Vấn đề lớn nhất của văn hoá Việt Nam hiện nay: GIẢ DỐI ĐƯỢC COI LÀ BÌNH THƯỜNG

HỒ SỸ QUÝ

Kinh tế thị trường và làn sóng toàn cầu hóa, trong khi đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển, để Việt Nam từ một quốc gia nghèo đói, chậm phát triển thành một nước có thu nhập trung bình, thì rất tiếc, lại cũng là điều kiện để nhiều thói hư tật xấu của người Việt và một số yếu kém trong quản lý vĩ mô có cơ hội gây tác hại cho xã hội.

Điều đó gây dấu ấn trong văn hóa.

Hiện thời văn hóa Việt Nam đang mang trong nó một số vấn đề thực sự cản trở sự phát triển. Con người tha hóa, đạo đức xuống cấp, giáo dục yếu kém, y tế kém nhân văn, chính sách văn hóa bất cập, lễ hội ít văn hóa… là những vấn đề nóng của bản thân văn hóa Việt Nam.

Vấn đề của tất cả những vấn đề ấy, theo chúng tôi, là sự sự lệch lạc về giá trị. Bảng giá trị của người Việt hiện nay đã xuất hiện một số ngụy giá trị. Giả dối đã tương đối phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Việt Nam sẽ khó trở thành quốc gia thành công, nếu ngụy giá trị vẫn tiếp tục chiếm chỗ của chân giá trị, nếu giả dối vẫn lấn át sự tử tế và chân thật.

I. Văn hóa xuống cấp: những tác động từ phía xã hội

Hơn 30 năm qua, trong tương quan với sự phát triển, văn hóa Việt Nam được đánh giá là có nhiều thay đổi theo chiều tiến bộ. Mà thay đổi lớn nhất là văn hóa ngày nay được hiểu, được cư xử và được sử dụng khác hẳn so với trước kia. Không chỉ là sản phẩm thụ động của đời sống vật chất, văn hóa đã thực sự trở thành nhân tố bên trong, là cái quy định hành vi và hoạt động của con người, cả ở phạm vi cá nhân và cả ở phạm vi các cộng đồng, các tổ chức xã hội. “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[1].

Continue reading

“PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI” VÀ “PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI”: Kinh nghiệm của Đức và gợi mở nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

NCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

Dẫn nhập 

Công ước New York[1] là Điều ước quốc tế (ĐƯQT) đa phương quan trọng nhất không chỉ trong lĩnh vực trọng tài thương mại mà còn trong thương mại quốc tế nói chung[2]. Công ước này thiết lập một khung pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo cho việc công nhận và cho thi hành (CNCTH) hiệu quả các phán quyết trọng tài nước ngoài. Sau hơn 20 năm chính thức gia nhập Công ước New York (vào ngày 28/7/1995), việc CNCTH phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam trải qua nhiều thực tiễn sinh động. Đa phần các phán quyết trọng tài nước ngoài được đảm bảo công nhận và cho thi hành đúng theo quy định Công ước New York, các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật Việt Nam. Gần đây, với việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2015[3] (Bộ luật TTDS 2015), pháp luật về CNCTH phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đã được kiện toàn và hoàn thiện tương đối triệt để. Tuy nhiên, khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral award) được hiểu không chính xác thành “phán quyết của trọng tài nước ngoài” (award of foreign arbitration) vẫn được duy trì hơn 20 năm nay, dù rằng khái niệm này mang nhiều bất cập và xa rời tinh thần của Công ước New York. Bài viết trình bày quan niệm của pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của Đức về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích và luận giải những bất cập của quy định pháp luật Việt Nam, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam nói chung cũng như pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam nói riêng.

1. Phán quyết trọng tài nước ngoài theo quan niệm của pháp luật Đức

1.1. Sơ lược về trọng tài ở Đức

Continue reading