NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2011/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG DANH MỤC DOANH NGHIỆP KHÔNG ĐƯỢC ĐÌNH CÔNG BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 122/2007/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH DANH MỤC DOANH NGHIỆP KHÔNG ĐƯỢC ĐÌNH CÔNG VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CỦA TẬP THỂ LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP KHÔNG ĐƯỢC ĐÌNH CÔNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Danh mục doanh nghiệp không được đình công quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 122/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ quy định Danh mục doanh nghiệp không được đình công và việc giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở doanh nghiệp không được đình công; ban hành kèm theo Nghị định này Danh mục doanh nghiệp không được đình công.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2011.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các doanh nghiệp thuộc Danh mục doanh nghiệp không được đình công chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Nguyễn Tấn Dũng

DANH MỤC

DOANH NGHIỆP KHÔNG ĐƯỢC ĐÌNH CÔNG
(Ban hành kèm theo Nghị định số 28/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ)

I. NGÀNH ĐIỆN

1. Công ty Thủy điện Hòa Bình

2. Công ty Thủy điện Sơn La

3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiệt điện Phú Mỹ

4. Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia

5. Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 27/2011/TT-BNNPTNT NGÀY 13 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHÍ VÀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN KINH TẾ TRANG TRẠI

 

Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Nghị định số 75/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn về tiêu chí xác định kinh tế trang trại, thủ tục cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định của Thông tư này;

2. Tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại.

Điều 3. Phân loại trang trại

1. Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau:

a) Trang trại trồng trọt;

b) Trang trại chăn nuôi;

c) Trang trại lâm nghiệp;

d) Trang trại nuôi trồng thuỷ sản;

đ) Trang trại tổng hợp.

2. Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm. Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1133/TCT-TNCN NGÀY 05 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ VƯỚNG MẮC TRONG TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN

Kính gửi:

Cục Thuế thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 3220/CT-TNCN ngày 9/3/2011 của Cục Thuế thành phố Hà Nội phản ánh những vướng mắc về việc thu thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với trường hợp cá nhân có bất động sản ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện giao dịch bất động sản. Về vấn đề này, sau khi có ý kiến của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Xây dựng và ý kiến chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điều 581 Bộ Luật dân sự quy định về hợp đồng ủy quyền như sau: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế TNCN quy định: “Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam”.

Căn cứ vào các quy định trên đây, ủy quyền giao dịch bất động sản là một hoạt động giao dịch dân sự được luật pháp cho phép. Tuy nhiên, việc cá nhân có đầy đủ năng lực dân sự mà ủy quyền cho cá nhân khác không thuộc đối tượng được miễn thuế theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN, được toàn quyền thực hiện việc chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt bất động sản của mình bao gồm cả việc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng, đổi, cho tặng, thế chấp và không phải hoàn trả lại bất động sản cho Bên ủy quyền và các lợi ích có được từ hoạt động ủy quyền; đồng thời Bên được ủy quyền không nhận thù lao thì thực chất đây là hoạt động mua, bán bất động sản. Do đó người ủy quyền phải có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế TNCN theo quy định của Luật thuế TNCN.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế thành phố Hà Nội được biết./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Phạm Duy Khương

THỰC TIỄN VÀ SÁNG TẠO trong đổi mới thể chế kinh tế ở Việt Nam

imageTS. NGUYỄN VĂN THỨC – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Một trong những thành tựu nổi bật sau hơn 20 năm đổi mới ở Việt Nam là sự chuyển đổi thành công thể chế kinh tế. Để làm rõ thành công trên phương diện thực tiễn và sáng tạo lý luận, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; 2. Những đổi mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; 3. Thực tiễn quá trình đổi mới thể chế kinh tế.

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam. Thành tựu nổi bật này được biểu hiện cụ thể ở các điểm sau:

Thứ nhất, nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đã có bước đổi mới, được vận dụng vào xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Đường lối đổi mới này đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Thứ hai, chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đã được đổi mới một cách căn bản với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh để phát triển.(*)

Thứ tư, vai trò, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đã được đổi mới, từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.

Thứ năm, luôn gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo,… một cách tích cực.

Những nội dung trên là đánh giá chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tình hình chuyển đổi cơ chế kinh tế và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm qua tại Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam(1). Để góp phần làm rõ hơn thực tiễn và sáng tạo của đổi mới thể chế kinh tế Việt Nam, trong bài viết này, chúng tôi tập trung trình bày ba nội dung chính: Một số vấn đề lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; những đổi mới trong nhận thức về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; thực tiễn đổi mới thể chế kinh tế.

