự do tín ngưỡng, và tôi cũng tôn trọng tự do tư tưởng, nên tôi ngưỡng mộ Kinh Thánh, nhưng không khỏi mỉm cười khi nghe truyền thuyết này. Đó là câu chuyện của thời đại phụ hệ, nhuốm màu "trọng nam khinh nữ". Đức Chúa và Thượng đế hẳn đều là đàn ông. Các vị làm ra bà Eva là để cho ông Adam khỏi buồn vì cô đơn đấy mà thôi. Sau khi khám phá ra thuật nhân bản vô tính, các nhà bác học của thế kỷXXI mới té ngửa ra rằng, khoa học kỹ thuật của họ còn lâu, rất lâu nữa mới có thể mon men đến phòng thí nghiệm của Thượng đế, lấy mầm phôi từ xương sườn người đàn ông, lại nhân bản và điều chỉnh thế nào đó mà sinh ra một người đàn bà?

Cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng phụ nữ cứ dai dẳng hơn hai nghìn năm nay, quả là một cuộc đấu tranh vĩ đại. Nhưng làm sao một cái xương sườn lại có thể đòi quyền bình đẳng với một con người chỉ thiếu một cái xương sườn? Trong cuộc đấu tranh này, điều lạ lùng là ngay cả những người không theo Thiên Chúa, không bị ảnh hưởng của thuyết Adam – Eva, cũng không thấy sáng sủa hơn. Tôi thì cho rằng, phụ nữ đã có sai lầm nào đó không nhận ra để lấy đó làm bài học cho mình, và biết đâu nhận chân ra bài học này, cuộc đấu tranh vì nữ quyền có thể tiến đến giai đoạn mới.

Continue reading

HẠNH PHÚC KHÔNG CẦN ĐÁM ĐÔNG

TRANG HẠ

Trước ngưỡng cửa ba mươi, có phụ nữ chọn chồng để được làm mẹ, có phụ nữ chọn làm mẹ ngoài ra không chọn gì khác. Cả hai đều dũng cảm như nhau. Thậm chí người ta vẫn nói làm mẹ một mình là những phụ nữ dũng cảm, mạnh mẽ. Tôi lại thấy những phụ nữ chọn chồng để được làm mẹ mới thật sự là dũng cảm. Chỉ vì muốn làm mẹ, phải rước cả một ông chồng vào đời mình.

Tôi vẫn bảo với những cô bạn đơn thân muốn tìm lời khuyên, rằng, hãy xem, tôi chỉ hơn bạn có mỗi một tờ giấy thôi, đó là tờ đăng ký kết hôn, nhưng tôi thua kém bạn tất cả: cơ hội phát triển trong sự nghiệp, quyền tự quyết, thời gian chăm sóc bản thân, sự tự chủ trong đời, sự độc lập về tinh thần, và thậm chí không có nhiều cơ hội được ngủ dang tay chân trên một chiếc giường lớn không vướng víu.

Sự thực là trong những năm sống một mình, tôi cũng vẫn luôn luôn thèm được ngủ dang tay chân trên một chiếc giường lớn không vướng víu (thay vì chiếc giường đơn phủ chăn đơn trên một chiếc gối đơn). Tuy nhiên sự độc lập của người phụ nữ rất rõ ràng, khi bạn kết hôn so với khi bạn độc thân.

Vì khi độc thân, bạn có quyền chọn bố cho con, bất cứ lúc nào. Tôi có gặp một trường hợp, sẵn sàng ra nước ngoài thụ tinh nhân tạo để đứa con tóc vàng mắt xanh, đẹp như tranh vẽ, như mơ ước. Hoặc như tôi, quay trở về Việt Nam vì quyết định đứa con của mình phải là người Việt Nam từ trong dòng máu, để nó biết yêu nước từ trong bụng mẹ bằng một bản năng của người Việt.

Khi bạn kết hôn, hãy thú thật đi, có bao nhiêu phần trăm người kết hôn vì muốn con mình sẽ có nhan sắc và tính tình như người đàn ông đang đeo nhẫn cưới cho mình? Hay bạn kết hôn vì lỡ có bầu, vì bố mẹ giục, vì yêu, vì đã yêu, vì cần một chỗ dựa, vì đã yêu nhau quá lâu, vì không còn sự lựa chọn nào tốt hơn, vì tiền, vì những lý do khác không sao giải thích nổi? Tôi có người bạn lấy chồng vì quá hâm mộ chồng, nhưng kết cuộc, chồng cô lại không hâm mộ cô được như cô mong, họ đã chia tay rồi, không con cái.

