ĐÁNH ĐU VỚI PHÁP LUẬT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC -  Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Sống và làm việc theo pháp luật đã trở thành một đòi hỏi tất yếu, không bàn cãi. Tuy nhiên, mỗi năm lại nảy sinh nhiều điều khó khăn, vướng mắc từ luật pháp. Do sự bất cập từ con người, cơ chế chính sách, cho đến chính pháp luật.

“Hủ tục” hành chính

Thủ tục hành chính từ lâu đã trở thành những rào cản ghê gớm thách thức sự phát triển. Câu chuyện bức xúc dài kỳ ấy cuối cùng cũng đã được “cắt tỉa” bằng mấy chục Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành chính trong tháng 12-2010. Tuy nhiên, cũng chỉ là hy vọng trong tương lai thôi, vì nó mới chỉ là chỉ đạo định hướng, chứ chưa phải là văn bản pháp quy để có thể áp dụng được ngay. Muốn thành hiện thực, thì còn phải chờ đợi sửa đổi dễ tới cả ngàn văn bản luật, nghị định và thông tư liên quan.
Nếu quyết tâm thì hoàn toàn có thể bỏ được 30% số thủ tục hành chính, nhưng điều đó chưa đáng gì so với những thủ tục “hành là chính”. Một thủ tục hành chính dù hợp lý, cần thiết đến đâu, một khi đã bị biến dạng thành “hủ tục” thì cũng đều trở thành tai hoạ. Thủ tục cấp giấy chứng nhận về bất động sản là vô cùng cần thiết và quy định cũng không quá rắc rối, phức tạp. Thế nhưng đến ông Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường còn phải nghiến răng chịu mất “oan” hơn chục triệu đồng để lấy được “sổ đỏ”. Như vậy, vị tổng tư lệnh về “điền thổ” đã công khai “làm gương” cho thiên hạ kéo “cờ trắng” đầu hàng “hủ tục”. Vì vậy, để đạt được hiệu quả thật sự, thì còn phải chờ “sửa” được cả cung cách và tư cách của nhiều vạn người đang là công bộc phục vụ nhân dân. Điều này khó hơn gấp cả trăm, ngàn lần việc cải cách thủ tục hành chính.
Vì có quá nhiều việc, nên vẫn có những việc thiết thực nhưng chưa bao giờ được đưa vào tầm ngắm cải cách thủ tục hành chính. Đó là những việc tưởng chừng vô cùng nhỏ nhặt, nhưng nếu chỉ quan tâm một chút thôi, thì cũng có thể tiết kiệm được cả núi tiền của. Đơn cử như các mẫu biểu về đăng ký kinh doanh lâu nay, tuy được làm mới mấy lần nhưng có thể nói là trình độ đánh máy, trình bày văn bản vẫn dừng lại ở mức i tờ, kiểu như đánh hàng trăm dấu chấm quá đỗi thủ công để kẻ dòng, thay vì chỉ cần nhấn một phím “táp”. Chỉ cần một người có trình độ tin học cơ bản, chịu khó chỉnh sửa trong một vài ngày, thì đỡ khổ cho hàng triệu lượt người phải bực mình, tốn kém không biết bao nhiêu thời gian, công sức để sửa mẫu mà vẫn thiếu chuẩn mực.

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ VÀ MỐI QUAN HỆ HIỆU LỰC GIỮA HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN VỚI HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

Không thể phủ nhận rằng, thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm có rất nhiều ưu thế so với các biện pháp bảo đảm khác, xét từ góc độ tính tiện dụng cho các bên liên quan (bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm). Vì lẽ đó, các tổ chức tín dụng và khách hàng vay trong quan hệ vay vốn thường ưu tiên lựa chọn biện pháp bảo đảm này. Tuy nhiên, để xử lý tốt mối quan hệ lợi ích giữa các bên trong hợp đồng thế chấp tài sản, điều rất quan trọng là phải nhận diện đúng đặc trưng pháp lý của mỗi loại hợp đồng này và mối quan hệ về hiệu lực giữa chúng với nhau. Bài viết này có mục tiêu giải quyết vấn đề đó, góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc ứng dụng và thực thi pháp luật về thế chấp tài sản trong quan hệ vay vốn tại tổ chức tín dụng.

1. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay có bảo đảm của tổ chức tín dụng

Đặc điểm pháp lý của hợp đồng thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt Nam, giao dịch bảo đảm được định nghĩa là hợp đồng mà theo đó một bên (gọi là bên bảo đảm) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụ thể đối với bên có quyền, nếu đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó không được người có nghĩa vụ thực hiện[1]. Giao dịch bảo đảm có nhiều loại khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là giao dịch bảo lãnh, giao dịch cầm cố và giao dịch thế chấp. Đây cũng là những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được áp dụng phổ biến nhất trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Với tư cách là một giao dịch bảo đảm, giao dịch thế chấp (hay hợp đồng thế chấp) là thỏa thuận giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp, theo đó bên thế chấp cam kết sẽ đem các tài sản của mình để bảo đảm thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ của chính mình hoặc của người thứ ba (bên có nghĩa vụ) đối với bên nhận thế chấp mà không cần phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp[2].