Continue reading

THỰC TIỄN VÀ SÁNG TẠO TRONG ĐỔI MỚI THỂ CHẾ KINH TẾ Ở VIỆT NAM

imageTS. NGUYỄN VĂN THỨC – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Một trong những thành tựu nổi bật sau hơn 20 năm đổi mới ở Việt Nam là sự chuyển đổi thành công thể chế kinh tế. Để làm rõ thành công trên phương diện thực tiễn và sáng tạo lý luận, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; 2. Những đổi mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; 3. Thực tiễn quá trình đổi mới thể chế kinh tế.

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam. Thành tựu nổi bật này được biểu hiện cụ thể ở các điểm sau:

Thứ nhất, nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đã có bước đổi mới, được vận dụng vào xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Đường lối đổi mới này đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Thứ hai, chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đã được đổi mới một cách căn bản với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh để phát triển.(*)

Thứ tư, vai trò, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đã được đổi mới, từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.

Thứ năm, luôn gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo,… một cách tích cực.

Những nội dung trên là đánh giá chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tình hình chuyển đổi cơ chế kinh tế và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm qua tại Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam(1). Để góp phần làm rõ hơn thực tiễn và sáng tạo của đổi mới thể chế kinh tế Việt Nam, trong bài viết này, chúng tôi tập trung trình bày ba nội dung chính: Một số vấn đề lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; những đổi mới trong nhận thức về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; thực tiễn đổi mới thể chế kinh tế.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 15/2011/TT-BGDĐT NGÀY 09 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUY CHẾ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 62/2008/QĐ-GDĐT NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ và cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học ban hành kèm theo Quyết định số 62/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, như sau:

1. Điểm a khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"a) Nhà trường được tuyển sinh hình thức vừa làm vừa học (sau đây viết tắt là VLVH) các ngành đã có quyết định mở ngành đào tạo chính quy."

2. Điểm c khoản 2 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"c) Có văn bản giao nhiệm vụ đặt lớp tại địa phương của Bộ Giáo dục và Đào tạo (sau đây viết tắt là Bộ GD&ĐT) đối với ngành tuyển sinh lần đầu."

3. Bổ sung điểm d vào khoản 2 Điều 2 như sau:

"d) Các trường mở lớp tại địa phương phải có ít nhất 2 năm đào tạo chính quy ngành đó tại trường."

4. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Hàng năm các trường có chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng hình thức VLVH chỉ tổ chức tuyển sinh 4 đợt, vào các tháng 3, tháng 4, tháng 10 và tháng 11, mỗi đợt thi 4 ngày, công việc từng ngày được quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Quy chế này, lịch thi do Hiệu trưởng nhà trường quy định.

Các trường tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng cao miền núi được ưu tiên giao chỉ tiêu VLVH, nhưng không được dùng chỉ tiêu VLVH để liên kết tuyển sinh tại các vùng khác.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG: CÁI CỐNG HÔI TRƯỚC CỬA SẠP

DƯƠNG HẰNG

Bên mua khởi kiện đòi lại tiền cọc vì cho rằng bị lừa bán cái sạp có cái cống bốc mùi hôi thối. Nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng.

Tháng 10-2009, biết vợ chồng bà H. bán hai cái sạp liền kề tại chợ Tân Bình (TP.HCM), bà L. đến mua một cái với giá 1,5 tỉ đồng, đặt cọc trước 100 triệu đồng.

Đòi lại tiền cọc

Sau một thời gian tới lui để hoàn tất hợp đồng, bà L. phát hiện trước cửa sạp có nắp cống thường xuyên bốc mùi hôi thối. Bà L. cho rằng người bán cố tình dùng bạt phủ kín, che nắp cống khiến bà không nhìn thấy nên mới mua cái sạp này. Bà yêu cầu người bán đổi sang sạp kế bên nhưng không được đồng ý. Do vậy, bà khởi kiện đòi lại tiền cọc vì người bán lừa dối khi giao kết hợp đồng.

Ngược lại, bên bán cho rằng nắp cống hiện hữu từ lâu, bà không che giấu gì cả. Từ ngày xem sạp đến lúc đặt cọc tiền cách nhau hơn một tuần, bà L. đã tới thăm sạp rất nhiều lần. Như vậy, bà L. đã phải xem xét rất kỹ lưỡng rồi mới quyết định mua sạp. Sau khi nhận tiền đặt cọc, bà nhiều lần hối thúc bà L. đến giao tiền và nhận sạp nhưng bà L. không thực hiện.

Theo bên bán, lỗi này hoàn toàn từ phía người mua nên người này phải mất toàn bộ tiền cọc.

Hợp đồng vô hiệu

Năm 2010, xử sơ thẩm, TAND quận Tân Bình nhận định nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng. Đồng thời, trước khi thỏa thuận và đặt cọc tiền sang sạp, nguyên đơn nhiều lần đến xem xét thực tế vị trí sạp. Do đó, không thể nói người bán có hành vi gian dối trong giao dịch. Nguyên đơn không chịu nhận sạp theo thỏa thuận là có lỗi nên bị mất cọc như đã giao kết.

