THỰC TIỄN VÀ SÁNG TẠO trong đổi mới thể chế kinh tế ở Việt Nam

imageTS. NGUYỄN VĂN THỨC – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Một trong những thành tựu nổi bật sau hơn 20 năm đổi mới ở Việt Nam là sự chuyển đổi thành công thể chế kinh tế. Để làm rõ thành công trên phương diện thực tiễn và sáng tạo lý luận, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; 2. Những đổi mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; 3. Thực tiễn quá trình đổi mới thể chế kinh tế.

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam. Thành tựu nổi bật này được biểu hiện cụ thể ở các điểm sau:

Thứ nhất, nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đã có bước đổi mới, được vận dụng vào xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Đường lối đổi mới này đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Thứ hai, chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đã được đổi mới một cách căn bản với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh để phát triển.(*)

Thứ tư, vai trò, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đã được đổi mới, từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.

Thứ năm, luôn gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo,… một cách tích cực.

Những nội dung trên là đánh giá chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tình hình chuyển đổi cơ chế kinh tế và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm qua tại Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam(1). Để góp phần làm rõ hơn thực tiễn và sáng tạo của đổi mới thể chế kinh tế Việt Nam, trong bài viết này, chúng tôi tập trung trình bày ba nội dung chính: Một số vấn đề lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; những đổi mới trong nhận thức về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; thực tiễn đổi mới thể chế kinh tế.

Continue reading

THỰC TIỄN VÀ SÁNG TẠO TRONG ĐỔI MỚI THỂ CHẾ KINH TẾ Ở VIỆT NAM

imageTS. NGUYỄN VĂN THỨC – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Một trong những thành tựu nổi bật sau hơn 20 năm đổi mới ở Việt Nam là sự chuyển đổi thành công thể chế kinh tế. Để làm rõ thành công trên phương diện thực tiễn và sáng tạo lý luận, trong bài viết này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; 2. Những đổi mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; 3. Thực tiễn quá trình đổi mới thể chế kinh tế.

Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới của Việt Nam. Thành tựu nổi bật này được biểu hiện cụ thể ở các điểm sau:

Thứ nhất, nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đã có bước đổi mới, được vận dụng vào xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam. Đường lối đổi mới này đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Thứ hai, chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đã được đổi mới một cách căn bản với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ ba, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân được tự chủ kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh để phát triển.(*)

Thứ tư, vai trò, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế đã được đổi mới, từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.

Thứ năm, luôn gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo,… một cách tích cực.

Những nội dung trên là đánh giá chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tình hình chuyển đổi cơ chế kinh tế và xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 20 năm qua tại Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam(1). Để góp phần làm rõ hơn thực tiễn và sáng tạo của đổi mới thể chế kinh tế Việt Nam, trong bài viết này, chúng tôi tập trung trình bày ba nội dung chính: Một số vấn đề lý luận về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường; những đổi mới trong nhận thức về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; thực tiễn đổi mới thể chế kinh tế.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 15/2011/TT-BGDĐT NGÀY 09 THÁNG 04 NĂM 2011 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUY CHẾ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 62/2008/QĐ-GDĐT NGÀY 25 THÁNG 11 NĂM 2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ và cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học ban hành kèm theo Quyết định số 62/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, như sau:

1. Điểm a khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"a) Nhà trường được tuyển sinh hình thức vừa làm vừa học (sau đây viết tắt là VLVH) các ngành đã có quyết định mở ngành đào tạo chính quy."

2. Điểm c khoản 2 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"c) Có văn bản giao nhiệm vụ đặt lớp tại địa phương của Bộ Giáo dục và Đào tạo (sau đây viết tắt là Bộ GD&ĐT) đối với ngành tuyển sinh lần đầu."

3. Bổ sung điểm d vào khoản 2 Điều 2 như sau:

"d) Các trường mở lớp tại địa phương phải có ít nhất 2 năm đào tạo chính quy ngành đó tại trường."

4. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Hàng năm các trường có chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng hình thức VLVH chỉ tổ chức tuyển sinh 4 đợt, vào các tháng 3, tháng 4, tháng 10 và tháng 11, mỗi đợt thi 4 ngày, công việc từng ngày được quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Quy chế này, lịch thi do Hiệu trưởng nhà trường quy định.