Xét về phương diện học thuật, ngoài những đặc điểm mang tính bản chất của hợp đồng thế chấp nói chung, hợp đồng thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những đặc trưng pháp lý sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay luôn có một bên là tổ chức tín dụng – với tư cách là bên nhận thế chấp (bên có quyền đòi nợ theo hợp đồng tín dụng). Ngoài ra, chủ thể thứ hai là bên thế chấp và chủ thể này có thể chính là bên vay hoặc người thứ ba có tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng.

Do chủ thể nhận thế chấp là tổ chức tín dụng nên việc phòng tránh rủi ro tín dụng cho chủ thể này là vấn đề hết sức quan trọng, được pháp luật quan tâm đặc biệt vì mục tiêu giữ vững an toàn của hệ thống ngân hàng và đảm bảo lợi ích quốc gia.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 165/BXD-QLN NGÀY 30 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA BỘ XÂY DỰNG ĐỀ NGHỊ HƯỚNG DẪN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRONG CỤM TUYẾN DÂN CƯ

Kính gửi:

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Theo quy định của Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua trả chậm nền nhà và nhà ở trong các cụm, tuyến dân cư ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thì các hộ thuộc diện đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua trả chậm nền nhà và nhà ở trong cụm, tuyến dân cư. Thời hạn vay là 10 năm, trong đó có 5 năm ân hạn. Quyết định trên cũng quy định: các hộ mua nền nhà và nhà ở nói trên, trong 10 năm kể từ khi mua không được sang bán, cầm cố, chuyển nhượng.

Đến nay, nhiều hộ dân mua nền nhà và nhà ở trong cụm, tuyến dân cư đã gần 10 năm và trên thực tế, một số hộ dân đã trả hết nợ vay và có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở. Các địa phương cũng mong muốn thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho những hộ dân đã trả xong nợ vay để mua đất ở trước thời hạn quy định, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương thu hồi nợ vay của các hộ khác.

Để đáp ứng yêu cầu nói trên, Bộ Xây dựng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các hộ dân thuộc diện đối tượng vào ở trong các cụm, tuyến dân cư đã trả hết nợ vay để mua nền nhà ở và đã trả hết nợ vay để làm nhà ở trước thời hạn quy định 10 năm, kể từ ngày mua; đồng thời để đảm bảo yêu cầu quản lý theo quy định tại Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đề xuất việc viết Giấy chứng nhận đối với phần "Ghi chú" (quy định tại khoản 1 Điều 8 của Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) như sau:

"Trong thời gian từ ngày…/…/… (ghi ngày, tháng, năm hộ dân ký khế ước vay vốn mua nền nhà ở) đến ngày…/…/… (ghi ngày, tháng, năm hộ dân vay vốn mua nền nhà ở đủ 10 năm) chỉ được quyền chuyển nhượng cho chính quyền địa phương, cho… (ghi chủ đầu tư dự án xây dựng xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở), cho đối tượng thuộc Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long".

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 12/2011/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ TỔ CHỨC VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI THANH NIÊN XUNG PHONG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thanh niên ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam và Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về tổ chức và chính sách đối với thanh niên xung phong tham gia phát triển kinh tế – xã hội và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với thanh niên xung phong.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức thanh niên xung phong, đội viên thanh niên xung phong và cán bộ quản lý thanh niên xung phong.

Điều 3. Chức năng của thanh niên xung phong

Thanh niên xung phong là lực lượng xung kích của thanh niên tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm, giáo dục, rèn luyện và đào tạo thanh niên.

Điều 4. Nhiệm vụ của thanh niên xung phong

1. Tham gia thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội được giao ở biên giới, hải đảo, những nơi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn (sau đây gọi chung là vùng khó khăn).

2. Tham gia thực hiện việc khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, trật tự an toàn giao thông, bảo đảm an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách khác.

3. Tham gia thực hiện cai nghiện ma túy, giáo dục lao động, giải quyết việc làm cho thanh niên sau cai nghiện ma túy và các đối tượng thanh thiếu niên mắc tệ nạn xã hội khác.

4. Tham gia sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ nông dân sản xuất và đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho thanh niên.

5. Giáo dục, rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho đội viên, cán bộ quản lý thanh niên xung phong.

Continue reading