BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CHO NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HỒNG HẢI

Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTPTANDTC về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại TAND đã ghi nhận về việc bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của người khác: “Trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của bên thứ ba mà bên được bảo đảm là doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cu mở thủ tục phá sản và đang trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyn thu giữ tài sản bảo đảm đó và xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong quá trình giải quyết phá sản theo quy định của pháp luật” – Civillawinfor.

Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hai cách tiếp cận: (1) Bảo đảm nghĩa vụ theo luật định[1] và Bảo đảm nghĩa vụ theo thỏa thuận[2]; (2) Bảo đảm nghĩa vụ không bằng tài sản[3] và Bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản[4]. Tuy nhiên, dù dưới cách tiếp cận nào thì một trong những vấn đề được các chủ thể trong giao lưu dân sự đặc biệt quan tâm là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác có được công nhận hay không? Nội dung pháp lý của vấn đề này như thế nào. Bài viết xin đề cập về vấn đề này.[5]

1. Khái niệm và sự cần thiết

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác là trường hợp người thứ ba[6] thỏa thuận với bên có quyền (chủ nợ) hoặc thỏa thuận với cả chủ nợ và bên có nghĩa vụ (bên nợ) về việc người thứ ba cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối nhân (bảo lãnh hoặc tín chấp[7]) hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối vật – bằng tài sản (thế chấp, cầm cố[8]) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho bên nợ. Quan hệ bảo đảm nghĩa vụ này gồm có ba chủ thể: Bên nhận bảo đảm (chủ nợ) – Bên bảo đảm (người thứ ba) – Bên được bảo đảm (bên nợ).

Continue reading