TÁI CẤU TRÚC VINASHIN: CẦN ĐỐI XỨNG THÔNG TIN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

TS. VƯƠNG QUÂN HOÀNG – Công ty Nghiên cứu kinh tế DHVP

Tăng trưởng “nóng”, mải mê theo đuổi những mục tiêu lớn trong khi trình độ quản lý không theo kịp là nguyên nhân chính đưa con tàu Vinashin bị cuốn vào vòng xoáy khủng hoảng.

Trong nhiều tháng qua, vấn đề khủng hoảng tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) liên tục là tâm điểm của các hệ thống truyền thông, giới nghiên cứu chính sách, cộng đồng kinh doanh và đông đảo quần chúng nhân dân. Những sai phạm tại Vinashin cần xử lý nghiêm khắc, từng cá nhân sẽ phải nhận đầy đủ trách nhiệm, song việc quan trọng hơn hết là tái cấu trúc lại ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Với lợi ích quốc gia được đặt lên hàng đầu, tỉnh táo phân tích thực trạng Vinashin với các số liệu trung thực và công khai để xây dựng các giải pháp, kịch bản phục hồi là việc trọng yếu và cần được ưu tiên đặc biệt vào lúc này.

1 – Bất đối xứng thông tin về hoạt động doanh nghiệp của Vinashin

Trong các luồng thông tin về Vinashin thời gian qua, vấn đề được nhắc tới nhiều lần là năng lực quản lý hạn chế, đầu tư tràn lan vào nhiều lĩnh vực không liên quan tới chức năng kinh doanh cốt lõi của tập đoàn, đội ngũ lãnh đạo có những biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, báo cáo không đúng về thực trạng sử dụng vốn, kết quả đầu tư và khai thác kinh doanh.

Với cách thức hoạt động như vậy, lại gặp bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, ngành đóng tàu và sửa chữa tàu biển thế giới phải đối mặt nhiều khó khăn, Vinashin lâm vào tình trạng thua lỗ nặng nề, vay nợ lớn và có nguy cơ mất khả năng thanh toán, phá sản, đông đảo công nhân bị nợ lương, bị mất việc làm hoặc chuyển việc.

Điều đáng nói là, trong bối cảnh đó, những thông tin về Vinashin đều thể hiện quan điểm và góc nhìn từ bên ngoài vào hệ thống này, còn thông tin được đưa ra từ Vinashin lại vắng bóng. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, thông tin và phân tích của chính Vinashin có thể nói là không hề xuất hiện.

Mặt khác, thông tin được công bố chính thức về các vấn đề và khó khăn của Vinashin nhiều, nhưng nội dung giống nhau, dừng lại ở các con số cộng gộp nên khó sử dụng cho phân tích sâu, không khắc họa được đầy đủ bức tranh toàn cảnh về Vinashin cũng như việc xây dựng các kịch bản vận hành trong tương lai. Thông báo của Văn phòng Chính phủ về “Tình hình hoạt động và chủ trương, giải pháp để ổn định, phát triển Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam”, vào ngày 4-8-2010, cho đến nay là tài liệu chính thức có mô tả đầy đủ nhất về hiện trạng của Vinashin.

Continue reading

NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ KINH DOANH VỚI TƯ CÁCH CHỦ SỞ HỮU

phanLÊ VĂN TỨ

Nếu nền kinh tế công hữu hóa tập trung bao cấp không chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân, thì ngược lại, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần lại đòi hỏi phải có thành phần kinh tế nhà nước, vì nếu thiếu, thì đó không còn là kinh tế thị trường nhiều thành phần nữa. Theo định đề này, có thể thấy đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có hai nội dung chủ yếu:

1. Cổ phần hóa một bộ phận kinh tế nhà nước, trong đó cổ phần hóa được hiểu đồng nghĩa với tư nhân hóa khi toàn bộ một doanh nghiệp (DN) được cổ phần hóa, còn khi chỉ cổ phần hóa một phần DN thì đó là tư nhân hóa một phần. Cả hai dạng cổ phần hóa nêu trên đều đã diễn ra trong thực tế.

2. Đổi mới DNNN nhằm củng cố, tăng cường khu vực kinh tế nhà nước.

Với tư cách cơ quan quyền lực, Nhà nước qua Luật Doanh nghiệp thực hiện quản lý nhà nước đối với tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Trước pháp luật, DN các thành phần kinh tế đều bình đẳng. Tuy nhiên, với tư cách chủ sở hữu, Nhà nước không thể buông chức năng quản lý kinh doanh đối với các DN của mình.

Một câu hỏi nảy sinh: nếu các chủ quản (cũ) chỉ quản lý nhà nước, thì cơ quan nhà nước nào sẽ đóng vai trò chủ sở hữu để quản lý kinh doanh các đơn vị kinh tế nhà nước? Vấn đề này rất quan trọng nhưng lâu nay dường như còn bỏ ngỏ. Do đó, chức năng quản lý của chủ sở hữu cũng bị bỏ ngỏ theo.

Về danh nghĩa, DNNN có chủ là Nhà nước nhưng thực tế dường như vô chủ vì pháp luật chưa minh định ai là chủ. Đây là một môi trường màu mỡ cho lạm quyền, tham ô, tham nhũng đã đước tạo ra. Đã từng xuất hiện ý tưởng giao chức năng này cho các tổng công ty.

Song như thực tế đã cho thấy, các tổng công ty, kể cả Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước, không đủ tầm để thực hiện chức năng này, vì bản thân nó cũng chỉ là một DN, chỉ có tầm nhìn của DN, trong khi muốn đóng vai Nhà nước phải có tầm nhìn quốc gia.