Không đồng ý, bà L. đã kháng cáo lên TAND TP.HCM. Tại phiên xử phúc thẩm mới đây, luật sư của bà L. cho rằng trong hợp đồng, bà H. bán cho bà L. cái sạp X. chứ không phải là sạp X./1. Nhưng khi giao dịch cả người mua và người bán đều nhầm tưởng đang mua bán sạp X./1 (sạp có cái nắp cống phía trước). Do đó, khi phát hiện mua nhầm sạp, người mua yêu cầu chuyển sạp theo đúng hợp đồng là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, sạp X. đã bị bà H. bán cho người khác khiến chủ thể của hợp đồng không còn. Do vậy, bà L. yêu cầu hủy hợp đồng, đòi lại tiền cọc là đúng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU: TẤM VÁN ĐÓNG THUYỀN THUỘC VỀ AI?

VĂN ĐOÀN

Bên mất bảo tấm ván bị trôi là của mình, còn bên vớt được bảo bên mất chưa chứng minh được…

Theo hồ sơ, tháng 8-2010, ông T. ở huyện Mang Thít (Vĩnh Long) mua một tấm ván bằng gỗ sao núi trị giá gần 10 triệu đồng rồi mang về ngâm dưới rạch nước sau nhà để chuẩn bị đóng ghe…

Mất tấm ván quý

Ít lâu sau, ông T. phát hiện tấm ván trôi sang bờ sông cặp nhà ông D. nên kêu người qua kéo tấm ván về. Tuy nhiên, ông D. đã ngăn cản, không cho phía ông T. lấy tấm ván. Ông T. tức mình, báo công an xã nhưng ông D. vẫn kiên quyết không đưa. Đòi hoài không được, cuối cùng, ông T. kiện ông D. ra tòa yêu cầu trả lại tài sản…

Đến lúc này, ông D. lên tiếng bảo đúng là ông vớt được tấm ván trôi gần nhà. Tuy nhiên, tấm ván này có phải là của ông T. thì ông T. phải chứng minh. Nếu ông T. không chứng minh được thì ông không trả. Còn nếu ông T. chứng minh được đó là tài sản của mình thì cũng phải bồi thường cho ông hơn 14 triệu đồng tiền chi phí vớt tấm ván và thuê người bảo quản…

Phải trả lại tấm ván

Tháng 1-2011, TAND huyện Mang Thít xử sơ thẩm nhận định ông T. mất tấm ván còn ông D. nhặt được tấm ván, có báo công an xã trong cùng một ngày. Từ ngày đó đến ngày xử sơ thẩm không có ai báo mất tấm ván nữa. Người làm của ông T. cũng khẳng định tấm ván là của ông T. Tại phiên tòa, ông D. khai: “Phải chi ông T. qua nhà thương lượng thì ông D. đã trả lại tấm ván”… Điều này cho thấy ông D. đã thừa nhận tấm ván vớt được là của ông T. Từ nhận định trên, có đủ cơ sở xác định tài sản là của ông T. Do đó, tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông D. phải trả lại tấm ván.

Không đồng ý, ông D. làm đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đầu tháng 3-2011, luật sư của ông D. cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. khai tấm ván dài 9,9 m, ngang 0,9 m. Điều này không trùng khớp với tấm ván mà ông D. vớt được. Cụ thể nó chỉ dài 8,9 m, ngang 1,1 m… Do đó, luật sư đề nghị tòa xác định tấm ván mà ông D. vớt là chưa xác định được chủ sở hữu và tuyên cho ông D. được hưởng tấn ván này theo quy định tại Điều 241 BLDS…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN: MUA ĐẤT CÓ THÊM NHÀ, XỬ SAO?

MINH PHƯƠNG

Bà D. đã nhiều lần yêu cầu giao tài sản nhưng người bán cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản chỉ là để làm tin. Hợp đồng không thể hiện việc mua bán căn nhà cấp bốn trên đất nên tòa phúc thẩm xác định vô hiệu.

Vợ chồng ông A. có một thửa đất khoảng 200 m2 cùng một căn nhà cấp bốn diện tích khoảng 50 m2 tọa lạc trên thửa đất này.

Nhà không giấy, không công chứng

Năm 2008, vợ chồng ông A. đã chuyển nhượng nhà, đất trên cho bà D. với giá 300 triệu đồng. Khi ra công chứng, phòng công chứng chỉ chấp nhận công chứng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (do đất đã được cấp giấy chứng nhận…), không chấp nhận công chứng việc mua bán nhà vì tài sản này chưa có giấy tờ sở hữu. Thế nên trong hợp đồng không thể hiện việc mua bán nhà dù cả hai bên vẫn thống nhất việc này.

