KINH NGHIỆM QUẢN LÝ DỊCH VỤ ĐÒI NỢ TẠI HÀN QUỐC

image N.A

Trước năm 1995, tại Hàn Quốc dịch vụ đòi nợ vẫn chưa có sự điều chỉnh bởi pháp luật. Do đó, giai đoạn này dịch vụ đòi nợ hợp pháp hoạt động rất yếu, trong khi đó dịch vụ đòi nợ bất hợp pháp lại rất phát triển dưới hình thức đòi nợ thuê do các băng nhóm xã hội đen thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời đáp ứng nhu cầu về dịch vụ đòi nợ của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, năm 1995 Hàn Quốc đã ban hành Luật về thông tin tín dụng, trong đó có quy định về dịch vụ đòi nợ.

Sự ra đời của Bộ Luật này và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ đòi nợ hợp pháp tại Hàn Quốc. Đáng chú ý là, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nhu cầu về dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc tăng đột biến, làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ hợp pháp đã phát triển nhanh chóng tại Hàn Quốc. Theo thống kê, đến năm 2005, tại Hàn Quốc đã có 22 công ty dịch vụ đòi nợ hoạt động trong phạm vi toàn quốc, các công ty này đã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là tình trạng công nợ xấu phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu về kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc để bạn đọc tham khảo.

Tại Hàn Quốc, hoạt động dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc đại diện cho chủ nợ để đòi nợ thông qua các hoạt động thúc giục khách nợ trả nợ như: Gọi điện thoại, gửi thư hoặc gặp trực tiếp khách hàng để yêu cầu trả nợ. Hoạt động dịch vụ đòi nợ còn bao gồm cả việc điều tra tình hình tài sản và tài chính của khách nợ trên cơ sở khai thác những thông tin cá nhân của khách nợ tại các trung tâm lưu giữ thông tin của Nhà nước, như thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng hôn nhân của khách nợ, thông tin về thu nhập và tình trạng nộp thuế của khách nợ, thông tin về tình hình đăng ký tài sản (như nhà, đất, phương tiện vận tải, chứng khoán,…) thuộc sở hữu của khách nợ (tức là không nhất thiết chỉ thuộc phạm vi tài sản thế chấp). Ngoài ra, hoạt động dịch vụ đòi nợ không bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật liên quan đến việc đòi nợ.

Pháp luật Hàn Quốc quy định, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện bởi hoạt động dịch vụ đòi nợ là các khoản nợ giữa các tổ chức kinh tế với các tổ chức kinh tế, giữa tổ chức kinh tế với cá nhân mà trong quan hệ đó tổ chức kinh tế là chủ nợ. Các khoản nợ này bao gồm cả nợ trong nước và nợ có yếu tố nước ngoài. Các khoản nợ về thuế và các khoản nợ mà cá nhân là chủ nợ chưa được phép thực hiện bởi dịch vụ đòi nợ.

Tuy nhiên, pháp luật Hàn Quốc cũng quy định, cá nhân không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Chỉ các công ty dịch vụ đòi nợ được cấp giấy phép hoạt động mới được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các công ty dịch vụ đòi nợ không được phép đồng thời kinh doanh các ngành nghề khác ngoài hoạt động dịch vụ đòi nợ, đặc biệt là không được phép kinh doanh ngành nghề mua bán nợ. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 10/2011/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 141/2006/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 2006 VỀ BAN HÀNH DANH MỤC MỨC VỐN PHÁP ĐỊNH CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng như sau:

1. Khoản 1 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định quy định tại Danh mục ban hành kèm theo, chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2011”.

2. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1. Trong thời gian các tổ chức tín dụng chưa đảm bảo mức vốn pháp định theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không xem xét việc mở rộng mạng lưới hoạt động (chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp, các loại hình hiện diện khác theo quy định của pháp luật) và việc mở rộng nội dung hoạt động của tổ chức tín dụng.

2. Sau ngày 31 tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định xử lý theo quy định của pháp luật đối với tổ chức tín dụng không đảm bảo vốn pháp định quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này.”

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 11/2011/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 1 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 159/2006/NĐ-CP NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 2006 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN TRỰC TIẾP THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC TỪ NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 TRỞ VỀ TRƯỚC CÓ 20 NĂM TRỞ LÊN PHỤC VỤ QUÂN ĐỘI ĐÃ PHỤC VIÊN, XUẤT NGŨ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau:

Điều 2.

1. Đối tượng được thực hiện chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 1 Nghị định này là quân nhân nhập ngũ từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội, hiện không thuộc diện đang được hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;

b) Thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên đang điều trị tại các trung tâm điều dưỡng thương binh hoặc từ trung tâm điều dưỡng thương binh đã về gia đình trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;

c) Quân nhân chuyển ngành hoặc chuyển sang công nhân viên chức quốc phòng rồi thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; đã có quyết định chuyển ngành trước ngày 01 tháng 4 năm 2000 nhưng không thực hiện được hoặc quân nhân đã về địa phương mà chưa giải quyết chế độ phục viên, xuất ngũ;

Continue reading

CHIẾC BÌNH SỨ VỠ VÀ KINH TẾ VỈA HÈ

PGS.TS. NGUYỄN MINH HÒA – THS. MINH QUANG – THS. HẢI NGUYÊN (Khoa Đô thị học và Quản lý đô thị, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, TP. HCM)

Cách đây vài ngày, tôi và hai vị giáo sư người Ý đi từ sở Khoa học và công nghệ trên đường Điên Biên Phủ băng qua Trương Định. Hai vị rất thích thú nhìn ngắm những chiếc bình, lọ, tượng sứ, gốm bán trên vỉa hè và định mua một vài món thì bất ngờ hai chiếc xe chở đầy cảnh sát khu vực và quản lý thị trường chừng hơn chục người đỗ xịch lại và một quang cảnh hỗn độn diễn ra.