Continue reading

ĐÁNH ĐU VỚI PHÁP LUẬT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC -  Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Sống và làm việc theo pháp luật đã trở thành một đòi hỏi tất yếu, không bàn cãi. Tuy nhiên, mỗi năm lại nảy sinh nhiều điều khó khăn, vướng mắc từ luật pháp. Do sự bất cập từ con người, cơ chế chính sách, cho đến chính pháp luật.

“Hủ tục” hành chính

Thủ tục hành chính từ lâu đã trở thành những rào cản ghê gớm thách thức sự phát triển. Câu chuyện bức xúc dài kỳ ấy cuối cùng cũng đã được “cắt tỉa” bằng mấy chục Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành chính trong tháng 12-2010. Tuy nhiên, cũng chỉ là hy vọng trong tương lai thôi, vì nó mới chỉ là chỉ đạo định hướng, chứ chưa phải là văn bản pháp quy để có thể áp dụng được ngay. Muốn thành hiện thực, thì còn phải chờ đợi sửa đổi dễ tới cả ngàn văn bản luật, nghị định và thông tư liên quan.
Nếu quyết tâm thì hoàn toàn có thể bỏ được 30% số thủ tục hành chính, nhưng điều đó chưa đáng gì so với những thủ tục “hành là chính”. Một thủ tục hành chính dù hợp lý, cần thiết đến đâu, một khi đã bị biến dạng thành “hủ tục” thì cũng đều trở thành tai hoạ. Thủ tục cấp giấy chứng nhận về bất động sản là vô cùng cần thiết và quy định cũng không quá rắc rối, phức tạp. Thế nhưng đến ông Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường còn phải nghiến răng chịu mất “oan” hơn chục triệu đồng để lấy được “sổ đỏ”. Như vậy, vị tổng tư lệnh về “điền thổ” đã công khai “làm gương” cho thiên hạ kéo “cờ trắng” đầu hàng “hủ tục”. Vì vậy, để đạt được hiệu quả thật sự, thì còn phải chờ “sửa” được cả cung cách và tư cách của nhiều vạn người đang là công bộc phục vụ nhân dân. Điều này khó hơn gấp cả trăm, ngàn lần việc cải cách thủ tục hành chính.
Vì có quá nhiều việc, nên vẫn có những việc thiết thực nhưng chưa bao giờ được đưa vào tầm ngắm cải cách thủ tục hành chính. Đó là những việc tưởng chừng vô cùng nhỏ nhặt, nhưng nếu chỉ quan tâm một chút thôi, thì cũng có thể tiết kiệm được cả núi tiền của. Đơn cử như các mẫu biểu về đăng ký kinh doanh lâu nay, tuy được làm mới mấy lần nhưng có thể nói là trình độ đánh máy, trình bày văn bản vẫn dừng lại ở mức i tờ, kiểu như đánh hàng trăm dấu chấm quá đỗi thủ công để kẻ dòng, thay vì chỉ cần nhấn một phím “táp”. Chỉ cần một người có trình độ tin học cơ bản, chịu khó chỉnh sửa trong một vài ngày, thì đỡ khổ cho hàng triệu lượt người phải bực mình, tốn kém không biết bao nhiêu thời gian, công sức để sửa mẫu mà vẫn thiếu chuẩn mực.

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ VÀ MỐI QUAN HỆ HIỆU LỰC GIỮA HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN VỚI HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Không thể phủ nhận rằng, thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm có rất nhiều ưu thế so với các biện pháp bảo đảm khác, xét từ góc độ tính tiện dụng cho các bên liên quan (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm). Vì lẽ đó, các tổ chức tín dụng và khách hàng vay trong quan hệ vay vốn thường ưu tiên lựa chọn biện pháp bảo đảm này. Tuy nhiên, để xử lý tốt mối quan hệ lợi ích giữa các bên trong hợp đồng thế chấp tài sản, điều rất quan trọng là phải nhận diện đúng đặc trưng pháp lý của mỗi loại hợp đồng này và mối quan hệ về hiệu lực giữa chúng với nhau. Bài viết này có mục tiêu giải quyết vấn đề đó, góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc ứng dụng và thực thi pháp luật về thế chấp tài sản trong quan hệ vay vốn tại tổ chức tín dụng.

1. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay có bảo đảm của tổ chức tín dụng

Đặc điểm pháp lý của hợp đồng thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt Nam, giao dịch bảo đảm được định nghĩa là hợp đồng mà theo đó một bên (gọi là bên bảo đảm) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụ thể đối với bên có quyền, nếu đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó không được người có nghĩa vụ thực hiện[1]. Giao dịch bảo đảm có nhiều loại khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là giao dịch bảo lãnh, giao dịch cầm cố và giao dịch thế chấp. Đây cũng là những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được áp dụng phổ biến nhất trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Với tư cách là một giao dịch bảo đảm, giao dịch thế chấp (hay hợp đồng thế chấp) là thỏa thuận giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp, theo đó bên thế chấp cam kết sẽ đem các tài sản của mình để bảo đảm thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ của chính mình hoặc của người thứ ba (bên có nghĩa vụ) đối với bên nhận thế chấp mà không cần phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp[2].

