BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI: TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TIỄN

 KHUÊ NGUYỄN

Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 42 ngân hàng thương mại đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai cho khách hàng theo quy định tại Thông tư 13/2017/TT-NHNN. Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao. Song từ quy định tới thực tiễn triển khai đâu đó vẫn còn có những bất cập và vướng mắc cần tháo gỡ.

Tìm hiểu trên thị trường, cũng không hiếm các dự án bất động sản được ngân hàng cam kết bảo lãnh. Ngay từ năm 2015, BIDV và VietinBank ký kết hợp tác bảo lãnh dự án của Tập đoàn Đất Xanh, VPBank và SeABank ký kết bảo lãnh tại các dự án do Novaland triển khai. Năm 2016, TPBank cũng cam kết bảo lãnh cho người mua nhà tại dự án của Tập đoàn Nam Cường, PVcomBank bảo lãnh cho dự án Tabudec Plaza. SHB cũng cam kết bảo lãnh tiến độ siêu dự án Cocobay, cam kết bảo lãnh tài chính cho dự án Tara Residence…

Nhưng nếu so với con số 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai thì số dự án được ngân hàng bảo lãnh vẫn còn tương đối khiêm tốn. Điều này sẽ thay đổi trong thời gian tới. Bởi, nếu trước kia, các chủ đầu tư rao bán dự án nhà ở chỉ thông báo có ngân hàng đứng sau bảo lãnh thì nay cụ thể và rõ ràng hơn.

Continue reading

TÌNH HUỐNG TỐ TỤNG: THAY MẶT NGƯỜI ĐANG Ở CANADA KHỞI KIỆN ĐƯỢC KHÔNG?

PHƯƠNG LINH – PLO

Tháng 12-2016, ông Trịnh Hoài Phương (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Điền (trú TP Nha Trang, Khánh Hòa) được quyền khiếu kiện đòi tám sào đất ruộng mà theo ông Phương thì ông N. đang quản lý, sử dụng. Giấy ủy quyền này được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam.

Người được ủy quyền ký đơn

Căn cứ giấy ủy quyền này, ban đầu ông Điền ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại UBND phường. Sau đó, do hòa giải không thành nên UBND phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra tòa.

Ngày 21-6, ông Điền ký đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho TAND TP Nha Trang. Trong đơn khởi kiện ông Điền ghi họ và tên người khởi kiện là chính mình và ký tên vào cuối đơn khởi kiện. Thực tế thì ông Điền chỉ là người đại diện ủy quyền của ông Phương theo giấy ủy quyền tại Canada. Hơn một tháng sau, TAND TP Nha Trang thông báo thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền.

Phía người bị đòi đất là ông N. có đơn gửi tòa phản đối yêu cầu khởi kiện của ông Điền. Theo ông N., từ trước đến nay gia đình ông không biết ông Điền hay ông Phương là ai. Việc tòa thụ lý đơn khởi kiện của ông Điền buộc ông phải giao trả tám sào đất ruộng là không có căn cứ vì gia đình ông không sử dụng mảnh đất này.

Cũng theo ông N., tòa thụ lý vụ kiện và xác định ông Điền là nguyên đơn là trái luật. Vì ông Điền chỉ là người đại diện theo ủy quyền của ông Phương đang cư trú tại Canada. Nội dung trong giấy ủy quyền của ông Phương và nội dung đơn kiện ký tên ông Điền cũng không xác định được vị trí cụ thể tám sào ruộng ở đâu, ai đang quản lý để kiện đòi. Ông N. cho rằng việc ông Điền khởi kiện là không có căn cứ pháp luật, tòa thụ lý vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Continue reading

QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC NĂM 2017 VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG

 THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Theo Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đánh giá: “Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường còn nhiều hạn chế, thủ tục hành chính rườm rà, thời hạn giải quyết không phù hợp, chưa tạo điều kiện cho cơ quan giải quyết bồi thường chủ động ra quyết định giải quyết bồi thường đối với thiệt hại đã rõ ràng, tính được ngay theo quy định của pháp luật nên chưa kịp thời đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại…”[1]. Khắc phục những bất cập nêu trên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Luật TNBTCNN năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung các quy định theo hướng cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc giải quyết bồi thường.[2]

Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định tại chương V Luật TNBTCNN năm 2017 gồm 19 Điều ( từ Điều 41 đến Điều 59), quy định về: thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;  giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường; giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án; phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại.

1. Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt  hại

Thứ nhất, về thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường

Trước đây theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (Sau đây gọi tắt là TNBTCNN năm 2009), quy định trình tự thủ tục giải quyết bồi thường gồm 6 bước: Thụ lý, cử người đại diện, tiến hành xác minh, tiến hành thương lượng, ra quyết định giải quyết bồi thường, cấp và chi trả tiền. Trong đó tổng thời gian giải quyết yêu cầu bồi thường từ 95 ngày đến 125 ngày. Luật TNBTCNN năm 2017 đã thực hiện rút ngắn số ngày giải quyết trong tất cả các bước, từ thụ lý, tiến hành xác minh, thương lượng, ra quyết định bồi thường, cấp và chi trả tiền bồi thường, tổng thời gian giải quyết bồi thường chỉ còn từ 41 ngày – 71 ngày[3], bằng một nửa so với trước đây.

Continue reading