Continue reading

TRỐN HỌP VÀ LƯỜI VỖ TAY

TÔ VĂN TRƯỜNG

Việt Nam ta có nhiều cái hay nhưng cũng có nhiều cái dở. Người Việt Nam hiện đại cũng thế! Lâu nay, chúng ta cứ nói nhiều cái hay, cái tốt của mình, nay thử  nói  hai  trong số những cái xấu xem sao. Khốn nỗi hai cái xấu này phần lớn lại rơi vào tầng lớp có học được hưởng thụ đời sống văn minh đô thị. Đó là thói quen trốn họp và lười vỗ tay.

Trốn họp ở đây không có nghĩa là không đến họp, thậm chí còn hăng hái đến họp không quên ghi tên nhận tài liệu (đôi khi còn nhận được phong bì bồi dưỡng). Sau khi nhận tài liệu, thì nghĩa vụ dự họp coi như đã hết, nên khi vào phòng họp cố chọn chỗ ngồi gần cửa “thoát hiểm” để dễ “lặn” hoặc chỉ mong cho đến giờ giải lao để ra đi không hề trở lại! Đây có thể nói là phông văn hóa và ý thức trách nhiệm của người đi dự họp. Việc này, diễn ra nhiều lúc, nhiều nơi ở hầu hết tất cả các cấp kể cả các hội thảo quốc tế có quan chức và các nhà khoa học. Minh chứng là Diễn đàn quốc gia về giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu diễn ra ngày 7/10 tại Hà Nội vừa qua, được xác định là hội nghị quan trọng, thiết thực, đầu buổi sáng rất đông đại biểu nhưng cuối giờ chiều chỉ còn khoảng 5 đại diện các tỉnh, trong khi đại diện các tổ chức quốc tế vần còn đông đủ!?    

Cái thói xấu thứ hai là lười vỗ tay. Vỗ tay biểu thị sự đồng thuận, tình cảm, động viên lẫn nhau đối với những bài diễn thuyết, biểu diễn hay trên sân khấu hoặc thi đấu đẹp, hiệu quả trên các sân vận động của diễn viên và vận động viên thể thao. Có nhiều trường hợp vỗ tay còn là sự thông cảm, chia sẻ, an ủi khích lệ với đội thua hoặc không may gặp pha biểu diễn hỏng của vận động viên. Lịch sử loài người từ rất lâu đã hình thành văn hóa vỗ tay nhưng tiếc thay ở Việt Nam người ta quá tiết kiệm những tràng vỗ tay. Phải chăng thói vô cảm trong xã hội đã len dần sang cả lĩnh vực văn hóa!?

Continue reading

SUY NGẪM 40

loveflowers_main Khuyến khích “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là chủ trương chậm nhưng vẫn chưa muộn. Thực thi chủ trương này không chỉ đơn giản hô hào khẩu hiệu, vận động hình thức mà  cần có những giải pháp chiến lược:

1. Nhà nước và  quan chức phải xác định mình là người tiêu dùng Việt Nam. Khi xe chở đoàn đại biểu quốc hội trong các kỳ họp sản xuất tại Nhật Bản, Hàn Quốc… hay đồ dùng cá nhân của thành viên Chính phủ, Chủ tịch, phó chủ tịch các tỉnh là hàng hiệu nước ngoài … thì tư tưởng sính ngoại có còn tồn tại trong dân!?

 2. Phải tạo môi trường pháp lý ưu tiên lựa chọn, sử dụng sản phẩm an toàn và đem lại lợi ích tốt nhất cho chính người tiêu dùng. Thực tế, người tiêu dùng Việt Nam luôn có cảm giác bị “bỏ rơi” do pháp luật về bảo vệ quyền của họ rất yếu và thiếu. Các cơ quan chuyên trách hầu như chỉ xử lý hậu quả mà chưa có giải pháp ngăn ngừa hữu hiệu thiệt hại cho người tiêu dùng.

3. Doanh nghiệp phải có chiến lược sản xuất hàng hóa dành riêng cho người Việt khiến họ tự hào khi dùng nó và là tiêu chí mua sắm của người nước ngoài khi đến với Việt Nam – Điều này hãy học Nhật Bản, Hàn Quốc. Đừng hạ thấp hoặc coi người tiêu dùng Việt Nam như người tiêu dùng ở  thị trường phi nội địa và cũng đừng hạ thấp chính mình với khẩu hiệu “chất lượng ngoại, giá nội”.

4. Cần cân bằng giữa chính sách nội địa với chính sách xuất khẩu. Hàng năm, Bộ Công thương trao giải thưởng dành cho các doanh nghiệp có thành tích xuất khẩu mà hà cớ gì không có giải thưởng dành cho doanh nghiệp phát triển thị trường nội địa.

