XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THÀNH VIÊN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN: GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

TÁC GIẢ CHƯA CẬP NHẬT

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp rất phổ biến ở nước ta và nhiều nước trên thế giới. Số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được thành lập ngày càng tăng cao trong các năm qua ở Việt Nam.

Công ty TNHH (trách nhiệm hữu hạn) hai thành viên trở lên được hiểu là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có số lượng thành viên bị giới hạn ở mức tối thiểu là 02 và tối đa là 50. Thành viên công ty có thể là cá nhân, pháp nhân tham gia góp vốn vào công ty. Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Các thành viên bị hạn chế trong việc định đoạt phần vốn góp của mình. Công ty không được phát hành cổ phần

Một câu hỏi đặt ra nhưng chưa thể tìm được câu trả lời thuyết phục từ quy định của pháp luật hiện hành đó là : tư cách thành viên công ty phát sinh khi nào? Việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm hưởng các quyền lợi cũng như gánh vác các nghĩa vụ của thành viên. Và trong một số trường hợp, việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên (mới) của công ty gắn liền với việc xác định thời điểm chấm dứt tư cách thành viên (cũ) là căn cứ cho việc phân định việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ liên quan đến phần vốn góp trong công ty cũng như việc phân định thẩm quyền xét xử, giải quyết các tranh chấp liên quan khi có tranh chấp xảy ra. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số trường hợp xác định tư cách thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên qua thực tiễn xét xử của Tòa án.

Thứ nhất, trường hợp khi các thành viên thỏa thuận góp vốn để thành lập công ty thì đã phát sinh tư cách thành viên hay chưa?

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi xin nêu một vụ việc cụ thể đã được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bằng Bản án kinh doanh thương mại số 1851/2008/KDTMST ngày 14/11/2008, vụ việc được tóm tắt như sau: tháng 4 năm 2006, bà Nguyễn Thị Lan, ông Tạ Hùng Quốc Việt, ông Nguyễn Tấn Lộc, ông Nguyễn Phú Tài và bà Đặng Thị Phương Anh cùng nhau bàn bạc và thống nhất là thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Đắc Phúc (viết tắt là công ty Đắc Phúc), dự kiến giao cho ông Lộc làm giám đốc và đại diện theo pháp luật của công ty. Các thành viên cũng thống nhất dự kiến bà Lan sẽ làm chủ tịch hội đồng thành viên, ông Trần Công Minh (do bà Lan giới thiệu) làm thủ quỹ. Để các cổ đông yên tâm góp vốn và thể hiện sự công bằng, các thành viên giao cho ông Tài mở và đứng tên tài khoản, việc rút tiền từ ngân hàng phải có chữ ký của cả ông Tài và ông Minh. Các cổ đông phải nộp một phần tiền trước ngày 10/4/2006 để trang trải cho việc thành lập công ty. Ông Lộc chịu trách nhiệm soạn thảo điều lệ công ty để các thành viên thông qua và đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư qua mạng Internet. Ngày 07/4/2006, các thành viên gồm ông Lộc, ông Tài và bà Anh, có cả ông Minh, ông Việt cùng đến Vietcombank – chi nhánh Bình Tây mở tài khoản cho ông Tài đứng tên. Việc nộp tiền được thực hiện như sau : ông Nguyễn Phú Tài nộp 191.000.000đ; bà Đặng Thị Phương Anh nộp 250.000.000đ ; ông Nguyễn Tấn Lộc nộp 250.000.000đ. Sau khi nộp hồ sơ và được cấp biên nhận, Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh phát hiện số CMND mang tên Nguyễn Thị Lan không trùng khớp với số CMND ghi trong sổ hộ khẩu nên yêu cầu bà Lan điều chỉnh hoặc có xác nhận hợp lệ bổ sung hồ sơ thành lập công ty nhưng bà Lan không đáp ứng yêu cầu này. Việc rút tiền từ tài khoản ngân hàng do ông Tài đứng tên để chi tiêu được ông Minh cập nhật vào cuốn sổ riêng do ông Minh giữ và có chữ ký duyệt  của ông Lộc (dự kiến là Giám đốc) trong các khoản tiền rút từ ngân hàng hay chi cho việc thành lập công ty theo thỏa thuận của các thành viên góp vốn. Đến tháng 5/2006, ông Mai Thanh Bình được tuyển làm kế toán trưởng đã thống kê lại chi thu quỹ tiền mặt trong tháng 4/2006, ông Lộc thấy các khoản chi tiêu không rõ từ phía bà Lan, ông Minh nên nhiều lần nhắc nhở kiểm quỹ, quyết toán đối chiếu nhưng hai người không làm. Đến ngày 25/5/2006, bà Lan tuyên bố không thành lập công ty Đắc Phúc và chỉ đạo di dời, tẩu tán tài sản cũng như trả nhà thuê, trốn tránh việc trả lại vốn góp cho các thành viên.

