MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

BÙI ĐỨC HIỂN – Phòng Pháp luật Xã hội và Môi trường, Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách để tạo việc làm và bảo đảm việc làm cho người lao động như đẩy mạnh, tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước; xây dựng các đề án, các chương trình giáo dục đào tạo nghề nghiệp cho người lao động; đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài… Đặc biệt, Nhà nước ta đã ban hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi pháp luật, vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định cần được hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi cho người lao động và góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước.

1. Thực trạng và những hạn chế của pháp luật về BHTN ở Việt Nam

Thất nghiệp là hiện tượng người lao động bị ngừng thu nhập do không tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc1. BHTN là sự bảo đảm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất việc theo quy định của pháp luật, trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN. BHTN là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, là một trong những trụ cột, một phần không thể thiếu của bảo hiểm xã hội (BHXH). Khi Nhà nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và đảm bảo phát triển kinh tế hài hòa với xã hội, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 1994 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007). BLLĐ năm 1994 mặc dù đã có quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi thôi việc hoặc mất việc làm thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc (Điều 42 BLLĐ 1994) và trợ cấp mất việc (Điều 17 BLLĐ 1994), nhưng chưa có quy định về BHTN. Do vậy, một trong những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2002 là việc quy định về chế độ BHTN2 (Điều 140). Đây là một quy định rất chính xác và kịp thời, bởi thực ra, BHTN là một loại hình bảo hiểm chuyên biệt dành cho những người lao động thôi việc hoặc mất việc làm theo quy định pháp luật đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng có hiệu quả. Ở nước ta, BHTN ra đời đã tạo thêm một lưới an sinh nhằm hỗ trợ cho người lao động khi bị mất việc có thể vượt qua khó khăn và có cơ hội tìm được việc làm mới. Hơn nữa, BHTN tích hợp trong nó rất nhiều sự ưu đãi, người lao động đủ điều kiện luật định khi bị mất việc có thể được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, hưởng bảo hiểm y tế khi bị ốm đau và trong thời gian thất nghiệp còn được hỗ trợ học nghề, tìm kiếm việc làm. Do vậy, BHTN góp phần bảo vệ quyền lợi cho người lao động, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển xã hội cân bằng.

Luật Bảo hiểm xã hội ra đời năm 2006. Ngày 12/12/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN; ngày 22/01/2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBVXH) có Thông tư số 04/2009/TT-BLDTBXH cụ thể hóa các quy định về chế độ BHTN. Đến ngày 16/10/2009, Bộ LĐTBVXH ban hành Thông tư số 34/2009/TT-BLDTBXH sửa đổi một số quy định của Thông tư 04//2009. Ngoài ra, Bộ Tài chính có Thông tư số 96/2009/TT-BTC ngày 20/5/2009 hướng dẫn chế độ tài chính đối với Quỹ BHTN. Các văn bản pháp luật trên đã quy định cụ thể về phạm vi và đối tượng áp dụng BHTN; nguyên tắc của BHTN, điều kiện, trình tự, thủ tục hưởng BHTN, về các chế độ của BHTN, mức, thời gian hưởng BHTN… Những quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước thực hiện quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình trong việc tham gia đóng và chi trả BHTN cho người lao động.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN: ĐÒI BỒI THƯỜNG VÌ BỊ CHỦ BẮT KHỎA THÂN

HOÀNG YẾN

Tòa cho rằng người giúp việc đòi 10 triệu đồng tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần, công khai xin lỗi tại địa phương là không hợp lý. Bà cũng chỉ yêu cầu bà C. cởi đồ ngoài chứ không biết bà C. không mặc đồ trong.

Theo đơn khởi kiện của bà C., cuối năm 2002, bà đến giúp việc cho gia đình bà D. Hai bên thỏa thuận nếu muốn cắt hợp đồng thì phải báo trước một tháng.