Sau đó, theo bà D., dù bà đã trả hết tiền, bên bán vẫn không chịu giao nhà, đất khiến bà bị thiệt thòi. Bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng phía này cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất chỉ là để làm tin. Nay bà D. đòi thì bên bán sẽ trả lại 400 triệu đồng.

Đòi mãi không xong, bà D. đành kiện nhờ tòa can thiệp.

Hai tòa chỏi nhau

Cấp sơ thẩm nhận định bà D. không chứng minh được việc mình có mua ngôi nhà cấp bốn gắn liền đất. Vợ chồng ông A. không chứng minh được chuyện vay tiền bà D. Nhà gắn liền đất nhưng hai bên không có thỏa thuận mua bán nhà do đó hợp đồng không thể thực hiện được. Tòa tuyên vô hiệu… Hai bên đều có lỗi nên mỗi bên chịu một nửa thiệt hại. Giá trị đất đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 700 triệu đồng nên buộc vợ chồng ông A. phải trả cho bà D. 500 triệu đồng (gồm 300 triệu đồng tiền chuyển nhượng đất và 200 triệu đồng bồi thường 1/2 thiệt hại).

Án tuyên xong, cả hai phía đều kháng cáo

Sau đó, tòa cấp phúc thẩm cho rằng hai bên đã thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng tài sản. Hợp đồng không trái đạo đức xã hội. Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Bà D. đã giao tiền, đã đăng ký quyền sử dụng đất nên hợp đồng đã hoàn thành… Do đó, theo quy định của luật dân sự và luật đất đai, hợp đồng mua bán trên không vi phạm nên không bị vô hiệu. Vợ chồng ông A. không giao tài sản là có lỗi làm cho hợp đồng không thực hiện được… Tòa tuyên sửa án sơ thẩm, buộc vợ chồng ông A. phải bồi thường cho bà D. 700 triệu đồng.

Continue reading

THỨ TỰ ƯU TIÊN THANH TOÁN GIỮA CÁC NGÂN HÀNG TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT TÀI SẢN ĐƯỢC DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỀU NGHĨA VỤ

HỒ QUANG HUY – Cục Đăng ký Quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể cùng nhận một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của Tòa án và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm của các ngân hàng thời gian qua ở nước ta cho thấy vấn đề nêu trên chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và toàn diện.

1. Khái quát vụ việc cụ thể

Vào đầu tháng 7/2010, Tòa án nhân dân tỉnh PY thụ lý vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh Ngân hàng X và Chi nhánh Ngân hàng Y. Nội dung vụ tranh chấp xoay quanh việc Chi nhánh Ngân hàng X nhận thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay của Công ty TNHH A và sau đó Công ty TNHH A lại dùng tài sản hình thành từ vốn vay đó thế chấp tại Chi nhánh ngân hàng Y để vay vốn. Theo bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 09/7/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh PY thì Chi nhánh ngân hàng Y được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì đã “xuất trình toàn bộ các giấy tờ gốc của tài sản”, còn Chi nhánh Ngân hàng X không được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản thế chấp”, mặc dù Chi nhánh Ngân hàng X đã đăng ký giao dịch bảo đảm trước, cụ thể là:

– Hợp đồng bảo đảm số 04/HĐBĐTV ngày 25 tháng 4 năm 2005 giữa Công ty TNHH A và Chi nhánh Ngân hàng X đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng; Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản thể hiện: thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm 2006.

– Hợp đồng bảo đảm số 02/2007/HĐ ngày 31 tháng 5 năm 2007 giữa Công ty TNHH A và Chi nhánh Ngân hàng Y đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng, thời điểm đăng ký thể hiện trên đơn yêu cầu đăng ký là 15h21’ ngày 4 tháng 6 năm 2007.

Continue reading

CÔNG NHẬN ÁN LY HÔN Ở NƯỚC NGOÀI: ÁCH TẮC VÌ … VƯỚNG LUẬT!

BÌNH MINH

Từ sau ngày Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực, chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôn của tòa án nước ngoài tại Việt Nam đều gặp bế tắc.

Gần đây, ngành tòa án đã nhận được khá nhiều đơn yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án ly hôn ở nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các trường hợp này hiện đều đang bị ách tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn…

Hơn ba năm kết hôn với một Việt kiều Mỹ, chị GNP ngụ quận 10 (TP.HCM) luôn phải sống trong cảnh vò võ chờ đợi bởi người chồng chủ yếu làm ăn ở Mỹ, lâu lâu mới bay về nước thăm chị một lần.