Các anh bê tất cả đồ sứ chất lên xe, cho dù rất thận trọng nhưng có vài món bị vỡ, trong khi đó, hai vợ chồng người bán hết lời năn nỉ, cô vợ trẻ khóc ròng. Hai vị giáo sư hỏi tôi chuyện này là như thế nào và kinh ngạc khi tôi bảo họ bán hàng lấn chiếm vỉa hè vi phạm quy định hành chính. Họ ngạc nhiên là phải, bởi vì ở xứ họ việc bán hàng lưu niệm như thế này là bình thường và được khuyến khích. Vả lại những người bán hàng đã để hàng hoá sát vào chân tường rào. Hơn thế nữa con đường này không có người đi bộ qua lại.

Vào những ngày gần tết, số lượng người bán hàng rong di động và cố định một chỗ khá nhiều, vì tết là một dịp để họ bán được hàng bù vào những ngày thường ế ẩm. Nhưng thật không hay chút nào khi mà ngày nào cũng có những cuộc rượt đuổi, đổ vỡ, nước mắt và có cả những câu khó nghe đã diễn ra.

Ở đây có ba câu hỏi chúng ta phải đặt ra và nhận thức lại cho thoả đáng.

1. Thứ nhất, việc bán hàng rong như vậy có mang lại lợi ích gì cho cộng đồng, xã hội không, và ở các thành phố khác trên thế giới có không? Câu trả lời là có nếu nó không làm bẩn môi trường, mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng xấu đến giao thông, ồn ào mất trật tự. Thực sự thì người mua những loại hàng hoá này khá nhiều bởi nó rẻ (do hàng bị lỗi, lạc mốt, sản xuất gia đình, không phải trả tiền mặt bằng và thuế,…). Có người mua chứng tỏ là xã hội có nhu cầu.

Continue reading

CẢI CÁCH TÒA ÁN–TRỌNG TÂM CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Computer Court RulingBÙI DƯƠNG PHÚ – Sở Tư pháp Bến Tre

Trong tình hình hiện nay, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, việc cải cách hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết. Để tạo chuyển biến căn bản trong cải cách tư pháp, đã đến lúc cần nghiên cứu tìm giải pháp đột phá về vấn đề này, đó là tiến hành cải cách ở khâu then chốt nhất, cải cách tổ chức Toà án.

Sau khi Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được thông qua, Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như: Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Lý lịch tư pháp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Nhìn chung, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, UBTVQH thông qua khá nhiều.

Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, như còn để xảy ra tình trạng oan sai trong điều tra, truy tố, xét xử, khiếu nại, tố cáo. Số lượng án chờ xét xử để quá hạn luật định còn lớn. Kết quả thi hành án hình sự, thi hành án phạt tù còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguyên nhân có nhiều, nhưng điều có thể dễ nhận thấy là việc thể chế những chủ trương, quyết sách theo Nghị quyết 49-NQ/TW còn chậm, chưa đạt được được yêu cầu, mục tiêu cải cách đề ra.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI: HẦU HẾT SAI SÓT ĐỀU LIÊN QUAN ĐẾN CHỨNG CỨ

THANH TÙNG

Theo thống kê năm 2010, trong 123 bản án của tòa án quận, huyện bị cấp phúc thẩm hủy có đến 63 án liên quan đến đất đai, tập trung nhiều ở các quận 6, 7, 8, 9, 12, Tân Phú, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh. Trong 53 án sơ thẩm do TAND TP giải quyết bị TAND Tối cao hủy theo trình tự giám đốc thẩm có tới 24 án liên quan đến đất đai. Trong số 13 vụ án do Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử hủy thì cũng có năm vụ liên quan đến đất đai.

Trong hội thảo tổng kết ngành TAND TP.HCM mới đây, Tòa Dân sự đã rút kinh nghiệm về những sai sót trong quá trình giải quyết án liên quan đến đất đai.

Thu thập chứng cứ chưa chặt

Theo thống kê năm 2010, trong 123 bản án của tòa án quận, huyện bị cấp phúc thẩm hủy có đến 63 án liên quan đến đất đai, tập trung nhiều ở các quận 6, 7, 8, 9, 12, Tân Phú, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh. Trong 53 án sơ thẩm do TAND TP giải quyết bị TAND Tối cao hủy theo trình tự giám đốc thẩm có tới 24 án liên quan đến đất đai. Trong số 13 vụ án do Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM xử hủy thì cũng có năm vụ liên quan đến đất đai.

Chánh Tòa Dân sự TAND TP.HCM Dương Bửu Chánh cho biết một thiếu sót khá phổ biến là cấp sơ thẩm không kiểm định lại các tài liệu chứng cứ do cùng một cơ quan cung cấp khi nó có sự sai lệch về con số, diện tích, số thửa. Hậu quả là khi có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm không thể khắc phục được bằng việc cho giám định lại, đo đạc lại nên đã hủy án…

Các lỗi tiếp theo là thẩm phán thường không yêu cầu UBND cung cấp bản sao hồ sơ quá trình xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu với yêu cầu phản bác, phản tố của đương sự. Thứ nữa là loại tranh chấp phải tính án phí theo giá ngạch nhưng thẩm phán thường quên định giá giá trị quyền sử dụng đất khi đương sự không yêu cầu. Ngoài ra, việc triệu tập thiếu người tham gia tố tụng cũng là lỗi phổ biến. Kế đến là việc thu thập chứng cứ từ các cơ quan, tổ chức thường rất khó, đương sự không thể tự thu thập được nhưng tòa cấp sơ thẩm ít giúp đỡ.

Continue reading