Xét về phương diện học thuật, ngoài những đặc điểm mang tính bản chất của hợp đồng thế chấp nói chung, hợp đồng thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những đặc trưng pháp lý sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay luôn có một bên là tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận thế chấp (bên có quyền đòi nợ theo hợp đồng tín dụng). Ngoài ra, chủ thể thứ hai là bên thế chấp và chủ thể này có thể chính là bên vay hoặc người thứ ba có tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng.

Do chủ thể nhận thế chấp là tổ chức tín dụng nên việc phòng tránh rủi ro tín dụng cho chủ thể này là vấn đề hết sức quan trọng, được pháp luật quan tâm đặc biệt vì mục tiêu giữ vững an toàn của hệ thống ngân hàng và đảm bảo lợi ích quốc gia.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 165/BXD-QLN NGÀY 30 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG ĐỀ NGHỊ HƯỚNG DẪN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG CỤM TUYẾN DÂN CƯ

Kính gửi:

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Theo quy định của Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua trả chậm nền nhà và nhà ở trong các cụm, tuyến dân cư ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thì các hộ thuộc diện đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua trả chậm nền nhà và nhà ở trong cụm, tuyến dân cư. Thời hạn vay là 10 năm, trong đó có 5 năm ân hạn. Quyết định trên cũng quy định: các hộ mua nền nhà và nhà ở nói trên, trong 10 năm kể từ khi mua không được sang bán, cầm cố, chuyển nhượng.

Đến nay, nhiều hộ dân mua nền nhà và nhà ở trong cụm, tuyến dân cư đã gần 10 năm và trên thực tế, một số hộ dân đã trả hết nợ vay và có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở. Các địa phương cũng mong muốn thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho những hộ dân đã trả xong nợ vay để mua đất ở trước thời hạn quy định, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương thu hồi nợ vay của các hộ khác.

Để đáp ứng yêu cầu nói trên, Bộ Xây dựng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các hộ dân thuộc diện đối tượng vào ở trong các cụm, tuyến dân cư đã trả hết nợ vay để mua nền nhà ở và đã trả hết nợ vay để làm nhà ở trước thời hạn quy định 10 năm, kể từ ngày mua; đồng thời để đảm bảo yêu cầu quản lý theo quy định tại Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đề xuất việc viết Giấy chứng nhận đối với phần "Ghi chú" (quy định tại khoản 1 Điều 8 của Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) như sau:

"Trong thời gian từ ngày…/…/… (ghi ngày, tháng, năm hộ dân ký khế ước vay vốn mua nền nhà ở) đến ngày…/…/… (ghi ngày, tháng, năm hộ dân vay vốn mua nền nhà ở đủ 10 năm) chỉ được quyền chuyển nhượng cho chính quyền địa phương, cho… (ghi chủ đầu tư dự án xây dựng xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở), cho đối tượng thuộc Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long".

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 12/2011/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TỔ CHỨC VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI THANH NIÊN XUNG PHONG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thanh niên ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam và Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về tổ chức và chính sách đối với thanh niên xung phong tham gia phát triển kinh tế – xã hội và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với thanh niên xung phong.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức thanh niên xung phong, đội viên thanh niên xung phong và cán bộ quản lý thanh niên xung phong.

Điều 3. Chức năng của thanh niên xung phong

Thanh niên xung phong là lực lượng xung kích của thanh niên tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm, giáo dục, rèn luyện và đào tạo thanh niên.

Điều 4. Nhiệm vụ của thanh niên xung phong

1. Tham gia thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội được giao ở biên giới, hải đảo, những nơi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn (sau đây gọi chung là vùng khó khăn).

2. Tham gia thực hiện việc khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, trật tự an toàn giao thông, bảo đảm an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách khác.

3. Tham gia thực hiện cai nghiện ma túy, giáo dục lao động, giải quyết việc làm cho thanh niên sau cai nghiện ma túy và các đối tượng thanh thiếu niên mắc tệ nạn xã hội khác.

4. Tham gia sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ nông dân sản xuất và đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho thanh niên.

5. Giáo dục, rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho đội viên, cán bộ quản lý thanh niên xung phong.

Continue reading

LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TÀI SẢN

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

1. Tổng quan

Khái niệm và đặc điểm. Vật quyền là một khái niệm của luật latinh, được dùng để chỉ quyền có thể được thực hiện trực tiếp và ngay tức khắc trên một vật1. Quan hệ vật quyền trên nguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật). Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thể khác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác. Chính điều này tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa vật quyền và trái quyền, cũng là một loại quyền tài sản được ghi nhận trong luật latinh: trái quyền được thiết lập giữa hai chủ thể và chỉ có thể được thực hiện suôn sẻ trên cơ sở hợp tác tích cực giữa hai chủ thể đó.

Ngoài ra, vật quyền cũng được nhận biết nhờ hai điểm mà ở đó, chủ thể của quyền có lợi thế rõ ràng so với chủ thể của trái quyền.

Thứ nhất, vật quyền cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với vật, bất kể vật đang nằm trong tay người nào. Luật gọi đó là quyền theo đuổi. Trên nguyên tắc, tất cả những ai đang nắm giữ vật, dù với tư cách nào, đều phải tôn trọng các quyền năng của người có vật quyền, một cách không điều kiện: người có quyền sở hữu tài sản được quyền yêu cầu người nắm giữ tài sản phải giao tài sản cho mình và người sau này phải giao nếu không muốn bị coi là người chiếm giữ tài sản trái phép; chủ sở hữu tài sản thế chấp phải tôn trọng quyền kê biên tài sản của chủ nợ nhận thế chấp; chủ sở hữu bất động sản chịu địa dịch về lối đi qua phải tôn trọng quyền về lối đi qua của người hưởng địa dịch…

Thứ hai, vật quyền cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với vật nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác, đặc biệt là những người theo đuổi cùng lợi ích đó. Luật gọi đó là quyền ưu tiên. Chủ nợ nhận thế chấp có quyền nhận tiền thu được từ việc bán tài sản thế chấp để trừ nợ trước các chủ nợ thường.