Bao giờ mới thành người độc thân?

Xa mặt cách lòng, những chuyến bay về nước ít ỏi ấy rồi cứ thưa thớt dần. Một ngày, chị P. nhận được hồ sơ thỏa thuận ly hôn gửi về. Chị P. thuận tình ký tên để giải phóng cho đôi bên. Năm 2009, Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino sau đó đã ra bản án ghi nhận quyết định ly hôn của vợ chồng chị.

Sau đó, chị P. làm đơn gửi Bộ Tư pháp yêu cầu công nhận bản án ly hôn trên có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Đơn của chị cùng các tài liệu liên quan được chuyển về TAND TP.HCM. Xem xét, TAND TP nhận định: Khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầu công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa nước ngoài chỉ được xem xét trong trường hợp cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu. Ở đây, người chồng đang cư trú tại Mỹ nên chị P. chưa đủ điều kiện để yêu cầu tòa công nhận và cho thi hành bản án. Vì vậy, tòa đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của chị P.

Để gỡ vướng cho chị P., cán bộ tòa hướng dẫn chị nộp đơn tiến hành thủ tục ly hôn ở tòa án trong nước. Để mọi việc thuận lợi, chị nên liên hệ với người chồng bên Mỹ để có sự thuận tình xác nhận. Còn nếu chị đơn phương xin ly hôn thì sẽ phải chờ thủ tục ủy thác tư pháp, vốn rất lâu và cũng rất khó suôn sẻ.

Chị P. làm theo hướng dẫn này nhưng không thể liên hệ được với người chồng bên Mỹ để làm thủ tục thuận tình ly hôn. Chị mệt mỏi vì “chồng không có” mà mình thì vẫn chưa được trở thành người độc thân, không biết bao giờ mới có điều kiện để xây dựng một mái ấm mới hợp pháp.

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2011

TS. NGUYỄN HỒNG NGA – Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh & NHẬT TRUNG – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong năm 2010, kinh tế Việt Nam, cho dù vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sự hồi phục chậm chạp của kinh tế thế giới, vẫn có được những chỉ số kinh tế vĩ mô khả quan. Vậy bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ có những gam màu sáng và màu ít sáng ra sao và trên nền của bức tranh 2010, liệu bức tranh năm 2011 có những triển vọng nào có thể đạt được để làm nền tảng cho bức tranh tổng thể của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015?

1. Bối cảnh kinh tế toàn cầu và khu vực

Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục mạnh trong nửa đầu năm 2010, nhưng sự ổn định tài chính sụt giảm mạnh do cuộc khủng hoảng nợ công vào quý II năm 2010. Quy mô hồi phục kinh tế có sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực với sự dẫn đầu thuộc khu vực châu Á. Mỹ và Nhật Bản suy giảm đáng kể vào quý II, trong khi tăng trưởng được đẩy mạnh ở châu Âu và duy trì vững chắc ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Các điều kiện tài chính toàn cầu đã bắt đầu đi vào ổn định, nhưng các định chế và thị trường vẫn còn yếu ớt. Theo Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook) của IMF, công bố tháng 10/2010, tính cả năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới ước đạt 4,8%, trong đó, các nước phát triển tăng 2,7%, các nước đang phát triển tăng 7,1%. Thương mại thế giới tăng 11,4%, lượng vốn tư nhân ròng (trong đó, FDI chiếm trên 40%) đổ vào các nền kinh tế mới nổi ước trên 800 tỉ USD, cao hơn 30% so với năm 2009, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh trước khủng hoảng đạt được vào năm 2007 khoảng 400 tỉ USD. Theo các chuyên gia, sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế thế giới xuất phát từ 5 nguyên nhân chủ yếu: (1) Tính chất hai mặt của chính sách kích cầu, sự khó khăn về liều lượng và thời gian cắt giảm gói kích thích kinh tế; (2) Gánh nặng tài chính của các nền kinh tế chủ chốt không ngừng tăng lên tạo áp lực cho nền tài chính các quốc gia; (3) Khôi phục toàn diện cần phải có thời gian, không thể nôn nóng chủ quan; (4) Lạm phát gia tăng, xói mòn lòng tin vào chính sách vĩ mô của các chính phủ; (5) Chủ nghĩa bảo hộ có nguy cơ quay trở lại, do một số nước và khu vực muốn mở rộng xuất khẩu, thông qua phá giá đồng bản tệ… để nâng cao sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam

clip_image002

Nguồn: World Economic Outlook, IMF, 10/2010

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 24/2011/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 108/2009/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 11 NĂM 2009 VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – KINH DOANH – CHUYỂN GIAO, HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CHUYỂN GIAO – KINH DOANH, HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CHUYỂN GIAO

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi một số điều của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:

“Điều 4. Lĩnh vực đầu tư

1. Chính phủ khuyến khích thực hiện các Dự án xây dựng và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc Dự án cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành, quản lý các công trình hiện có trong các lĩnh vực sau đây:

a) Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ;

b) Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt;

c) Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông;

d) Hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải;

đ) Nhà máy điện, đường dây tải điện;

e) Các công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao và trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;

g) Các công trình kết cấu hạ tầng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Đối với các công trình nêu tại điểm g khoản 1 Điều này, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành và địa phương có liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong từng trường hợp cụ thể.”