5. Vai trò của cá nhân, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, truyền thông rất quan trọng. Thói quen tiêu dùng của họ có thể ảnh hưởng trực diện hoặc gián tiếp đến một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng. Phải có chính sách xây dựng hình ảnh của họ như là biểu tượng đại diện văn hóa tiêu dùng hàng Việt Nam.

6. Việc xây dựng văn hóa tiêu dùng không thể dựa theo khuôn mẫu trình độ văn hóa 10/10 hoặc 12/12 – Vốn có rất nhiều điều phải bàn. Nó phải là sự giao thoa của nền giáo dục tốt, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm với đất nước, quyền được hưởng dụng những gì tốt nhất và được bảo vệ tốt nhất những lợi ích của mình.

CIVILLAWINFOR

Các số khác >>>

BẰNG CẤP VÀ NĂNG LỰC

DIỆP VĂN SƠN

"Cán bộ yếu thì cho đi học, bắt cán bộ giỏi làm thay; đến khi bổ nhiệm thì nhờ có bằng cấp nên cán bộ yếu được đề bạt…"- Chủ tịch nước từng kể lại.

Ðể xem xét việc đòi hỏi công chức lãnh đạo có bằng cấp tiến sĩ có hợp lý hay không, nên tìm hiểu thêm về phương thức quản lý công chức trên thế giới và cũng đang được tiến tới áp dụng ở nước ta. Đó là, hệ thống chức nghiệp và hệ thống theo việc làm hay còn gọi là theo vị trí.

Hai hệ thống quản lý công chức

Theo Hệ thống chức nghiệp thì công chức được tổ chức theo các ngạch và theo ngành chuyên môn. Mỗi ngạch có tiêu chuẩn riêng, muốn được bổ nhiệm chính thức vào ngạch thì phải thi tuyển, muốn được nâng ngạch thì phải tham gia các kỳ thi nâng ngạch. Mỗi ngạch có một bảng tiền lương thích ứng. Theo hệ thống này thì việc đào tạo gắn liền với việc tuyển dụng công chức. Tiền lương của công chức được khuyến khích theo thâm niên và theo các kỳ thi nâng ngạch.

Nước Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh, một số nước khác ở châu Âu và nhiều nước châu Á theo hệ thống này. Tuy vậy, hệ thống này có một số hạn chế nhất là nếu công tác theo dõi, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ hàng năm không tốt sẽ không khuyến khích công chức phát huy hết năng lực trong công tác.Hiện nay đang chủ trương áp dụng hệ thống này đối với công chức thừa hành .

Hệ thống theo việc làm hay còn gọi là theo vị trí công việc là phải thiết kế, xác định yêu cầu, tiêu chuẩn cho từng vị trí cụ thể của công chức. Việc thi tuyển vị trí công chức bố trí vào các vị trí công việc không chỉ căn cứ vào bằng cấp.

Continue reading

BÌNH THƯỜNG VÀ “BÌNH THƯỜNG”

TỪ SƠN

Sau hơn một tháng du ngoạn châu Âu, tuần cuối cùng tôi không may bị đau thần kinh tọa khiến chân trái cứng đơ không đi lại dược. Tình hình sức khoẻ như vậy khiến tôi và “bà xã” hết sức lo lắng. Con trai tôi (đang sống và làm việc tại Thụy sĩ) gọi diện thoại cho hãng hàng không Air France (hãng bay nối tuyến Hanoi- Zurich- Hanoi với Vietnam Airline) và cho văn phòng đại diện Vietnam Airline đề nghị họ bố trí dịch vụ chăm sóc hành khách bị đau ốm bất ngờ hồi hương thuận lợi và an toàn. Hãng hàng không trả lời con tôi: “Xin ngài yên tâm. Đây là trách nhiệm của chúng tôi”.

Sáng sớm 12-9 – 2009, con trai tôi đưa tôi và vợ tôi ra sân bay Zurich. Làm thủ tục xong, nhân viên hàng không đưa chúng tôi dến phòng chờ dành cho người tàn tật. Mấy phút sau, một nam nhân viên đưa xe đẩy tới, mời tôi ngồi lên xe và bảo vợ tôi cùng đi theo. Anh nhân viên nhẹ nhàng đẩy xe đưa tôi theo một đường dành riêng vắng vẻ, lên xuống thang máy và các cửa an ninh đến vài ba lần mới tới được chỗ xe ô tô chuyên dụng đón người ốm ra tận cầu thang máy bay. Nhân viên xe đẩy bàn giao hết sức kỹ lưỡng và dặn dò lái xe đưa chúng tôi đi sao cho chu đáo.