Không chỉ được sử dụng cùng với trái quyền như các công cụ phân loại tài sản, vật quyền trước hết là một trong những chế định cơ sở của pháp luật tài sản, là chỗ dựa mà từ đó các chế định khác của pháp luật tài sản có thể được xây dựng và hoàn thiện. Chế định vật quyền cho phép xây dựng một hệ thống pháp luật tài sản có chất lượng; đến lượt mình, hệ thống ấy đặt cơ sở cho sự phát triển giao lưu dân sự lành mạnh và an toàn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và bình ổn trật tự xã hội.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ DỊCH VỤ ĐÒI NỢ TẠI HÀN QUỐC

image N.A

Trước năm 1995, tại Hàn Quốc dịch vụ đòi nợ vẫn chưa có sự điều chỉnh bởi pháp luật. Do đó, giai đoạn này dịch vụ đòi nợ hợp pháp hoạt động rất yếu, trong khi đó dịch vụ đòi nợ bất hợp pháp lại rất phát triển dưới hình thức đòi nợ thuê do các băng nhóm xã hội đen thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời đáp ứng nhu cầu về dịch vụ đòi nợ của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, năm 1995 Hàn Quốc đã ban hành Luật về thông tin tín dụng, trong đó có quy định về dịch vụ đòi nợ.

Sự ra đời của Bộ Luật này và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ đòi nợ hợp pháp tại Hàn Quốc. Đáng chú ý là, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nhu cầu về dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc tăng đột biến, làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ hợp pháp đã phát triển nhanh chóng tại Hàn Quốc. Theo thống kê, đến năm 2005, tại Hàn Quốc đã có 22 công ty dịch vụ đòi nợ hoạt động trong phạm vi toàn quốc, các công ty này đã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là tình trạng công nợ xấu phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu về kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc để bạn đọc tham khảo.

Tại Hàn Quốc, hoạt động dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc đại diện cho chủ nợ để đòi nợ thông qua các hoạt động thúc giục khách nợ trả nợ như: Gọi điện thoại, gửi thư hoặc gặp trực tiếp khách hàng để yêu cầu trả nợ. Hoạt động dịch vụ đòi nợ còn bao gồm cả việc điều tra tình hình tài sản và tài chính của khách nợ trên cơ sở khai thác những thông tin cá nhân của khách nợ tại các trung tâm lưu giữ thông tin của Nhà nước, như thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng hôn nhân của khách nợ, thông tin về thu nhập và tình trạng nộp thuế của khách nợ, thông tin về tình hình đăng ký tài sản (như nhà, đất, phương tiện vận tải, chứng khoán,…) thuộc sở hữu của khách nợ (tức là không nhất thiết chỉ thuộc phạm vi tài sản thế chấp). Ngoài ra, hoạt động dịch vụ đòi nợ không bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật liên quan đến việc đòi nợ.

Pháp luật Hàn Quốc quy định, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện bởi hoạt động dịch vụ đòi nợ là các khoản nợ giữa các tổ chức kinh tế với các tổ chức kinh tế, giữa tổ chức kinh tế với cá nhân mà trong quan hệ đó tổ chức kinh tế là chủ nợ. Các khoản nợ này bao gồm cả nợ trong nước và nợ có yếu tố nước ngoài. Các khoản nợ về thuế và các khoản nợ mà cá nhân là chủ nợ chưa được phép thực hiện bởi dịch vụ đòi nợ.

Tuy nhiên, pháp luật Hàn Quốc cũng quy định, cá nhân không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Chỉ các công ty dịch vụ đòi nợ được cấp giấy phép hoạt động mới được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các công ty dịch vụ đòi nợ không được phép đồng thời kinh doanh các ngành nghề khác ngoài hoạt động dịch vụ đòi nợ, đặc biệt là không được phép kinh doanh ngành nghề mua bán nợ. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 10/2011/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 141/2006/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 2006 VỀ BAN HÀNH DANH MỤC MỨC VỐN PHÁP ĐỊNH CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng như sau:

1. Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định tại Danh mục ban hành kèm theo, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2011”.

2. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1. Trong thời gian các tổ chức tín dụng chưa đảm bảo mức vốn pháp định theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không xem xét việc mở rộng mạng lưới hoạt động (chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp, các loại hình hiện diện khác theo quy định của pháp luật) và việc mở rộng nội dung hoạt động của tổ chức tín dụng.

2. Sau ngày 31 tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định xử lý theo quy định của pháp luật đối với tổ chức tín dụng không đảm bảo vốn pháp định quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này.”

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 11/2011/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 1 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 159/2006/NĐ-CP NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 2006 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN TRỰC TIẾP THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC TỪ NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 TRỞ VỀ TRƯỚC CÓ 20 NĂM TRỞ LÊN PHỤC VỤ QUÂN ĐỘI ĐÃ PHỤC VIÊN, XUẤT NGŨ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau:

Điều 2.