2. Sửa đổi khoản 2 Điều 8 như sau:

“2. Chi phí lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án, kể cả chi phí liên quan đến việc chuẩn bị Dự án khác được bố trí từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu khác (nếu có).”

3. Sửa đổi khoản 2 Điều 11 như sau:

“2. Đề xuất dự án gồm những nội dung quy định đối với Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi theo pháp luật về xây dựng và những nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 và các điểm a, b khoản 3 Điều 12 Nghị định này.”

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN SAU 2 NĂM THỰC HIỆN: MỘT SỐ BẤT CẬP NẢY SINH VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

PGS.TS. LÊ THỊ KIM NHUNG – Phó Trưởng khoa Tài chính – Ngân hàng, Đại học Thương mại

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, chính thức áp dụng từ 01/01/2009, đánh dấu một bước hoàn thiện trong hệ thống thuế của Việt Nam. Mặc dù, Luật Thuế TNCN được chuẩn bị, xây dựng khá kỹ lưỡng, lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp xã hội từ hơn 3 năm trước khi ban hành, nhưng khi triển khai Luật vào thực tế cuộc sống, không thể tránh khỏi những bất cập, vướng mắc nảy sinh đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết… Từ thực tế áp dụng Thuế TNCN trên địa bàn Hà Nội cũng cho thấy điều đó.

Những thành công ban đầu…

Nhìn chung, qua 2 năm triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, Cục thuế Hà Nội đã chú trọng công tác tuyên truyền, hướng dẫn đối tượng nộp thuế với nhiều hình thức phong phú đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, dễ hiểu giúp người dân hiểu về ý nghĩa của việc thực hiện nghĩa vụ thuế, phương pháp kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế. Đồng thời, Cục Thuế đã chỉ đạo các Chi cục phân công cán bộ có năng lực nghiệp vụ giỏi tiến hành làm thủ tục hành chính thuế và hướng dẫn kê khai nộp thuế, thành lập các đường dây nóng, các kênh thông tin cần thiết, thích hợp, nhanh chóng và hiệu quả nhất để có thể tư vấn, hỗ trợ và giải đáp những vướng mắc cho các đối tượng nộp thuế. Ngoài ra, Cục thuế Hà Nội còn là đơn vị dẫn đầu cả nước về cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thuế với việc triển khai thành công các dự án như “Kê khai thuế qua mạng Internet”, “Hiện đại hóa thu ngân sách nhà nước và thu thuế qua ngân hàng” và “Hệ thống ki-ốt thông tin thuế”. Những cải cách đó đã đem lại lợi ích cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế, như: thủ tục nộp hồ sơ khai thuế đơn giản, nhanh gọn, hiệu quả cao và an toàn, không giới hạn về không gian, thời gian trong ngày, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người nộp thuế; đơn giản hoá và cải cách triệt để thủ tục hành chính trong quy trình thu nộp thuế, giảm thời gian nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế; giúp người nộp thuế thuận tiện hơn trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến thuế; cơ quan thuế xử lý tờ khai nhanh, chính xác, giảm thiểu lao động, thuận lợi cho việc lưu trữ hồ sơ và tra cứu dữ liệu, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu phục vụ số lượng người nộp thuế ngày càng tăng nhanh trong khi nguồn nhân lực chưa được bổ sung tương ứng…

Nhờ đó, trên địa bàn Hà Nội, cơ chế tự khai tự nộp thuế theo yêu cầu của Luật Quản lý thuế được quán triệt và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc ở hầu hết các cơ quan chi trả thu nhập và các cá nhân nộp thuế. Việc tổ chức kê khai và khấu trừ thuế TNCN tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho người lao động đã đảm bảo được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế TNCN cho nhà nước. Mặc dù có chính sách miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009 và trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái do khủng hoảng, nhưng số thuế TNCN năm 2009 vẫn cao hơn so với những năm trước đó. Hơn nữa, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đã làm cho cả người có thu nhập và cơ quan chi trả thu nhập đều phải tự tìm hiểu, nắm rõ nội dung của Luật và các văn bản liên quan để thực thi, qua đó nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành luật pháp thêm một bước.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 943/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 04 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC TRONG THỜI GIAN BỊ CẮT ĐIỆN