Lái xe nhanh chóng mang hành lý xách tay của chúng tôi đặt lên xe rồi dìu tôi lên chỗ ngồi, tự tay thắt dây an toàn cho vợ chồng tôi và luôn miệng nói: “Tốt, tốt rồi. Ông bà yên tâm”. Đến cầu thang chiếc máy bay City Jet mang số hiệu 5111 của Air France, anh lái xe bảo chúng tôi ngồi yên tại chỗ để anh đi lo thủ tục với phi hành đoàn. Mang hành lý, dìu tôi lên máy bay đều do nhân viên phi hành đoàn lo liệu. Mọi việc xong, lái xe và nhân viên phi hành đoàn ký biên bản bàn giao. Anh lái xe bắt tay chúng tôi, chúc lên đuờng bình yên. Chúng tôi hết lời cám ơn anh. Anh nói: “Đây là nhiệm vụ của chúng tôi. Bình thường thôi mà”.

Trên đường bay tới Paris, tôi bàn với vợ: “Chân anh đã đỡ nhiều có thể túc tắc đi làm tiếp thủ tục check-in ở sân bay Charles De Gaulle được, khỏi phải làm phiền bạn”. Vợ tôi đồng ý vì biết đến Paris chúng tôi còn 3 tiếng đồng hồ chờ đợi mới đến giờ bay về Việt Nam.

Continue reading

SUY NGẪM 39

1442115543_c8f80dba4a Con người là tất cả, chân lý đó luôn đúng. Nhưng nó sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển khi người ta đánh giá sai về con người và sử dụng con người.

Dự thảo “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố Hà Nội” đưa ra mục tiêu: Đến năm 2020, Hà Nội phấn đấu có 100% cán bộ diện Thành ủy quản lý có trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ diện UBND thành phố quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.

Để giải thích cho mục tiêu trên, một thành viên ban soạn thảo Chiến lược nói trên cho rằng: “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”.

Tiến sĩ là  học vị dành cho giới giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đành rằng, nhiều tiến sĩ đã làm công tác quản lý và làm tốt, nhưng không thể đồng nghĩa làm công tác quản lý phải có học vị tiến sĩ.

Thực tế, giáo dục là ngành có nhiều tiến sĩ nhất và là nơi đào tạo tiến sĩ nhưng hiện nay là một trong các ngành cần có sự đột phá nhất về tư duy.

Như TS. Hồ Tú Bảo viết trên tuanvietnamnet ngày 20/09/2009: “Nếu chỉ là ý kiến của một cá nhân thì cũng không có gì phải bàn, nhưng nếu đã thành chiến lược về cán bộ chính quyền của thành phố thì có những điều cần trao đổi”. Chẳng lẽ Hà Nội lại muốn sử dụng “liệu pháp sốc” để có tên trên bản đồ nhiều hơn chăng? Thiết nghĩ không cần thiết như vậy, vì sau một loạt các sự cố ngập lụt, chèn bê tông vào những khoảng cây xanh hiếm hoi, hiệu quả trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa, cấm bán hàng rong  và mới đây lâm tặc chặt cây giữa lòng thành phố… người ta cần Hà Nội có các quyết sách thực chất vì sự phát triển bền vững của thành phố hơn là tư duy lãng mạn, bay bổng ở tầng thinh không.

CIVILLAWINFOR

(Các số liệu được Civillawinfor tổng hợp tử tuanvietnam.net)

Xem các số khác

CÔNG CHỨC CÓ CẦN BẰNG TIẾN SĨ, THẠC SĨ?

TS. PHAN TRUNG HIỀN

Để “bù lại” cho thực trạng năng lực công vụ còn yếm kém, nhiều nơi đã đặt chỉ tiêu về bằng cấp đối với đội ngũ cán bộ, công chức; số phần trăm phải đạt được trình độ tiến sĩ, thạc sĩ trong thời hạn nhất định. Điều này, thoạt nghe có vẻ hợp lý, song tiềm ẩn nhiều vấn đề phải bàn, đặc biệt trong khung cảnh chung của trình độ văn hóa đất nước và sự đồng bộ của nền hành chính hiện nay.

 Bằng cấp không thể là phương tiện

Các chỉ tiêu về tiến sĩ, thạc sĩ và đòi hỏi về trình độ sau đại học thường (và chủ yếu nên) đặt ra với đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu. Là lực lượng tiếp thu và truyền giảng kiến thức, đội ngũ này cần cập nhật, nghiên cứu, bổ sung những thông tin khoa học mới nhất.

Trong khi đó, là lực lượng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chuyên môn hẹp của một cơ quan trong bộ máy và thể chế hành chính chung, cán bộ công chức quản lý chủ yếu cần nắm vững và thừa hành những kiến thức đã ổn định, được nhà nước ghi nhận. Sự sáng tạo trong quản lý, trong một chừng mực nhất định, cũng làm cho các quy định này được hiệu quả hơn trong tình hình cụ thể địa bàn, chứ hoàn toàn không được phép “vượt khung”.