1. Đối tượng được thực hiện chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 1 Nghị định này là quân nhân nhập ngũ từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội, hiện không thuộc diện đang được hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;

b) Thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên đang điều trị tại các trung tâm điều dưỡng thương binh hoặc từ trung tâm điều dưỡng thương binh đã về gia đình trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;

c) Quân nhân chuyển ngành hoặc chuyển sang công nhân viên chức quốc phòng rồi thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; đã có quyết định chuyển ngành trước ngày 01 tháng 4 năm 2000 nhưng không thực hiện được hoặc quân nhân đã về địa phương mà chưa giải quyết chế độ phục viên, xuất ngũ;

Continue reading

CHIẾC BÌNH SỨ VỠ VÀ KINH TẾ VỈA HÈ

PGS.TS. NGUYỄN MINH HÒA – THS. MINH QUANG – THS. HẢI NGUYÊN (Khoa Đô thị học và Quản lý đô thị, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, TP. HCM)

Cách đây vài ngày, tôi và hai vị giáo sư người Ý đi từ sở Khoa học và công nghệ trên đường Điên Biên Phủ băng qua Trương Định. Hai vị rất thích thú nhìn ngắm những chiếc bình, lọ, tượng sứ, gốm bán trên vỉa hè và định mua một vài món thì bất ngờ hai chiếc xe chở đầy cảnh sát khu vực và quản lý thị trường chừng hơn chục người đỗ xịch lại và một quang cảnh hỗn độn diễn ra.

Các anh bê tất cả đồ sứ chất lên xe, cho dù rất thận trọng nhưng có vài món bị vỡ, trong khi đó, hai vợ chồng người bán hết lời năn nỉ, cô vợ trẻ khóc ròng. Hai vị giáo sư hỏi tôi chuyện này là như thế nào và kinh ngạc khi tôi bảo họ bán hàng lấn chiếm vỉa hè vi phạm quy định hành chính. Họ ngạc nhiên là phải, bởi vì ở xứ họ việc bán hàng lưu niệm như thế này là bình thường và được khuyến khích. Vả lại những người bán hàng đã để hàng hoá sát vào chân tường rào. Hơn thế nữa con đường này không có người đi bộ qua lại.

Vào những ngày gần tết, số lượng người bán hàng rong di động và cố định một chỗ khá nhiều, vì tết là một dịp để họ bán được hàng bù vào những ngày thường ế ẩm. Nhưng thật không hay chút nào khi mà ngày nào cũng có những cuộc rượt đuổi, đổ vỡ, nước mắt và có cả những câu khó nghe đã diễn ra.

Ở đây có ba câu hỏi chúng ta phải đặt ra và nhận thức lại cho thoả đáng.

1. Thứ nhất, việc bán hàng rong như vậy có mang lại lợi ích gì cho cộng đồng, xã hội không, và ở các thành phố khác trên thế giới có không? Câu trả lời là có nếu nó không làm bẩn môi trường, mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng xấu đến giao thông, ồn ào mất trật tự. Thực sự thì người mua những loại hàng hoá này khá nhiều bởi nó rẻ (do hàng bị lỗi, lạc mốt, sản xuất gia đình, không phải trả tiền mặt bằng và thuế,…). Có người mua chứng tỏ là xã hội có nhu cầu.

Continue reading

CẢI CÁCH TÒA ÁN–TRỌNG TÂM CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Computer Court RulingBÙI DƯƠNG PHÚ – Sở Tư pháp Bến Tre

Trong tình hình hiện nay, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, việc cải cách hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết. Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

Sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được thông qua, Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như: Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử, khiếu nại, tố cáo. Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định còn lớn. Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy là việc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49-NQ/TW còn chậm, chưa đạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI: HẦU HẾT SAI SÓT ĐỀU LIÊN QUAN ĐẾN CHỨNG CỨ

THANH TÙNG

Theo thống kê năm 2010, trong 123 bản án của tòa án quận, huyện bị cấp phúc thẩm hủy có đến 63 án liên quan đến đất đai, tập trung nhiều ở các quận 6, 7, 8, 9, 12, Tân Phú, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh. Trong 53 án sơ thẩm do TAND TP giải quyết bị TAND Tối cao hủy theo trình tự giám đốc thẩm có tới 24 án liên quan đến đất đai. Trong số 13 vụ án do Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử hủy thì cũng có năm vụ liên quan đến đất đai.

Trong hội thảo tổng kết ngành TAND TP.HCM mới đây, Tòa Dân sự đã rút kinh nghiệm về những sai sót trong quá trình giải quyết án liên quan đến đất đai.

Thu thập chứng cứ chưa chặt

Theo thống kê năm 2010, trong 123 bản án của tòa án quận, huyện bị cấp phúc thẩm hủy có đến 63 án liên quan đến đất đai, tập trung nhiều ở các quận 6, 7, 8, 9, 12, Tân Phú, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh. Trong 53 án sơ thẩm do TAND TP giải quyết bị TAND Tối cao hủy theo trình tự giám đốc thẩm có tới 24 án liên quan đến đất đai. Trong số 13 vụ án do Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử hủy thì cũng có năm vụ liên quan đến đất đai.

Chánh Tòa Dân sự TAND TP.HCM Dương Bửu Chánh cho biết một thiếu sót khá phổ biến là cấp sơ thẩm không kiểm định lại các tài liệu chứng cứ do cùng một cơ quan cung cấp khi nó có sự sai lệch về con số, diện tích, số thửa. Hậu quả là khi có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm không thể khắc phục được bằng việc cho giám định lại, đo đạc lại nên đã hủy án…

Các lỗi tiếp theo là thẩm phán thường không yêu cầu UBND cung cấp bản sao hồ sơ quá trình xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu với yêu cầu phản bác, phản tố của đương sự. Thứ nữa là loại tranh chấp phải tính án phí theo giá ngạch nhưng thẩm phán thường quên định giá giá trị quyền sử dụng đất khi đương sự không yêu cầu. Ngoài ra, việc triệu tập thiếu người tham gia tố tụng cũng là lỗi phổ biến. Kế đến là việc thu thập chứng cứ từ các cơ quan, tổ chức thường rất khó, đương sự không thể tự thu thập được nhưng tòa cấp sơ thẩm ít giúp đỡ.