Mất trộm nên buộc ôsin cởi đồ…

Tháng 11- 2010, bà D. cho rằng bà trộm cắp tiền nên đã có hành động xúc phạm bà như chửi bới, lục đồ đạc, bắt cởi hết quần áo để kiểm tra và khóa cửa nhốt không cho ra ngoài. Tuy nhiên, công an xác định không có chứng cứ cho thấy bà ăn trộm nên không truy cứu. Ngay sau đó, bà D. đã đuổi việc bà.

Vì thế, bà khởi kiện yêu cầu bà D. phải bồi thường 19 triệu đồng bao gồm 9 triệu đồng tiền lương, trợ cấp thôi việc…; 10 triệu đồng tiền bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, bà D. phải công khai xin lỗi bà tại địa phương.

Bà D. trình bày đúng là có nghi ngờ bà C. lấy trộm tiền nên mới dò hỏi. Bà C. đã tự cởi quần áo để bà kiểm tra. Tuy nhiên, lúc này bà cũng chỉ yêu cầu bà C. cởi đồ ngoài chứ không biết bà C. không mặc đồ trong. Sự việc diễn ra trong phòng và chỉ có hai người.

Mặt khác, sau khi làm việc tại cơ quan công an, bà C. về đã tự lấy đồ đạc rời khỏi nhà và nghỉ việc. Bà không đuổi việc mà bà C. tự chấm dứt hợp đồng. Do vậy, bà không đồng ý bồi thường cho bà C.

Tổn hại danh dự người khác

Xử sơ thẩm mới đây, TAND quận 11 (TP.HCM) cho rằng quá trình hòa giải và tại phiên tòa, phía bị đơn thỏa thuận sẽ trả cho nguyên đơn 1,4 triệu đồng lương tháng 11-2010 nên tòa ghi nhận… Tuy nhiên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà C. đòi bà D. bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mà không báo trước bởi bà C. đã tự ý nghỉ việc. Hơn nữa, quan hệ lao động giữa đôi bên là quan hệ giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động nên không thuộc trường hợp điều chỉnh của quy định này.

Còn việc bà C. đòi bồi thường tổn thất tinh thần 10 triệu đồng, HĐXX nhận định từ khi bị mất trộm đến nay, bà D. không có văn bản hay lời nói khẳng định bà C. lấy trộm. Bà D. báo với công an để truy tìm thủ phạm là việc làm bình thường không trái pháp luật. Công an mời các người liên quan đến làm việc là trách nhiệm của lực lượng này. Như vậy không thể cho rằng bà D. đã vu khống bà C.

Tuy nhiên, việc khám xét người, khám xét chỗ ở của công dân phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo trình tự do luật pháp quy định. Pháp luật không cho phép một công dân bình thường có quyền khám xét người, khám xét chỗ ở của người khác. Bà D. thể hiện rõ thái độ nghi ngờ bà C. lấy trộm, yêu cầu cho kiểm tra phòng, kiểm tra người thì rõ ràng đã gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của bà C. Điều này pháp luật không cho phép, lỗi thuộc về bà D. Thế nhưng bà D. kiểm tra là có sự đồng ý của bà C., khi kiểm tra chỉ có mặt hai người nên mức độ tổn hại về mặt tinh thần đối với bà C. không lớn. Nguyên đơn đòi bồi thường 10 triệu đồng, công khai xin lỗi tại địa phương là không hợp lý. Vì lẽ đó, tòa chỉ chấp nhận một phần yêu cầu, buộc bị đơn bồi thường cho bà C. trên 1,3 triệu đồng (tương ứng với một tháng lương tối thiểu)…

Chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được khám người

Pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín cá nhân của công dân. Mọi hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của công dân đều bị xử lý theo quy định. Pháp luật nghiêm cấm việc thực hiện các hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do cá nhân và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân. Do đó, việc khám người chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người đó có cất giữ công cụ, phương tiện phạm tội hoặc đồ vật, tài sản do phạm tội mà có. Việc khám người chỉ có thể do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo những thủ tục, trình tự chặt chẽ, không được tùy tiện…

Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/2011042012154816p1063c1016/doi-boi-thuong-vi-bi-chu-bat-khoa-than.htm