Continue reading

Tìm hiểu pháp luật phá sản TRÊN THẾ GIỚI

PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao

Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.

Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.

Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung (có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đư­ơng nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.

Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.

Continue reading

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI

PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao

Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.

Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.

Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung (có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đư­ơng nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.

Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.

Continue reading

MỘT VÀI HẠN CHẾ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

ĐƯỜNG HẢI VŨ

Luật Đất đai năm 2003 là một bước tiến bộ trong chính sách quản lý về đất đai, sử dụng đất đai của Nhà nước; quy định đầy đủ, rõ ràng và chặt chẽ hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Tuy nhiên trong thực tế thi hành Luật Đất đai còn một số tồn tại vướng mắc có ảnh hưởng đến  quyền lợi của người sử dụng đất.

1- Những tồn tại trong thực tế và vướng mắc của pháp luật

– Về việc giao đất có mồ mả: Trước đây theo phong tục, tập quán của từng địa phương, người dân thường chôn cất người chết trong vườn nhà hoặc trên phần đất ruộng trồng lúa, hoa màu của gia đình mình. Mặc dù đã có Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc giao đất có mồ mả của chủ mồ mả cho người khác sử dụng; cũng chưa có quy định cụ thể người có quyền sử dụng đất có mồ mả được phép trồng cây lâu năm, xây cất công trình kiến trúc cách mộ là bao nhiêu mét? nhằm tránh gây ảnh hưởng đến phần mộ của người khác và tâm linh của người chết. Chính vì vậy, khi thực hiện việc giao đất theo hiện trạng cho người sử dụng và phân chia lại đất thì đất do hộ này canh tác lại được giao cho hộ khác nên đã xảy ra tranh chấp đất gần mộ và đất trồng cây lâu năm trên đất gần mộ của chủ khác.

– Về quy định của Luật Đất đai đối với thời hạn sử dụng đất và gia hạn thời hạn sử dụng đất: Trên thực tế quy định về thời hạn sử dụng đất không đạt được ý nghĩa vì rất nhiều người dân chưa sử dụng hết thời hạn sử dụng đất được Nhà nước giao đã chuyển nhượng lại cho người khác; cũng rất ít trường hợp khi thời hạn sử dụng đất đã hết mà người dân cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan có thẩm quyền xin gia hạn thời hạn sử dụng đất.

– Về vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất: Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng hạ tầng cơ sở, thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế… Người sử dụng đất có quyền được bồi thường  nhưng việc thu hồi giải phóng mặt bằng nhiều khi không tuân thủ trình tự do pháp luật quy định, giá đất bồi thường và giá đất thực tế chênh nhau quá lớn không đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất.

– Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất : “được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đây là quyền của người sử dụng đất, nhưng trên thực tế quyền này của người sử dụng đất bị xem như là nghĩa vụ. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải qua nhiều thủ tục phức tạp, vì vậy dẫn đến tiến độ triển khai việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhìn chung còn chậm làm ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất trong việc thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, vay vốn…

Continue reading

“DI TẶNG” THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 671 BỘ LUẬT DÂN SỰ

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Bộ môn Luật, Đại học Lao động – xã hội

1. Điều kiện để được nhận di tặng

Điều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về di tặng: “1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. 2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.

Theo quy định này, căn cứ phát sinh di tặng là do người lập di chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di chúc có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, người được di tặng không phải là người thừa kế theo di chúc. Mặc dù họ cũng được hưởng một phần di sản của người lập di chúc giống như người thừa kế theo di chúc, nhưng họ lại không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ của người này. Đây là căn cứ xác định sự khác biệt giữa người được di tặng với người thừa kế theo di chúc.

Nhưng Điều 671 không quy định cụ thể điều kiện để một người được nhận di tặng mà chỉ quy định chung: Người lập di chúc được dành một phần tài sản để di tặng cho người khác. Vậy “người khác” ở đây được hiểu như thế nào? Chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm cả cơ quan, tổ chức?