 

Chính vì tính đặc thù này, đội ngũ cán bộ, công chức, trong đa số các vị trí và ngành nghề, ít khi cần đến những bằng cấp thạc sĩ, càng hiếm khi cần đến bằng tiến sĩ. Ngoại trừ các cán bộ công tác trong ngành giáo dục và một số vị trí quản lý quan trọng trong bộ máy nhà nước, các cán bộ quản lý không cần đến trình độ tiến sĩ – trình độ không còn học, mà chỉ cần có khả năng tự nghiên cứu và trở thành chuyên gia khoa học trong chuyên môn hẹp. Continue reading

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DÂN SỐ (NĂM 2009) CHƯA CHO BIẾT TỶ LỆ THẤT NGHIỆP

NGUYỄN VĂN SƠN

Tỷ lệ tăng dân số đáng khích lệ

Rất mừng là tỷ lệ tăng dân số bình quân trong mười năm qua (1999 – 2009) đã giảm một cách đáng kể, từ 1,7%/năm của thời kỳ 1989 – 1999 còn 1,2%/năm (dù mỗi năm dân số tăng gần một triệu người). Tỷ lệ này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế có hiệu quả hơn vì GDP đầu người sẽ tăng cao hơn, gánh nặng xã hội sẽ nhẹ hơn.

Riêng về sự chênh lệch giới tính càng ngày càng cao thì “sự tranh đấu” của phái nam khi có vợ càng cao, phái nữ càng có “giá” hơn do khan hiếm. Nếu không có biện pháp hợp lý về kế hoạch hoá gia đình thì chắc trong vòng mười năm tới, thanh niên sẽ phải sang các nước khác để tìm vợ như Trung Quốc, Hàn Quốc… hiện nay.

Nông thôn không đô thị hoá kịp

Tiến về thành thị là một xu hướng tự nhiên của bất cứ nhân dân nào trên thế giới và chính quyền nào cũng lo “o bế” thành thị, đầu tư vào thành thị nhiều tiện nghi cho cuộc sống, sản xuất, kinh doanh, quyền lợi chính trị xã hội, từ đó lại dẫn đến tiếp tục thu hút dân từ nông thôn đến để để kiếm sống, hưởng tiện nghi, để có “tiếng nói” hơn…

Thành thị nào có tỷ lệ đô thị hoá càng cao thì tốc độ tăng trưởng dân số cũng càng cao, như Đông Nam bộ có tỷ lệ đô thị hoá đạt 57,1% thì tốc tăng dân số rất cao: TP.HCM 3,5%/năm, Bình Dương 7,3%/năm.

Sự tập trung dân số cao vào đô thị, đầu tiên sẽ dẫn đến sự “ô nhiễm do mật độ” mà chúng ta đã thấy hiện nay tại các đô thị lớn của Việt Nam như TP.HCM, TP Hà Nội, và một số đô thị loại 1, loại 2, thậm chí loại 3, trong mọi lĩnh vực: kiến trúc, giao thông, thoát nước, thải rác, giáo dục, y tế, các tệ nạn xã hội, giá cả tăng vọt, đời sống khó khăn… Nhà nước sẽ phải tiếp tục đầu tư chỉnh trang, nâng tầng cao, mở rộng đô thị, phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật – xã hội. Sự đổ xô về thành thị trong mười năm gần đây đã khiến nông thôn thiếu lao động, mặc dù giá công lao động tại nông thôn hiện nay nhiều nơi còn cao hơn giá lao động tại thành thị.

Continue reading

YÊU NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC

HUY ĐỨC

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là để “nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước”. Không chỉ “đẩy mạnh công tác tuyên truyền”, thật cần thiết khi Bộ Chính trị nhấn mạnh rằng, phải “rà soát, bổ sung luật pháp và cơ chế…” Lòng yêu nước trong mỗi người dân có thể tồn tại vô điều kiện, nhưng muốn giá trị mà người dân chưa bao giờ toan tính ấy có thể tập hợp thành sức mạnh quốc gia thì ứng xử của nhà nước lại đóng vai trò quyết định.

“Ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một mục tiêu chừng mực. Bởi ngoài lợi ích quốc gia, người dân còn phải cân nhắc cho gia đình mình từng chi phí. Người dân không thể tiếp tục “chi tiêu lòng yêu nước” cho những món hàng kém chất lượng mà lại đắt hơn. Vấn đề là trong khuôn khổ các cam kết ở WTO, Nhà nước phải làm hết trách nhiệm của mình để hàng Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng nước ngoài, trên “sân nhà”, với cùng điều kiện.