Các trường tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng cao miền núi được ưu tiên giao chỉ tiêu VLVH, nhưng không được dùng chỉ tiêu VLVH để liên kết tuyển sinh tại các vùng khác.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG: CÁI CỐNG HÔI TRƯỚC CỬA SẠP

DƯƠNG HẰNG

Bên mua khởi kiện đòi lại tiền cọc vì cho rằng bị lừa bán cái sạp có cái cống bốc mùi hôi thối. Nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng.

Tháng 10-2009, biết vợ chồng bà H. bán hai cái sạp liền kề tại chợ Tân Bình (TP.HCM), bà L. đến mua một cái với giá 1,5 tỉ đồng, đặt cọc trước 100 triệu đồng.

Đòi lại tiền cọc

Sau một thời gian tới lui để hoàn tất hợp đồng, bà L. phát hiện trước cửa sạp có nắp cống thường xuyên bốc mùi hôi thối. Bà L. cho rằng người bán cố tình dùng bạt phủ kín, che nắp cống khiến bà không nhìn thấy nên mới mua cái sạp này. Bà yêu cầu người bán đổi sang sạp kế bên nhưng không được đồng ý. Do vậy, bà khởi kiện đòi lại tiền cọc vì người bán lừa dối khi giao kết hợp đồng.

Ngược lại, bên bán cho rằng nắp cống hiện hữu từ lâu, bà không che giấu gì cả. Từ ngày xem sạp đến lúc đặt cọc tiền cách nhau hơn một tuần, bà L. đã tới thăm sạp rất nhiều lần. Như vậy, bà L. đã phải xem xét rất kỹ lưỡng rồi mới quyết định mua sạp. Sau khi nhận tiền đặt cọc, bà nhiều lần hối thúc bà L. đến giao tiền và nhận sạp nhưng bà L. không thực hiện.

Theo bên bán, lỗi này hoàn toàn từ phía người mua nên người này phải mất toàn bộ tiền cọc.

Hợp đồng vô hiệu

Năm 2010, xử sơ thẩm, TAND quận Tân Bình nhận định nắp cống khá lớn và cao hơn so với mặt đường, ở phía trước cống còn có nước chảy nên người bán không thể che kín bưng. Đồng thời, trước khi thỏa thuận và đặt cọc tiền sang sạp, nguyên đơn nhiều lần đến xem xét thực tế vị trí sạp. Do đó, không thể nói người bán có hành vi gian dối trong giao dịch. Nguyên đơn không chịu nhận sạp theo thỏa thuận là có lỗi nên bị mất cọc như đã giao kết.

Không đồng ý, bà L. đã kháng cáo lên TAND TP.HCM. Tại phiên xử phúc thẩm mới đây, luật sư của bà L. cho rằng trong hợp đồng, bà H. bán cho bà L. cái sạp X. chứ không phải là sạp X./1. Nhưng khi giao dịch cả người mua và người bán đều nhầm tưởng đang mua bán sạp X./1 (sạp có cái nắp cống phía trước). Do đó, khi phát hiện mua nhầm sạp, người mua yêu cầu chuyển sạp theo đúng hợp đồng là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, sạp X. đã bị bà H. bán cho người khác khiến chủ thể của hợp đồng không còn. Do vậy, bà L. yêu cầu hủy hợp đồng, đòi lại tiền cọc là đúng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU: TẤM VÁN ĐÓNG THUYỀN THUỘC VỀ AI?

VĂN ĐOÀN

Bên mất bảo tấm ván bị trôi là của mình, còn bên vớt được bảo bên mất chưa chứng minh được…

Theo hồ sơ, tháng 8-2010, ông T. ở huyện Mang Thít (Vĩnh Long) mua một tấm ván bằng gỗ sao núi trị giá gần 10 triệu đồng rồi mang về ngâm dưới rạch nước sau nhà để chuẩn bị đóng ghe…

Mất tấm ván quý

Ít lâu sau, ông T. phát hiện tấm ván trôi sang bờ sông cặp nhà ông D. nên kêu người qua kéo tấm ván về. Tuy nhiên, ông D. đã ngăn cản, không cho phía ông T. lấy tấm ván. Ông T. tức mình, báo công an xã nhưng ông D. vẫn kiên quyết không đưa. Đòi hoài không được, cuối cùng, ông T. kiện ông D. ra tòa yêu cầu trả lại tài sản…

Đến lúc này, ông D. lên tiếng bảo đúng là ông vớt được tấm ván trôi gần nhà. Tuy nhiên, tấm ván này có phải là của ông T. thì ông T. phải chứng minh. Nếu ông T. không chứng minh được thì ông không trả. Còn nếu ông T. chứng minh được đó là tài sản của mình thì cũng phải bồi thường cho ông hơn 14 triệu đồng tiền chi phí vớt tấm ván và thuê người bảo quản…