Continue reading

TÌM HIỂU CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 VỀ TÀI SẢN, NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN, CÁC BIỆN PHÁP BẢO TOÀN TÀI SẢN, HỘI NGHỊ CHỦ NỢ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

LÊ THẾ PHÚC – Tòa án nhân dân tối cao

Phá sản là tình trạng không mong muốn của thương nhân trong kinh doanh, nhưng lại là một quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường. Pháp luật về phá sản có nhiệm vụ quan trọng là tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong tình trạng kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội để tái tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc rút ra khỏi thương trường một cách có trật tự, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ.

Pháp luật về phá sản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ thông qua nhiều quy định khác nhau nhưng thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất là thông qua các quy định về tài sản, nghĩa vụ về tài sản, bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và thông qua tổ chức và hoạt động của hội nghị chủ nợ.

Trên cơ sở thực tiễn năm năm thi hành Luật Phá sản năm 2004, trong chuyên đề này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các quy định của Luật Phá sản năm 2004 về: (1) tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; (2) các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; và (3) hội nghị chủ nợ.

I. TÀI SẢN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

1. Khái niệm tài sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những thuật ngữ pháp lý quan trọng của Luật Phá sản năm 2004.

Thuật ngữ “tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” thường được gọi tắt là tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thuật ngữ “nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” là tài sản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

Hai thuật ngữ này thường được gọi chung là tài sản phá sản (hay sản nghiệp) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

Như vậy, tài sản phá sản bao gồm cả tài sản có và tài sản nợ, thông thường khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản thường ít hơn tổng số tài sản nợ và tài sản này thường được xác định tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Continue reading

PHÂN TÍCH PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH ĐỂ TÌM RA CÁC BẤT CẬP

image TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Sự ra đời của pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam

Những  người  tham  gia  thương  trường  đầu tiên  có lẽ  là  những  cá  nhân  mong  muốn  tìm kiếm lợi  nhuận  thông  qua  việc  mua  bán,  trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ. Giống như các chủ thể  khác của  luật  dân sự,  những  cá  nhân  này phải  chịu  trách   nhiệm đến cùng, hay nói cách khác, bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các
khoản nợ, có nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với những hành vi thương mại của mình.  Đây  là một  tính  chất  điển  hình của thương nhân mà, có lẽ sau này, người ta, vì thế, đã  tìm kiếm  các giải pháp khắc phục bằng các loại hình công ti thông qua chế độ trách nhiệm. Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương  nhân  đơn lẻ  hay  doanh  nghiệp  cá  thể  (sole trader  hay  sole  proprietorship). Về mặt học thuật người ta thường gọi đó là thương nhân thể nhân  để  phân  biệt với  các  công  ti mà  thường được gọi  là  thương  nhân  pháp  nhân. Nhưng  ở Việt  Nam  con  đường  hình  thành  các  thương nhân đơn lẻ có đôi điều khác biệt. 

Vào  thời kỳ  trước  khi  người  Pháp  xâm chiếm,  đời sống  nông  nghiệp,  chính  sách bế quan tỏa cảng,  và sự  ảnh hưởng của  Khổng giáo, cũng  như  chế độ đại  gia đình  gia  trưởng khiến thương mại không phát triển. Do vậy các hình  thức kinh doanh có lẽ không được chú ý. Có chăng  trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là  thành phần lấn át. Khi xây dựng nền kinh tế kế hoặch hóa tập  trung, quan  liêu bao cấp, với chế độ công hữu hóa tư  liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mới nhen nhóm đã vụt tắt. Còn lại chăng chỉ  là những người chạy chợ  lo  toan bát cơm,  manh  áo  hàng  ngày,  và một số hộ  kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu  dùng  hoặc  những  thành  phần  đang  trong quá  trình cải tạo xã hội  chủ  nghĩa. Khi đường
lối đổi mới được  thực  thi, bằng sự nỗ lực  chủ quan của Nhà nước, tầng lớp  thương nhân dần dà được hồi  sinh mà  trong đó  trước  tiên  là các cá nhân kinh doanh hay  thương nhân  thể nhân. Vì vậy  các  thương  nhân ở Việt Nam  hiện nay (kể cả  thương  nhân  thể  nhân  và  thương  nhân pháp  nhân) mang  đậm dấu  tích của sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, khác phần nào đó với các  thương  nhân được  hình  thành một  cách tự nhiên, bình  thường ở các nước có  truyền  thống kinh tế thị trường mà chỉ bị nhà nước kiểm soát. Vì vậy việc nghiên cứu sự nỗ lực chủ quan này giúp  hiểu  biết  rõ hơn về  thương  nhân  ở  Việt Nam. Nó  không  chỉ  có  ý  nghĩa  cho  hoạt động
thực tiễn, mà còn có ý nghĩa cho công cuộc cải cách pháp luật.
Sau  khi  giải  phóng Miền Nam,  thống  nhất đất nước,  việc cải tạo  công  thương  nghiệp  để xây dựng nền  kinh tế kế  hoặch  hóa tập  trung, quan  liêu  bao cấp  đã dẫn tới rất  nhiều vấn  đề nan giải của nền kinh tế. Nhân dân  túng  thiếu, đói kém. Đứng trước tình hình đó Đảng đã phân tích nguyên nhân và xây dựng đường lối, chính sách để khắc phục. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng  đưa  ra  giải  pháp:  “Khuyến  khích  phát triển  kinh tế  gia  đình. Sử dụng  khả năng  tích cực của  kinh tế  tiểu sản  xuất  hàng  hóa,  đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo  và sử dụng  tiểu  thương,  giúp  đỡ  những người không cần  thiết  trong lĩnh vực lưu  thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư  nhân  (tư sản  nhỏ)  trong một số ngành,  nghề,  đi  đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình  thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương  nghiệp tư bản tư  nhân. Mở rộng  nhiều hình  thức  liên kết  giữa  các  thành phần kinh tế theo  nguyên tắc  cùng  có lợi,  bình  đẳng  trước pháp luật” [1].