Mặt hàng trái cây, rau quả, nhập về trong thời gian qua vẫn tăng. Các vựa lớn ở các chợ đầu mối TP.HCM thường nhập mỗi lần hàng chục tấn trái cây Trung Quốc. Theo các chủ vựa: “Các cửa hàng bán lẻ chuộng trái cây Trung Quốc vì chúng có thể để cả chục ngày sau vẫn còn tươi nguyên, thậm chí để gần cả tháng vẫn cứ tươi roi rói”. Trong khi đó, cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã từng phát hiện trong mẫu táo, lê của Trung Quốc dư lượng hoá chất bảo quản lên tới 45,8%; chưa kể trong 24 mẫu táo, lê Trung Quốc kiểm nghiệm, có đến 75% số mẫu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Thế nhưng, trong khi trái cây Trung Quốc cứ “tươi rói” khắp các chợ Việt Nam thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy từng đoàn xe chở trái cây từ Việt Nam bị chặn lại trước từng cửa khẩu. Năm loại trái cây: dưa hấu, nhãn, vải, chuối và thanh long khi xuất sang Trung Quốc buộc phải kê khai nguồn gốc (nơi trồng và đóng gói). Đây là một thoả thuận song phương, và cần thiết, nhưng nếu xếp trong thứ tự ưu tiên thì nó chỉ có giá trị “hàng rào” ngăn phía Việt Nam vì phần lớn trái cây Trung Quốc từ lâu đã được “đóng gói” và “ghi xuất xứ”. Một “hàng rào” kỹ thuật về kiểm nghiệm gắt gao lượng hoá chất sử dụng trong trái cây nhập lẽ ra phải được sớm đặt ra, bởi nó không chỉ “bình đẳng” với trái cây Việt Nam mà còn bảo vệ sức khoẻ cho người dân Việt.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 2156 BC/UBXH NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUỐC HỘI KHÓA XI VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Theo Nghị quyết số 50/2005/QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.

Ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành, Uỷ ban đã tổ chức khảo sát, đánh giá nhanh tình hình triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về dân số; khảo sát, giám sát tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Ninh Thuận, Bình Phước, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kon Tum, Khánh Hòa, Nam Định, Hải Phòng, Hà Tây, Tuyên Quang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh; hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số tại Tuyên Quang, Thái Bình, Nghệ An, Long An, Nam Định, Hải Phòng; phối hợp với chuyên gia nghiên cứu đánh giá độc lập về vấn đề dân số ở cộng đồng và tổ chức nhiều hội nghị chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi kết quả giám sát về tình hình dân số.

Ngày 25/3/2006, Uỷ ban đã họp để nghe đại diện Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DS, GĐ & TE) báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát, giám sát và trên cơ sở ý kiến thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số vấn đề như sau:

I. KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

1.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp lệnh Dân số đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 9/1/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/5/2003. Nội dung Pháp lệnh đã đề cập toàn diện cả 4 yếu tố của vấn đề dân số, đó là quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư; do đó đã khắc phục được sự tản mạn, không thống nhất của văn bản pháp luật về dân số giai đoạn trước (trước đây, các quy định điều chỉnh các khía cạnh của vấn đề dân số được quy định rải rác ở Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình…).

Continue reading

DÂN SỐ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

DƯƠNG NGỌC

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm.

Trong đó:

– Thời kỳ 1921 – 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;

– Thời kỳ 1943 – 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.

– Thời kỳ 1951 – 1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm;

– Thời kỳ 1957 – 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng 3,08%/năm;

– Thời kỳ 1976 – 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng 2,21%/năm;

– Thời kỳ 1985 – 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm;

riêng thời kỳ 2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm.

Như vậy, mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.

Continue reading

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN CHẶN BẠO LỰC ĐANG CÓ CHIỀU HƯỚNG GIA TĂNG?

TRẦN BẢO HƯNG

Gần đây hành vi bạo lực đang có chiều hướng gia tăng. Các phương tiện thông tin đại chúng gần như ngày nào cũng phản ánh những tội ác, những hành vi bạo lực dã man xuất phát từ những nguyên nhân hết sức vô lối và vô cớ: Cổ động viên bóng đá khi đội bóng của mình bị thua sẵn sàng la ó, đập phá, gây lộn; thậm chí chống đối cả người thi hành công vụ. Không ít vụ giết người đã xảy ra chỉ vì kẻ giết người nghi nạn nhân nhìn đểu, nhìn khinh miệt mình. Lại có những tội ác do kẻ vừa được cứu giúp sát hại ân nhân, chỉ vì bị trách móc: được cứu mà không có một lời cảm ơn! Đáng buồn nhất là anh em, cha con, vợ chồng… đánh giết nhau vì một chút quyền lợi hoặc do một mâu thuẫn nào đó.