Kính gửi:

Ban quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương

Trả lời công văn số 136/BQL-LĐ ngày 07/3/2011 của Ban quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương về việc hoãn chế độ làm việc và tiền lương do cắt điện 2 ngày/1 tuần, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Về bố trí ngày nghỉ cho người lao động trong trường hợp bị cắt điện luân phiên có lịch thông báo trước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có công văn số 51/TTr-CSLĐ ngày 13/4/2007 gửi các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công văn số 656/LĐTBXH-LĐTL ngày 08/3/2010 gửi Ban Quản lý các Khu công nghiệp Đà Nẵng hướng dẫn thực hiện (có kèm theo), vì vậy đề nghị Ban quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương nghiên cứu hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước.

2. Trường hợp không bố trí được ngày nghỉ bù cho người lao động theo công văn số 51/TTr-CSLĐ và công văn số 656/LĐTBXH-LĐTL nêu trên, mà người lao động phải ngừng việc do nguyên nhân bị cắt điện (nguyên nhân bất khả kháng) thì người lao động được trả tiền lương ngừng việc cho số ngày nghỉ ngừng việc thực tế với mức do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại khoản 3, Điều 62 Bộ luật Lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động có yêu cầu làm thêm giờ (tăng ca) và được người lao động chấp thuận thì người sử dụng lao động phải trả lương làm thêm giờ (kể cả trường hợp làm thêm giờ vào ban đêm) theo quy định tại Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30/5/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Số giờ làm thêm của người lao động thực hiện theo quy định tại Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ, Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ và Thông tư số 15/2003/TT-BLĐTBXH ngày 03/6/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó số giờ làm thêm trong một ngày không quá 4 giờ; tổng cộng thời giờ làm việc bình thường và thời giờ làm thêm trong một ngày không vượt quá 12 giờ. Không được coi số giờ làm thêm của người lao động là để bù cho đủ số giờ làm việc trong một tuần theo quy định của pháp luật lao động mà doanh nghiệp lựa chọn, quyết định (ví dụ như 48 giờ/tuần) để không phải trả lương làm thêm giờ cho người lao động.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4017/BTC-TCT NGÀY 28 THÁNG 03 NĂM 2011 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ BÁN HÓA ĐƠN LẺ CHO HỘ, CÁ NHÂN KINH DOANH

Kính gửi:

Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Bộ Tài chính nhận được công văn và ý kiến của một số Cục thuế nêu vướng mắc về việc bán hóa đơn lẻ (01 số) cho hộ, cá nhân kinh doanh. Trên cơ sở quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và hướng dẫn tại Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Ngày 12/11/2010, Bộ Tài chính đã có công văn số 15364/BTC-TCT hướng dẫn về việc bán hóa đơn cho hộ, cá nhân kinh doanh.

Tiếp theo công văn số 15364/BTC-TCT nêu trên, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

– Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh có nhu cầu sử dụng hóa đơn quyển năm mươi (50) số thì cơ quan thuế bán cho hộ, cá nhân kinh doanh 01 quyển, năm mươi (50) số. Hộ, cá nhân kinh doanh được sử dụng quyển hóa đơn đã mua khi hết tiếp tục mua. Hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện báo cáo sử dụng hóa đơn theo quy định.

– Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh không có nhu cầu sử dụng hóa đơn quyển nhưng có nhu cầu sử dụng hóa đơn lẻ thì cơ quan thuế bán cho hộ, cá nhân kinh doanh hóa đơn lẻ (01 số) theo từng lần phát sinh và không thu tiền.

Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn và doanh thu trên các hóa đơn trong tháng thấp hơn doanh thu khoán thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán.

Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn và có phát sinh doanh thu trên các hóa đơn trong tháng cao hơn doanh thu khoán nhưng hộ, cá nhân kinh doanh chứng minh được doanh thu phát sinh theo hóa đơn cao hơn doanh thu khoán không phải do thay đổi quy mô, thay đổi ngành nghề mà do yếu tố khách quan đột xuất thì hộ, cá nhân kinh doanh phải kê khai bổ sung phần doanh thu trên các hóa đơn trong tháng cao hơn doanh thu khoán và nộp bổ sung thuế GTGT. Trường hợp này cơ quan thuế không thực hiện điều chỉnh lại doanh thu, số thuế đã khoán.