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC CÔNG TY VÔ HIỆU

HOÀNG ANH TUẤN – Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Con  người  có  những  quyền tự  nhiên  luôn cần được pháp  luật ghi nhận và bảo vệ – Đó  là quyền  được sống,  quyền tự  do  và  quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng  thời, pháp  luật cũng  thừa nhận các phương tiện để bảo đảm những quyền đó.  Công  ti  là một  trong  những  phương  tiện quan  trọng  như vậy để  duy  trì  cuộc sống của bản thân thành viên hoặc các thành viên của nó, và tạo lập  ra một  môi  trường  cho  đời sống chung của mọi  người  mà  không  người  nào trong xã hội không cần đến. Vì vậy, xét từ đời sống  chung của cộng  đồng,  người  ta  thường nói,  công  ti  là  những lợi  khí  vô  song  phải sử dụng nếu  muốn nắm  được  thế  thượng  phong trong  trường  kinh tế  [1].  Công  ty – cái  phương tiện  duy  trì  đời sống  đó  -  có  thể  được tạo lập dưới  nhiều  hình  thức  như  công  ty hợp  danh, công ti hợp vốn đơn giản, công ti cổ phần, công ti  trách nhiệm hữu hạn… Và về nguyên tắc các chủ sở hữu công ti có quyền tự do thay đổi hình thức của nó. Như vậy quyền tự do  chuyển đổi hình thức công ti cũng phải được pháp luật thừa nhận và kiểm soát.

Thực tế trong những năm gần đây, có lẽ do nhận thức được các rủi ro pháp lý trong quan hệ giữa các  thành viên công  ty hoặc do nhận  thức được  ưu  điểm của  các  quy  định về  thành lập công ti liên doanh của Luật Đầu tư, các nhà đầu tư thường giao kết hợp đồng để chuyển đổi hình thức công ty. Hợp đồng về nguyên tắc chung có
những điều kiện có hiệu lực. Và khi một  trong các  điều  kiện  đó bị  vi  phạm, hợp  đồng  có  thể hoặc bị vô hiệu. Việc vô hiệu hóa các hợp đồng  và xử lý các vấn đề liên quan không phải là câu chuyện xa lạ đối với các luật gia Việt Nam hiện nay.  Tuy  nhiên vấn  đề hợp  đồng  chuyển  đổi hình  thức công  ty vô hiệu không phải  là không
có nhiều chuyện đáng bàn.

1. Nhận  diện về hợp  đồng  chuyển  đổi  hình thức công ty vô hiệu

Thực tiễn cho thấy, việc xác định hợp đồng chuyển đổi hình  thức  công  ty  là khá phức tạp, bởi lẽ việc chuyển đổi hình thức công ty thường được  thực  hiện  theo  nhiều  phương  thức  khác nhau. Do đó việc xem xét hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty phụ thuộc rất  nhiều  (nếu  không  phải  là tất cả)  vào việc  xác  định  hay  phân  loại  phương  thức chuyển  đổi  này.  Có  hai  loại  phương  thức chuyển đổi hình  thức  công  ty hay hai  loại hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty căn bản  là: (1) Hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty có sự  chuyển  nhượng  quyền lợi  hoặc tăng  người đầu tư;  và  (2) hợp  đồng  chuyển  đổi  hình  thức công  ty không có sự chuyển nhượng quyền lợi hoặc tăng người đầu tư.

Loại  thứ  nhất  bao gồm:  Chuyển  đổi  hình thức  công  ti từ  công  ty TNHH một  thành  viên thành  công  ty  TNHH  hai  thành  viên  trở  lên; chuyển đổi công ty cổ phần hay công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên; chuyển đổi công ty TNHH ít hơn ba thành  viên  thành  công  ty cổ  phần;  và  chuyển đổi công  ty đối vốn  thành công  ty đối nhân, và ngược lại  mà  có sự  thay  đổi số lượng  thành
viên.  Đối với  loại  này, hợp  đồng  chuyển  đổi hình thức công ty gồm hai phần: Thứ nhất là sự thỏa  thuận  chuyển  đổi  hình  thức  công  ty của các chủ sở hữu của công  ty hoặc hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu công  ty  (nếu  là công ty một thành viên); và thứ hai là hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi.