Theo chúng tôi, người được di tặng có thể là cá nhân và cũng có thể là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, mặc dù không quy định cụ thể “người khác” bao gồm những ai, nhưng BLDS cũng không quy định: người được di tặng chỉ có thể là cá nhân.

Vấn đề được đặt ra ở đây là, người được di tặng có cần thỏa mãn các điều kiện như đối với người thừa kế hay không?

Nếu là cá nhân, người được di tặng có cần phải là “đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” hay không? Nếu là tổ chức thì tổ chức đó có phải “tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” hay không? Sở dĩ phải đặt ra vấn đề này là do trong thực tế, có rất nhiều trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình với mục đích tặng cho các quỹ (quỹ học bổng, quỹ từ thiện…).

Continue reading

Giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức Ở NÔNG THÔN

PGS.,TS. LÊ KHƯƠNG NINH – Đại học Cần thơ

Mục tiêu của bài viết là tìm kiếm giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức ở nông thôn thông qua việc phân tích các rào cản khiến các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở khu vực nông thôn, dẫn đến việc nhiều người dân nông thôn phải lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức để hạn chế tín dụng phi chính thức ở khu vực nông thôn.

1. Giới thiệu

Hiện tượng cho vay nặng lãi ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân nông thôn là mối quan tâm thường xuyên của chính phủ lẫn các nhà nghiên cứu. Lập luận thường được sử dụng để giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là: vì không có sự hiện diện của các tổ chức tín dụng chính thức nên những người cho vay phi chính thức gần như độc quyền, do đó ấn định lãi suất cao. Nhận thấy điều đó, chính phủ nhiều nước đã thành lập các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn với hy vọng hạn chế và đi đến loại trừ tín dụng phi chính thức nhằm xóa bỏ hiện tượng cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, bất chấp sự cố gắng đó, nhiều người dân nông thôn vẫn khó tiếp cận tín dụng chính thức nên phải vay phi chính thức để đáp ứng nhu cầu chi tiêu phát sinh hằng ngày cũng như nhu cầu vốn cho sản xuất. Từ đó, tín dụng phi chính thức có cơ hội để tồn tại, thậm chí còn rất phát triển, ở nhiều nơi. Thật vậy, các nghiên cứu (như Tsai, 2004; Conning và Udry, 2007; Mansuri, 2007; Boucher và Guirkinger, 2007; Fletschner, 2009; Turvey và Kong, 2010; v.v.) đã ghi nhận sự hiện diện của tín dụng phi chính thức ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Pakistan, Phi-lip-pin, Bangladesh, Kenya, Peru, Nigeria, Ghana, Guatemala, … Ở Việt Nam, theo Barslund và Tarp (2008), có đến 36% số giao dịch tín dụng ở nông thôn là phi chính thức; đặc biệt ở Phú Thọ, tín dụng phi chính thức chiếm đến 50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây (cũ) con số này là 48%. Khảo sát của Dương (2010) đối với 480 nông hộ ở An Giang cho thấy có đến 199 hộ (41,5%) có vay phi chính thức. Theo các nghiên cứu trên, tín dụng phi chính thức tiếp tục hiện diện ở nông thôn nhờ những ưu thế mà các tổ chức tín dụng chính thức không có được như sự am hiểu người vay (do đó giảm thiểu được hiện tượng thông tin bất đối xứng), chi phí giao dịch thấp, khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ tốt, tính linh hoạt trong quyết định cho vay,… do rất gần gũi với người vay.

Các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân của việc mặc dù được xác định là đối tượng cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng chính thức nhưng nhiều người dân nông thôn (nhất là người nghèo ở những vùng xa xôi) vẫn bị từ chối cho vay nên tiếp tục bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Theo các nghiên cứu này, vấn đề mấu chốt là các tổ chức tín dụng không thể điều chỉnh lãi suất để bù đắp chi phí và rủi ro cao khi cho vay ở nông thôn do người vay thường gặp các bất trắc khó lường ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nông sản bấp bênh,… trong khi lại thiếu tài sản thế chấp và không có cơ chế bảo hiểm cây trồng, vật nuôi. Kết quả là các tổ chức tín dụng sẽ hạn chế cho vay ở nông thôn, từ đó mở ra cơ hội cho tín dụng phi chính thức phát triển vì người dân nông thôn rất cần vốn cho sản xuất, cần tiền để trang trải cho các nhu cầu đột xuất (như bệnh tật, ma chay, cưới hỏi, học hành của con cái,…) trong khi thu nhập nhiều lúc không đủ để đáp ứng.