Bộ Tài chính hướng dẫn và trả lời để Cục Thuế các tỉnh, thành phố được biết, thực hiện./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG
Đỗ Hoàng Anh Tuấn

RIÊNG TƯ LÀ THIÊNG LIÊNG

HOÀNG HỒNG MINH

Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

Nếu lần đầu tiên bạn đi học tại một trường đại học ở Balê, hẳn bạn sẽ có nhiều bỡ ngỡ. Cả năm trời, không ai biết điểm các bài kiểm tra của bạn cả, trừ vài giáo viên trực tiếp liên quan. Và ngược lại, bạn cũng chẳng hề biết điểm của các bạn học khác. Không có biểu dương học sinh này, hay chê bai học sinh kia sồn sồn trong lớp học.
Kì lạ hơn, một số bài tập được giao về nhà để làm trong kì nghỉ. Hết kì nghỉ, bạn nộp bài, và được chấm điểm. Mà hầu như cũng chẳng ai hỏi nhờ ai làm bài hộ cả.
Bạn đá bóng trong một công viên nhỏ, chẳng may quả bóng rơi vào vườn nhà ai cạnh đó.
Bạn bấm chuông, không ai ra cả. Bạn không bao giờ tự trèo vào vườn đó để lấy lại quả bóng.
Rồi bạn đi làm. Chẳng ai biết lương của bạn là bao nhiêu, ngoài phòng tài chính, và có thể là ông chủ của hãng nhỏ. Và bạn cũng chẳng biết lương của ai khác. Phải xem báo nghe đài thống kê, hay qua nơi tư vấn công việc, để rồi ước đoán xem lương của mình như vậy đã hợp lý với khung lương chung chưa, để mà mặc cả.
Bạn ra tòa thị chính làm giấy tờ. Tờ cảnh báo lớn treo trên tường nhắc nhở mọi người: “dù có ai mặc đồ cảnh sát đến bấm chuông nhà bạn, chớ có mở cửa”. Nếu bạn là thủ phạm nguy hiểm, người ta khắc có công lệnh và phương tiện mở cửa nhà bạn, khỏi lo hộ!
Rồi bạn lập gia đình. Thư của nửa bên kia của bạn nằm trong thùng thư, bạn không có quyền bóc xem đâu nhé. Và dĩ nhiên không ai có quyền bóc thư gửi cho bạn, ngoài chính bạn.
Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền.
Sở hữu chỉ là một phần của sự riêng tư này, và do vậy sở hữu hợp pháp cũng thiêng liêng. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

Continue reading

ĐƯỢC VÀ MẤT KHI BỎ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ NỘI QUY LAO ĐỘNG

LS. PHAN THỊ NGỌC THẮNG – Công ty Luật Phuoc & Partners

Ngày 9-12-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH). Thủ tục “đăng ký nội quy lao động của các doanh nghiệp” là một trong nhiều thủ tục được bãi bỏ. Việc bãi bỏ thủ tục này sẽ có những “được và mất” như thế nào đối với người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ)?

Nội quy lao động – “Luật lao động của doanh nghiệp”

Theo quy định tại khoản 1 điều 82 của Bộ luật Lao động và điểm 1 điều 1 của Nghị định số 33/2003/NĐ-CP(1), doanh nghiệp sử dụng từ 10 NLĐ trở lên phải có nội quy lao động đăng ký tại sở LĐ-TB&XH hoặc ban quản lý khu công nghiệp theo ủy quyền của sở LĐ-TB&XH đối với doanh nghiệp thuộc khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao.

Nội quy lao động gồm những nội dung chủ yếu như: Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi; trật tự trong doanh nghiệp; an toàn lao động, vệ sinh lao động nơi làm việc; bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp; kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Nội dung nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác.

Theo quy định pháp luật hiện hành, nội quy lao động có vai trò rất quan trọng trong quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ.

Cụ thể, (i) các nội dung trong hợp đồng lao động không được trái với những quy định của nội quy lao động; (ii) những điều khoản trong hợp đồng lao động quy định quyền lợi của NLĐ thấp hơn mức được quy định trong nội quy lao động thì phải sửa đổi, nếu không sẽ bị hủy bỏ; (iii) NLĐ ngoài việc phải tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng lao động còn phải tuân thủ các quy định trong nội quy lao động suốt thời gian làm việc tại doanh nghiệp; (iv) nội quy lao động là cơ sở để NSDLĐ yêu cầu NLĐ bồi thường trách nhiệm vật chất và là căn cứ cơ bản để xử lý kỷ luật lao động; và (v) nội quy lao động trên thực tế còn là văn bản để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lồng ghép các chế độ, chính sách, quy định từ công ty mẹ hoặc là chính sách toàn cầu của công ty đa quốc gia.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/2011/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Nghị quyết số 52/2010/QH12 ngày 10 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2011;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 5 năm 2011 là 830.000 đồng/tháng.

Điều 2. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức:

1. Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

2. Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Điều 3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở:

1. Tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điều 2 Nghị định này.

2. Tính trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2011 trở đi đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Continue reading