Continue reading

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Still life of a lawyers tools (1538R-59610 / con0012 © IMAGEZOO)BÙI DƯƠNG PHÚ – Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre

1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trong bối cảnh hiện nay, địa phương phải đương đầu với nhiều vấn đề nan giải như: tệ nạn xã hội luôn diễn biến phức tạp, tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông gia tăng, nông dân sản xuất lương thực nhưng không có thị trường tiêu thụ, các hoá chất độc hại trong thực phẩm, nguồn nước, không khí bị ô nhiễm; thiên tai, dịch họa thường xuyên xảy ra… dẫn đến môi trường sống của một bộ phận dân cư nông thôn bị đe doạ; vấn đề giáo dục, y tế đối với vùng sâu vùng xa chưa được đảm bảo. Để giải quyết triệt để các vấn đề nêu trên, chỉ dựa vào trung ương thì sẽ không sao giải quyết được mà phải có sự chung tay của địa phương. Trên cơ sở đặc thù của từng vùng, từng địa phương mà phải có cách giải quyết khác nhau, từ đó xuất phát nhu cầu rất lớn về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương để giải quyết các vấn đề trên.

Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa có quy định nào điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi năm 2002 và năm 2008) chỉ quy định chung chung về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Do đó tại địa phương, mỗi nơi mỗi kiểu tự mày mò, xây dựng trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho riêng mình và việc làm đó đã trở thành một lối mòn ở hầu hết các địa phương. Để khắc phục tình trạng đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005. Đây là đạo luật quan trọng trong việc quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.

Sau khi Luật có hiệu lực thi hành, hành năm có hàng ngàn văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nhất là cấp tỉnh đã được xây dựng và ban hành. Ví dụ như: trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong bốn năm (2005, 2006, 2007, 2008) ở cấp tỉnh đã ban hành khoảng 340 văn bản quy phạm pháp luật, riêng từ ngày 01 tháng 10 năm 2009 đến ngày 31 tháng 9 năm 2010 đã ban hành 46 văn bản quy phạm pháp luật (09 nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và 37 quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh).

Continue reading

THƠ XUÂN

MÃN GIÁC THIỀN SƯ (1052 – 1096) – bản dịch của Hòa thượng Thích Thanh Kiểm

image  Xuân khứ bách hoa lạc – Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá – Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Dịch:

Xuân đi mang cả một mùa hoa
Xuân đến hoa lòng nở với ta
Muôn sự thăng trầm qua nước mắt
Một dòng tuổi mộng lại đi qua.
Đâu phải xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai.

TẢN MẠN CHUYỆN … MÈO NĂM MÃO

ChineseBrushCat VĂN NHƯ CƯƠNG

Cuối cùng thì bác Hổ-Canh-Dần hung hăng cũng phải rút lui để nhường chỗ cho cô Mèo – Tân Mão mỹ miều bước tới, mặc dù có ý kiến cho rằng vì cô Mèo còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, nên đề nghị để bác Hổ làm thêm nửa nhiệm kì và cô Mèo làm… Phó.

Cái nguyên tắc “mỗi nhiệm kì chỉ đúng có một năm” này được thực hiện rất nghiêm ngặt, từ xưa tới nay không hề có ngoại lệ, và chắc là từ nay về sau cũng thế… Bởi vậy, mặc dầu chưa đến tuổi hưu và tiếng gầm còn to khỏe, nhưng bác Hổ không thể làm thêm một nhiệm kì như mong muốn. Đành phải chờ đúng 60 năm nữa, tức là đúng vào tháng giêng năm 2072, cố nhiên với điều kiện là tới lúc ấy cụ Hổ còn sống. Nhưng đã nói không được là không được, luật định như thế rồi. 
Cô Mèo và bác Hổ vốn không lạ gì nhau. Ông tổ của cô Mèo từng là thầy dạy võ cho ông tổ của bác Hổ. Là kẻ khôn ngoan và mưu lược, vị Mèo-Võ-Sư ấy đã không dạy hết bài, hết vở cho thằng Hổ-Đệ-Tử kia, vì nhìn qua cũng biết nó là kẻ phản trắc, không đáng tin. Phải đề phòng bất trắc chứ, con người còn lắm âm mưu nham hiểm nữa là con… hổ. Vì thế các anh chàng hổ hậu duệ ngày nay vẫn chịu chết không nắm được võ thuật leo cây, trèo tường là hai miếng võ độc của Mèo-Võ-Sư… Vì thế, bây giờ mỗi khi hổ hiếu chiến định gây sự, mèo chỉ việc leo tót lên ngọn cây là xong chuyện. 
Loài mèo là khắc tinh của giống chuột. Chẳng hiểu sao mèo (Mão) lại chịu đứng thứ tư trong danh sách 12 con giáp, mà anh chuột (Tí) thì lại được xếp thứ nhất. Tuy đứng số 1 nhưng nhác thấy số 4 là hồn vía chuột lên mây. 
Mèo vốn sinh ra là để bắt chuột, giúp cho Người khỏi bị loài gặm nhấm làm hại, nên loài người rất quý, rất yêu… Mấy thập niên gần đây mèo được hâm mộ và nổi tiếng hơn vì có một chính trị gia tầm cỡ đã tổng kết và phát biểu một triết lí rất hay, liên quan đến cách đánh giá loài mèo. Đó là: “Bất kể mèo trắng hay mèo đen, bắt được chuột chính là mèo tốt”… Thật là một triết lí sâu sắc về trò mèo chuột, và nghe nói chính cái triết lí “mèo chuột” đó (cũng còn được gọi là triết lí “hai con mèo”) đã làm cho đất nước của chính trị gia ấy trở nên hùng mạnh vào loại nhì ba thế giới.

Continue reading