Phải trả lại tấm ván

Tháng 1-2011, TAND huyện Mang Thít xử sơ thẩm nhận định ông T. mất tấm ván còn ông D. nhặt được tấm ván, có báo công an xã trong cùng một ngày. Từ ngày đó đến ngày xử sơ thẩm không có ai báo mất tấm ván nữa. Người làm của ông T. cũng khẳng định tấm ván là của ông T. Tại phiên tòa, ông D. khai: “Phải chi ông T. qua nhà thương lượng thì ông D. đã trả lại tấm ván”… Điều này cho thấy ông D. đã thừa nhận tấm ván vớt được là của ông T. Từ nhận định trên, có đủ cơ sở xác định tài sản là của ông T. Do đó, tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông D. phải trả lại tấm ván.

Không đồng ý, ông D. làm đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đầu tháng 3-2011, luật sư của ông D. cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. khai tấm ván dài 9,9 m, ngang 0,9 m. Điều này không trùng khớp với tấm ván mà ông D. vớt được. Cụ thể nó chỉ dài 8,9 m, ngang 1,1 m… Do đó, luật sư đề nghị tòa xác định tấm ván mà ông D. vớt là chưa xác định được chủ sở hữu và tuyên cho ông D. được hưởng tấn ván này theo quy định tại Điều 241 BLDS…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN: MUA ĐẤT CÓ THÊM NHÀ, XỬ SAO?

MINH PHƯƠNG

Bà D. đã nhiều lần yêu cầu giao tài sản nhưng người bán cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản chỉ là để làm tin. Hợp đồng không thể hiện việc mua bán căn nhà cấp bốn trên đất nên tòa phúc thẩm xác định vô hiệu.

Vợ chồng ông A. có một thửa đất khoảng 200 m2 cùng một căn nhà cấp bốn diện tích khoảng 50 m2 tọa lạc trên thửa đất này.

Nhà không giấy, không công chứng

Năm 2008, vợ chồng ông A. đã chuyển nhượng nhà, đất trên cho bà D. với giá 300 triệu đồng. Khi ra công chứng, phòng công chứng chỉ chấp nhận công chứng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (do đất đã được cấp giấy chứng nhận…), không chấp nhận công chứng việc mua bán nhà vì tài sản này chưa có giấy tờ sở hữu. Thế nên trong hợp đồng không thể hiện việc mua bán nhà dù cả hai bên vẫn thống nhất việc này.

Sau đó, theo bà D., dù bà đã trả hết tiền, bên bán vẫn không chịu giao nhà, đất khiến bà bị thiệt thòi. Bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng phía này cho rằng chỉ vay tiền bà, còn việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất chỉ là để làm tin. Nay bà D. đòi thì bên bán sẽ trả lại 400 triệu đồng.

Đòi mãi không xong, bà D. đành kiện nhờ tòa can thiệp.

Hai tòa chỏi nhau

Cấp sơ thẩm nhận định bà D. không chứng minh được việc mình có mua ngôi nhà cấp bốn gắn liền đất. Vợ chồng ông A. không chứng minh được chuyện vay tiền bà D. Nhà gắn liền đất nhưng hai bên không có thỏa thuận mua bán nhà do đó hợp đồng không thể thực hiện được. Tòa tuyên vô hiệu… Hai bên đều có lỗi nên mỗi bên chịu một nửa thiệt hại. Giá trị đất đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 700 triệu đồng nên buộc vợ chồng ông A. phải trả cho bà D. 500 triệu đồng (gồm 300 triệu đồng tiền chuyển nhượng đất và 200 triệu đồng bồi thường 1/2 thiệt hại).

Án tuyên xong, cả hai phía đều kháng cáo

Sau đó, tòa cấp phúc thẩm cho rằng hai bên đã thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện giao dịch mua bán, chuyển nhượng tài sản. Hợp đồng không trái đạo đức xã hội. Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Bà D. đã giao tiền, đã đăng ký quyền sử dụng đất nên hợp đồng đã hoàn thành… Do đó, theo quy định của luật dân sự và luật đất đai, hợp đồng mua bán trên không vi phạm nên không bị vô hiệu. Vợ chồng ông A. không giao tài sản là có lỗi làm cho hợp đồng không thực hiện được… Tòa tuyên sửa án sơ thẩm, buộc vợ chồng ông A. phải bồi thường cho bà D. 700 triệu đồng.

Continue reading