CẦN CÓ CÁCH HIỂU THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU THỪA KẾ ĐỐI VỚI DI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

KIM QUỲNH

Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đều có những quy định mới về thời hiệu. Tuy nhiên, đối với vấn đề này, hiện nay văn bản hướng dẫn chưa nhiều, nên trong thực tiễn xét xử nhiều Thẩm phán còn khá lúng túng khi giải quyết các vụ án dân sự, đặt biệt là các vụ án chia thừa kế mà di sản thừa kế là bất động sản.

1. Thời hiệu thừa kế theo quy định của BLDS 2015

Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được quy định tại các điều 184, 185 BLTTDS 2015, theo đó, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS và Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc[1]. Đồng thời, BLDS 2015 cũng quy định rõ việc áp dụng quy định của BLDS 2015 về thời hiệu, theo đó các quy định của BLDS 2015 về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự[2].

BLDS năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế đối với bất động sản tại Điều 623[3], theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: (1) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236[4] của BLDS 2015; (2) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 (không có người người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác). Đây là quy định mới về thời hiệu thừa kế so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây (Pháp lệnh Thừa kế, BLDS 1995, BLDS 2005 đều quy định thời hạn thừa kế đối với bất động sản là 10 năm).

Continue reading

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: BẤT CẬP VỀ VI PHẠM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ THEO KỲ

HUỲNH MINH KHÁNH – Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Vào đầu năm 2015 bà Tuyết mượn bà Lan 70 chỉ vàng 24k để xây dựng nhà ở, hai bên lập biên nhận và thoả thuận trong hạn sáu tháng sẽ thanh toán đầy đủ. Đến hạn, bà Tuyết trả cho bà Lan được 5 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 65 chỉ vàng 24k. Đến ngày 15/12/2015, do bà Tuyết  làm ăn thua lỗ nên không thực hiện theo thoả thuận trả nợ được, hai bên lập văn bản thống nhất bà Tuyết còn nợ bà Lan 65 chỉ vàng 24k và thoả thuận trả nợ thành 05 kỳ cụ thể như sau:

– Lần 1: Vào ngày 15/01/2016, trả 05 chỉ vàng 24k

– Lần 2: Vào ngày 15/06/2016, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 3: Vào ngày 15/01/2017, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 4: Vào ngày 15/06/2017, trả 15 chỉ vàng 24k

– Lần 5: Vào ngày 15/01/2018, trả 15 chỉ vàng 24k

Trong quá trình thoả thuận thì bà Tuyết đã thực hiện đúng lần trả nợ thứ nhất. Đến đầu lần thứ hai, do bà Tuyết bị các chủ nợ khác xiết nợ; đồng thời căn nhà và thửa đất duy nhất (tài sản duy nhất) của bà Tuyết đã bị cơ quan thi hành án dân sự huyện kê biên, bán đấu giá với số tiền khoảng 2tỷ để thi hành các khoản với số tiền gần 1,5 tỷ đồng.

Do bà Lan sợ bà Tuyết sẽ cất giữ số tiền còn thừa ra khi thi hành án để tẩu tán tài sản, sợ không thanh toán đầy đủ 60 chỉ vàng mà bà Tuyết còn nợ. Nên vào tháng 2/2017, bà Lan khởi kiện ra Toà án yêu cầu Tòa xử buộc bà Tuyết phải trả cho bà Lan 60 chỉ vàng 24k, trả một lần ngay khi án có hiệu luật pháp luật mặc dù bà Tuyết chỉ vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoản thuận vào lần 2, lần 3 và đã được toà án thụ lý giải quyết.

Continue reading

LÃI CHẬM TRẢ TIỀN TRONG ÁN LỆ NĂM 2016

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trong 10 án lệ được công bố, có án lệ liên quan đến lãi do chậm thanh toán (chậm trả) một khoản tiền. Đó là Án lệ số 08/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và án lệ số 09/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Xoay quanh hai án lệ này, chúng ta có một số câu hỏi đáng lưu ý sau: Thứ nhất, khoản tiền nào có thể làm phát sinh lãi chậm trả? Thứ hai, thời gian tính lãi chậm trả là bao lâu? Thứ ba, mức lãi để tính lãi chậm trả là bao nhiêu?

I. Về khoản tiền làm phát sinh lãi chậm trả

1) Khoản tiền được án lệ cho phát sinh lãi chậm trả

* Tiền hoàn trả từ hợp đồng vay

Hiện nay, chúng ta có hai loại vay là vay tín dụng[1] và vay dân sự thông thường[2]. Cả hai loại vay này đều làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản vay (thông thường là một khoản tiền) và trong trường hợp bên vay không hoàn trả tài sản vay đúng thời hạn thì bên vay phải chịu lãi chậm trả.

Trong Án lệ số 08/2016/AL, Nội dung án lệ được lựa chọn đã khẳng định: “…Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán”.

Nội dung trên cho thấy, việc chậm trả khoản tiền vay tín dụng làm phát sinh lãi chậm trả và điều này cũng hoàn toàn đúng với các khoản vay dân sự thông thường.

Continue reading