PHÂN TÍCH PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH ĐỂ TÌM RA CÁC BẤT CẬP

image TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Sự ra đời của pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam

Những  người  tham  gia  thương  trường  đầu tiên  có lẽ  là  những  cá  nhân  mong  muốn  tìm kiếm lợi  nhuận  thông  qua  việc  mua  bán,  trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ. Giống như các chủ thể  khác của  luật  dân sự,  những  cá  nhân  này phải  chịu  trách   nhiệm đến cùng, hay nói cách khác, bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các
khoản nợ, có nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với những hành vi thương mại của mình.  Đây  là một  tính  chất  điển  hình của thương nhân mà, có lẽ sau này, người ta, vì thế, đã  tìm kiếm  các giải pháp khắc phục bằng các loại hình công ti thông qua chế độ trách nhiệm. Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương  nhân  đơn lẻ  hay  doanh  nghiệp  cá  thể  (sole trader  hay  sole  proprietorship). Về mặt học thuật người ta thường gọi đó là thương nhân thể nhân  để  phân  biệt với  các  công  ti mà  thường được gọi  là  thương  nhân  pháp  nhân. Nhưng  ở Việt  Nam  con  đường  hình  thành  các  thương nhân đơn lẻ có đôi điều khác biệt. 

Vào  thời kỳ  trước  khi  người  Pháp  xâm chiếm,  đời sống  nông  nghiệp,  chính  sách bế quan tỏa cảng,  và sự  ảnh hưởng của  Khổng giáo, cũng  như  chế độ đại  gia đình  gia  trưởng khiến thương mại không phát triển. Do vậy các hình  thức kinh doanh có lẽ không được chú ý. Có chăng  trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là  thành phần lấn át. Khi xây dựng nền kinh tế kế hoặch hóa tập  trung, quan  liêu bao cấp, với chế độ công hữu hóa tư  liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mới nhen nhóm đã vụt tắt. Còn lại chăng chỉ  là những người chạy chợ  lo  toan bát cơm,  manh  áo  hàng  ngày,  và một số hộ  kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu  dùng  hoặc  những  thành  phần  đang  trong quá  trình cải tạo xã hội  chủ  nghĩa. Khi đường
lối đổi mới được  thực  thi, bằng sự nỗ lực  chủ quan của Nhà nước, tầng lớp  thương nhân dần dà được hồi  sinh mà  trong đó  trước  tiên  là các cá nhân kinh doanh hay  thương nhân  thể nhân. Vì vậy  các  thương  nhân ở Việt Nam  hiện nay (kể cả  thương  nhân  thể  nhân  và  thương  nhân pháp  nhân) mang  đậm dấu  tích của sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, khác phần nào đó với các  thương  nhân được  hình  thành một  cách tự nhiên, bình  thường ở các nước có  truyền  thống kinh tế thị trường mà chỉ bị nhà nước kiểm soát. Vì vậy việc nghiên cứu sự nỗ lực chủ quan này giúp  hiểu  biết  rõ hơn về  thương  nhân  ở  Việt Nam. Nó  không  chỉ  có  ý  nghĩa  cho  hoạt động
thực tiễn, mà còn có ý nghĩa cho công cuộc cải cách pháp luật.
Sau  khi  giải  phóng Miền Nam,  thống  nhất đất nước,  việc cải tạo  công  thương  nghiệp  để xây dựng nền  kinh tế kế  hoặch  hóa tập  trung, quan  liêu  bao cấp  đã dẫn tới rất  nhiều vấn  đề nan giải của nền kinh tế. Nhân dân  túng  thiếu, đói kém. Đứng trước tình hình đó Đảng đã phân tích nguyên nhân và xây dựng đường lối, chính sách để khắc phục. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng  đưa  ra  giải  pháp:  “Khuyến  khích  phát triển  kinh tế  gia  đình. Sử dụng  khả năng  tích cực của  kinh tế  tiểu sản  xuất  hàng  hóa,  đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo  và sử dụng  tiểu  thương,  giúp  đỡ  những người không cần  thiết  trong lĩnh vực lưu  thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư  nhân  (tư sản  nhỏ)  trong một số ngành,  nghề,  đi  đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình  thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương  nghiệp tư bản tư  nhân. Mở rộng  nhiều hình  thức  liên kết  giữa  các  thành phần kinh tế theo  nguyên tắc  cùng  có lợi,  bình  đẳng  trước pháp luật” [1].

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC CÔNG TY VÔ HIỆU

HOÀNG ANH TUẤN – Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Con  người  có  những  quyền tự  nhiên  luôn cần được pháp  luật ghi nhận và bảo vệ – Đó  là quyền  được sống,  quyền tự  do  và  quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng  thời, pháp  luật cũng  thừa nhận các phương tiện để bảo đảm những quyền đó.  Công  ti  là một  trong  những  phương  tiện quan  trọng  như vậy để  duy  trì  cuộc sống của bản thân thành viên hoặc các thành viên của nó, và tạo lập  ra một  môi  trường  cho  đời sống chung của mọi  người  mà  không  người  nào trong xã hội không cần đến. Vì vậy, xét từ đời sống  chung của cộng  đồng,  người  ta  thường nói,  công  ti  là  những lợi  khí  vô  song  phải sử dụng nếu  muốn nắm  được  thế  thượng  phong trong  trường  kinh tế  [1].  Công  ty – cái  phương tiện  duy  trì  đời sống  đó  -  có  thể  được tạo lập dưới  nhiều  hình  thức  như  công  ty hợp  danh, công ti hợp vốn đơn giản, công ti cổ phần, công ti  trách nhiệm hữu hạn… Và về nguyên tắc các chủ sở hữu công ti có quyền tự do thay đổi hình thức của nó. Như vậy quyền tự do  chuyển đổi hình thức công ti cũng phải được pháp luật thừa nhận và kiểm soát.