Nguyên nhân trực tiếp khiến cho các hành vi bạo lực không ngừng gia tăng là do công tác giáo dục đạo đức, giáo dục luật pháp của chúng ta còn nhiều yếu kém. Đã thế các biện pháp xử lý, xử phạt lại chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe.

Có một nguyên nhân cũng hết sức quan trọng, đó là sự đảo lộn, tâm trạng bất an của không ít người trong cơ chế thị trường. Nền kinh tế thị trường khiến không ít người phất lên, giàu có, lại có không ít người thua thiệt, cơ nhỡ khó khăn, túng quẫn, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, khiến rất dễ xảy ra những xung đột xã hội. Rất nhiều người cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi và người ta rất dễ có những hành động bột phát, quá khích, như tâm sự của một nhân vật là “linh hồn” của Câu lạc bộ cổ động viên bóng đá Hải Phòng: “Vì buồn quá không biết làm gì nên tham gia câu lạc bộ cho vui, lại được thể hiện sở thích, tính cách của mình…”. Như thế có thể thấy sự thiếu hụt những sinh hoạt văn hóa, tinh thần trong cộng đồng dân cư (đặc biệt là ở đô thị) cũng là một nguyên nhân dẫn không ít người tới những việc làm lầm lạc.

Continue reading

CÔNG LÝ TRONG NHỮNG VỤ ÁN KHÓ

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN (Pháp)

Sát nhân là tội khó tha thứ. Thế nhưng, có những bản án được tuyên chừng như quá nhẹ, lạ là lại nhận được sự cảm thông của người ngoài cuộc. Bởi có những người làm chết con vì bất cẩn, vô ý. Và cả vì tình thương!

Cực hình của tòa án lương tâm

Chuyện thứ nhất, thủ phạm là người cha, một dược sĩ vừa bị tòa buộc tội ngộ sát và xử chỉ có 8 tháng tù treo thay vì 3 năm cho tội danh này. Điều khủng khiếp ở chỗ nạn nhân là một đứa bé mới 2 tuổi rưỡi, chết do sự bất cẩn đến mức khó hiểu của người cha.

Sau khi chứng kiến và làm nhân chứng một vụ tai nạn giao thông mà kẻ gây tai nạn bỏ trốn, người cha bị sốc, bỏ quên con trai trong xe đậu ở bãi, ngay bên cạnh nhà thuốc nơi ông ta làm việc suốt mấy giờ. Dưới nắng hè thiêu đốt, cửa xe đóng kín, đứa bé ngất xỉu. Một người qua đường tình cờ thấy, gọi báo cảnh sát nhưng đã quá muộn.

Sự đãng trí bất chợt của người cha đã lấy đi sinh mạng một đứa trẻ ngây thơ, chưa đủ trí thông minh để tự cứu mình. Thoạt nghe khó ai không bất bình, thế nhưng vị thẩm phán đã yêu cầu hội đồng xử án như sau: “Tội ngộ sát thành lập nhưng quý vị nên đưa ra phán quyết mang tính nhân văn, và tôi yêu cầu quý vị hãy gửi một thông điệp cảm thông đến người cha không phải vì lỗi lầm ông ta gây ra mà chính vì nỗi đau mà ông ta đang hứng chịu”.

Continue reading

NHỮNG KẺ ĐỒNG LÕA

HẢI VÂN – THANH NHẪN

Nhiều vụ bạo hành trẻ em liên tiếp xảy ra gần đây cho thấy một thực trạng: sự thờ ơ, vô trách nhiệm của cộng đồng, của chính quyền địa phương. Nhiều vụ bạo hành diễn ra gần như công khai, trong một thời gian dài và chỉ được ngăn chặn, xử lý khi người dân, báo chí phát hiện.

Ngày 4-2, Công an, UBND P.10, Q.Gò Vấp, cùng đoàn thể đã giải thoát cho đứa bé đáng thương Nguyễn Chí Cường, 14 tuổi, chỉ vì chậm phát triển tâm thần mà bị mẹ xích chân trong căn phòng trọ suốt năm năm qua. Trường hợp này không phải do người mẹ độc ác, chẳng qua nghèo khó và thiếu kiến thức nuôi dạy con nên đã không chăm sóc, chữa trị đúng cách cho con.