Mục tiêu của bài viết là phân tích nguyên nhân của việc các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn, dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của tín dụng phi chính thức ở đây. Trên cơ sở phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tín dụng phi chính thức thông qua việc tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn, đặc biệt là ở những vùng xa xôi.

Continue reading

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍN DỤNG PHI CHÍNH THỨC Ở NÔNG THÔNG

PGS.,TS. LÊ KHƯƠNG NINH – Đại học Cần thơ

Mục tiêu của bài viết là tìm kiếm giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức ở nông thôn thông qua việc phân tích các rào cản khiến các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở khu vực nông thôn, dẫn đến việc nhiều người dân nông thôn phải lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức để hạn chế tín dụng phi chính thức ở khu vực nông thôn.

1. Giới thiệu

Hiện tượng cho vay nặng lãi ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân nông thôn là mối quan tâm thường xuyên của chính phủ lẫn các nhà nghiên cứu. Lập luận thường được sử dụng để giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là: vì không có sự hiện diện của các tổ chức tín dụng chính thức nên những người cho vay phi chính thức gần như độc quyền, do đó ấn định lãi suất cao. Nhận thấy điều đó, chính phủ nhiều nước đã thành lập các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn với hy vọng hạn chế và đi đến loại trừ tín dụng phi chính thức nhằm xóa bỏ hiện tượng cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, bất chấp sự cố gắng đó, nhiều người dân nông thôn vẫn khó tiếp cận tín dụng chính thức nên phải vay phi chính thức để đáp ứng nhu cầu chi tiêu phát sinh hằng ngày cũng như nhu cầu vốn cho sản xuất. Từ đó, tín dụng phi chính thức có cơ hội để tồn tại, thậm chí còn rất phát triển, ở nhiều nơi. Thật vậy, các nghiên cứu (như Tsai, 2004; Conning và Udry, 2007; Mansuri, 2007; Boucher và Guirkinger, 2007; Fletschner, 2009; Turvey và Kong, 2010; v.v.) đã ghi nhận sự hiện diện của tín dụng phi chính thức ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Pakistan, Phi-lip-pin, Bangladesh, Kenya, Peru, Nigeria, Ghana, Guatemala, … Ở Việt Nam, theo Barslund và Tarp (2008), có đến 36% số giao dịch tín dụng ở nông thôn là phi chính thức; đặc biệt ở Phú Thọ, tín dụng phi chính thức chiếm đến 50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây (cũ) con số này là 48%. Khảo sát của Dương (2010) đối với 480 nông hộ ở An Giang cho thấy có đến 199 hộ (41,5%) có vay phi chính thức. Theo các nghiên cứu trên, tín dụng phi chính thức tiếp tục hiện diện ở nông thôn nhờ những ưu thế mà các tổ chức tín dụng chính thức không có được như sự am hiểu người vay (do đó giảm thiểu được hiện tượng thông tin bất đối xứng), chi phí giao dịch thấp, khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ tốt, tính linh hoạt trong quyết định cho vay,… do rất gần gũi với người vay.

Các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân của việc mặc dù được xác định là đối tượng cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng chính thức nhưng nhiều người dân nông thôn (nhất là người nghèo ở những vùng xa xôi) vẫn bị từ chối cho vay nên tiếp tục bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Theo các nghiên cứu này, vấn đề mấu chốt là các tổ chức tín dụng không thể điều chỉnh lãi suất để bù đắp chi phí và rủi ro cao khi cho vay ở nông thôn do người vay thường gặp các bất trắc khó lường ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nông sản bấp bênh,… trong khi lại thiếu tài sản thế chấp và không có cơ chế bảo hiểm cây trồng, vật nuôi. Kết quả là các tổ chức tín dụng sẽ hạn chế cho vay ở nông thôn, từ đó mở ra cơ hội cho tín dụng phi chính thức phát triển vì người dân nông thôn rất cần vốn cho sản xuất, cần tiền để trang trải cho các nhu cầu đột xuất (như bệnh tật, ma chay, cưới hỏi, học hành của con cái,…) trong khi thu nhập nhiều lúc không đủ để đáp ứng.

Mục tiêu của bài viết là phân tích nguyên nhân của việc các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn, dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của tín dụng phi chính thức ở đây. Trên cơ sở phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tín dụng phi chính thức thông qua việc tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn, đặc biệt là ở những vùng xa xôi.

Continue reading