Thực tế trong những năm gần đây, có lẽ do nhận thức được các rủi ro pháp lý trong quan hệ giữa các  thành viên công  ty hoặc do nhận  thức được  ưu  điểm của  các  quy  định về  thành lập công ti liên doanh của Luật Đầu tư, các nhà đầu tư thường giao kết hợp đồng để chuyển đổi hình thức công ty. Hợp đồng về nguyên tắc chung có
những điều kiện có hiệu lực. Và khi một  trong các  điều  kiện  đó bị  vi  phạm, hợp  đồng  có  thể hoặc bị vô hiệu. Việc vô hiệu hóa các hợp đồng  và xử lý các vấn đề liên quan không phải là câu chuyện xa lạ đối với các luật gia Việt Nam hiện nay.  Tuy  nhiên vấn  đề hợp  đồng  chuyển  đổi hình  thức công  ty vô hiệu không phải  là không
có nhiều chuyện đáng bàn.

1. Nhận  diện về hợp  đồng  chuyển  đổi  hình thức công ty vô hiệu

Thực tiễn cho thấy, việc xác định hợp đồng chuyển đổi hình  thức  công  ty  là khá phức tạp, bởi lẽ việc chuyển đổi hình thức công ty thường được  thực  hiện  theo  nhiều  phương  thức  khác nhau. Do đó việc xem xét hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty phụ thuộc rất  nhiều  (nếu  không  phải  là tất cả)  vào việc  xác  định  hay  phân  loại  phương  thức chuyển  đổi  này.  Có  hai  loại  phương  thức chuyển đổi hình  thức  công  ty hay hai  loại hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty căn bản  là: (1) Hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty có sự  chuyển  nhượng  quyền lợi  hoặc tăng  người đầu tư;  và  (2) hợp  đồng  chuyển  đổi  hình  thức công  ty không có sự chuyển nhượng quyền lợi hoặc tăng người đầu tư.

Loại  thứ  nhất  bao gồm:  Chuyển  đổi  hình thức  công  ti từ  công  ty TNHH một  thành  viên thành  công  ty  TNHH  hai  thành  viên  trở  lên; chuyển đổi công ty cổ phần hay công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên; chuyển đổi công ty TNHH ít hơn ba thành  viên  thành  công  ty cổ  phần;  và  chuyển đổi công  ty đối vốn  thành công  ty đối nhân, và ngược lại  mà  có sự  thay  đổi số lượng  thành
viên.  Đối với  loại  này, hợp  đồng  chuyển  đổi hình thức công ty gồm hai phần: Thứ nhất là sự thỏa  thuận  chuyển  đổi  hình  thức  công  ty của các chủ sở hữu của công  ty hoặc hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu công  ty  (nếu  là công ty một thành viên); và thứ hai là hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi.

Continue reading

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Still life of a lawyers tools (1538R-59610 / con0012 © IMAGEZOO)BÙI DƯƠNG PHÚ – Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre

1. Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trong bối cảnh hiện nay, địa phương phải đương đầu với nhiều vấn đề nan giải như: tệ nạn xã hội luôn diễn biến phức tạp, tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông gia tăng, nông dân sản xuất lương thực nhưng không có thị trường tiêu thụ, các hoá chất độc hại trong thực phẩm, nguồn nước, không khí bị ô nhiễm; thiên tai, dịch họa thường xuyên xảy ra… dẫn đến môi trường sống của một bộ phận dân cư nông thôn bị đe doạ; vấn đề giáo dục, y tế đối với vùng sâu vùng xa chưa được đảm bảo. Để giải quyết triệt để các vấn đề nêu trên, chỉ dựa vào trung ương thì sẽ không sao giải quyết được mà phải có sự chung tay của địa phương. Trên cơ sở đặc thù của từng vùng, từng địa phương mà phải có cách giải quyết khác nhau, từ đó xuất phát nhu cầu rất lớn về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương để giải quyết các vấn đề trên.

Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa có quy định nào điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi năm 2002 và năm 2008) chỉ quy định chung chung về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Do đó tại địa phương, mỗi nơi mỗi kiểu tự mày mò, xây dựng trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho riêng mình và việc làm đó đã trở thành một lối mòn ở hầu hết các địa phương. Để khắc phục tình trạng đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005. Đây là đạo luật quan trọng trong việc quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.

Sau khi Luật có hiệu lực thi hành, hành năm có hàng ngàn văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nhất là cấp tỉnh đã được xây dựng và ban hành. Ví dụ như: trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong bốn năm (2005, 2006, 2007, 2008) ở cấp tỉnh đã ban hành khoảng 340 văn bản quy phạm pháp luật, riêng từ ngày 01 tháng 10 năm 2009 đến ngày 31 tháng 9 năm 2010 đã ban hành 46 văn bản quy phạm pháp luật (09 nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và 37 quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh).

Continue reading