Nhưng còn những hành vi độc ác của vợ chồng chủ quán phở ở Q.Thanh Xuân (Hà Nội) đối với em Nguyễn Thị Bình suốt mười năm trời, hay vụ bé Nguyễn Thị Hảo, 3 tuổi (huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước), bị mẹ đánh đập, cắt gân chân, cắt vào ngón tay, bỏ đói đến suy kiệt; bé Hà Thục Hiền, 8 tuổi (ở Phú Ninh, Quảng Nam), thường xuyên bị chú ruột đánh đập phải nhập viện; em Vũ Thị Văn, 16 tuổi (Q.Tân Phú, TP.HCM), bị con của chủ nhà hành hạ đến mức phải đi cầu cứu… Trong suốt thời gian dài các em bị hành hạ, lối xóm, chính quyền, các đoàn thể địa phương đã ở đâu? Nếu bảo là không biết, không thấy, không nghe… thì quá vô lý. Còn biết mà không làm gì cụ thể để giúp thì quá nhẫn tâm.

VN tham gia Công ước quyền trẻ em rất sớm. Chúng ta cũng có rất nhiều quy định bảo vệ trẻ em, chống hành vi xâm phạm thân thể, ngược đãi trong các văn bản luật khác nhau như Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình và gần đây là Luật phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, không vì thế con số nạn nhân suy giảm mà dường như ngược lại.

Continue reading

NHẬN DIỆN ĐÚNG VẤN ĐỀ VÀ TÌM GIẢI PHÁP PHÙ HỢP

HUY NAM

Từ những vấn đề cụ thể minh chứng sự khác biệt của tác động từ khủng hoảng kinh tế lên nền kinh tế các nước trên thế giới và Việt Nam (xem TBKTSG số 27 và số 28 năm 2009), tác giả đề xuất cách tìm biện pháp ứng phó phù hợp với tình hình.

Với kinh tế trong nước, trước tiên cần xác định, tình trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam là do bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và khủng hoảng kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cần nhận rõ một sự thật rằng khủng hoảng có thể là của thế giới nhưng vấn đề thì của riêng mỗi nước. Và điều gì gọi là kinh nghiệm tại Mỹ chỉ có thể là bài học chung về kinh tế khủng hoảng, chứ không thể (không nên) bê nguyên xi về làm “bài học kinh nghiệm” cho Việt Nam.

Do không có vấn đề chung nên việc đi tìm lời giải, đưa ra giải pháp hay các biện pháp ứng phó sẽ cần dựa trên thực tế. Chẳng hạn, trong khi thanh khoản là một trong các vấn đề gay gắt của Mỹ và nhiều nước phương Tây trong quá trình khủng hoảng toàn cầu, thì ở Việt Nam vấn đề này diễn ra nhanh, mang tính cục bộ xảy ra trước thời điểm được ghi nhận khủng hoảng toàn cầu (trước tháng 9-2008).

Hoặc, cũng gọi là thất nghiệp, nhưng cách giải quyết có hiệu quả của Việt Nam có thể không phải là (hay không chỉ có) trợ cấp hay lệ thuộc ở nguồn cung việc làm mới mà là các biện pháp phát triển kinh tế nông thôn và khuyến khích hoạt động kinh tế gia đình.

Continue reading

MỘT CHỮ CỦA NGƯỜI LÀM LUẬT

HOÀNG NHẬT LINH

Đôi khi, chỉ một từ đưa vào văn bản luật của các nhà làm luật đã tước đi cơ hội kinh doanh chính đáng của các doanh nhân và doanh nghiệp. Anh bạn nhà báo cao to, đẹp trai và rất phong độ này lại được các nhà doanh nghiệp đặt cho cái biệt danh nghe kinh người – Long “chết yểu”. Mọi biệt danh đều có sự tích. Và Long “chết yểu” cũng vậy. Số là cách đây 5 năm Long có mở một doanh nghiệp và khi công ty của anh bắt đầu ăn nên làm ra thì lại bị chết bất đắc kỳ tử chỉ vì một chữ của người làm luật.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định: “Chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc những người quản lý khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.” Về người quản lý doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định: “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh khác do điều lệ công ty quy định.” Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 có chữ “hoặc”, có nghĩa là giám đốc doanh nghiệp không nhất thiết phải có chứng chỉ hành nghề mà chỉ cần có một số người quản lý doanh nghiệp có chứng chỉ hành nghề là được. Số người quản lý doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề có thể là một hoặc nhiều người. Giám đốc doanh nghiệp khác hẳn với người quản lý doanh nghiệp. Giám đốc đòi hỏi có óc tổ chức, vạch ra được chiến lược phát triển doanh nghiệp và có đủ mọi điều kiện về tài chính, kinh nghiệm, các mối quan hệ… để thực hiện được chiến lược đó. Còn người quản lý điều hành doanh nghiệp thì phải có chuyên môn, quản lý xí nghiệp dược nhất định phải có bằng dược sĩ cao cấp và đó là chứng chỉ hành nghề.

Continue reading