QUẢN TRỊ CÔNG VÀ QUẢN TRỊ TƯ

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Năng lực chịu trách nhiệm của một người quản trị công, dù là một bộ trưởng, làm sao có thể tương thích với các sai lầm và hậu quả của một chính sách mà người dân phải chịu.

Đề xuất thu phí đánh vào phương tiện giao thông của bộ Giao thông tiếp tục hâm nóng dư luận qua các phát biểu của bộ trưởng Đinh La Thăng với giới báo chí chiều 3.4 vừa qua. Đặc biệt khi một lần nữa, Bộ trưởng tỏ rõ sự thẳng thắn, chân thành cũng như bản lĩnh “tư lệnh” của mình bằng nói lời “xin lỗi những người đi ôtô” và khẳng định sẽ “chịu trách nhiệm cá nhân” về đề xuất chính sách này.

Với góc nhìn và tư duy pháp lý, tôi cảm nhận ngay một điều bất cập, đó là hình như bộ trưởng Thăng đã có sự lầm lẫn ở đây giữa hai lĩnh vực hành xử: quản trị công và quản trị tư?

Đành rằng, phải khách quan đánh giá cao phẩm chất cá nhân của bộ trưởng như xông xáo, quyết đoán và khả năng dám đột phá trong suy nghĩ và hành động, là điều rất nên có nếu xét trên phương diện một người chủ hay lãnh đạo doanh nghiệp. Bởi đó là lĩnh vực “quản trị tư”, nơi mà quyền lực sở hữu và thẩm quyền quản lý được phân định rất rành mạch, và đi liền với nó là các vấn đề về lợi ích, trách nhiệm cũng được xác định rõ ràng. Chẳng hạn, nếu là chủ một doanh nghiệp (hay một tổ chức tư nhân), quyền lực gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư hay cổ đông; còn nếu là nhà quản lý (ví dụ một tổng giám đốc), việc chịu trách nhiệm luôn luôn được làm rõ theo cơ chế hợp đồng với chủ doanh nghiệp, v.v. và v.v.

Tuy nhiên, đối với “quản trị công” (chẳng hạn quyền hạn và trách nhiệm của một bộ, ngành) thì bản chất vấn đề lại hoàn toàn khác. Trước hết, quản trị công được hình thành trên cơ sở sự tín nhiệm và trao quyền của nhân dân.

“Tín nhiệm” được hiểu không chỉ là niềm tin vào phẩm chất và năng lực của người được giao quản trị công (ví dụ bộ trưởng một bộ hay chủ tịch một tỉnh) khi được lựa chọn vào cương vị đó, mà còn là niềm tin vào động cơ hành động của anh ta với sự khẳng định rằng anh ta luôn luôn hành động vì lợi ích của nhân dân. Còn “trao quyền” lại gắn với một cơ chế rất trừu tượng và phức tạp, không giản đơn như một hợp đồng quản lý hay uỷ nhiệm, do đó không thể dễ dàng cho việc quy trách nhiệm cũng như rút quyền, một khi sự tín nhiệm nói trên không còn. Nói như vậy có nghĩa rằng nhân dân, là người trao quyền, sẽ luôn luôn là bên chịu rủi ro một khi có sự lựa chọn nhầm lẫn đối với người quản trị công, bởi tối đa thì phải sau một nhiệm kỳ năm năm, sai lầm ấy (nếu có) mới có cơ hội sửa chữa.

Continue reading

YÊU SÁCH “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ LUẬN ĐIỂM PHÁP LÝ

HOÀNG VIỆT

Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của chính quyền Trung Quốc về tính chất pháp lý của “đường lưỡi bò”. Trong khi đó, nhiều lập luận của các học giả cũng như của chính quyền Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối dữ dội của cộng đồng quốc tế.

Lịch sử xuất hiện “đường lưỡi bò”

Năm 1933, Pháp thực hiện việc đưa quân ra đồn trú tại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Để đối phó với các hành động này của chính quyền Pháp tại Đông Dương, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa (chính quyền Tưởng Giới Thạch) đã cho thành lập Ủy ban Điều tra Bản đồ Đất và Biển. Nhiệm vụ của Ủy ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên cho các đảo ở Biển Đông và xuất bản các bản đồ để thể hiện các đảo này thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.
Bản đồ chính thức đầu tiên thể hiện “đường lưỡi bò” có nguồn gốc từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Bản đồ này được Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa xuất bản tháng 2/1948 có tên 南海诸岛位置图 – Nanhai zhudao weizhi tu –( Nam hải chư đảo vị trí đồ). Bản đồ này của chính quyền Quốc Dân Đảng được các học giả Trung Quốc cho biết là dựa theo một số bản đồ không rõ ràng của một vài cá nhân. Trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà nhiều học giả Trung Hoa gọi là “đường hình chữ U” hay “đường chín đoạn”, một số học giả gọi nó là “đường lưỡi bò” bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông, đường này được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn.
Năm 1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch  thất bại trước Bắc Kinh phải chạy ra đảo Đài Loan, và cũng từ đó, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (sau đây gọi tắt là Trung Quốc), quốc gia này sau đó thay thế Cộng hòa Trung Hoa (sau đây gọi tắt là Đài Loan) trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Năm 1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng cho ấn hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như  bản đồ trước đó gồm 11 đoạn.
Tuy nhiên, sau đó một thời gian, bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Chính phủ Trung Quốc không đưa ra giải thích vì sao lại bỏ đi hai đoạn đó, thời điểm bỏ đi hai đoạn này cũng không nhất quán trong các tài liệu của các học giả Trung Quốc. Điều đặc biệt là trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả Chính phủ Cộng hòa Trung Hoa lẫn Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò” đó cả.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 141/TCNDTC-KHXX NGÀY 21/9/2011 CỦA CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO: MỘT VĂN BẢN CHỨA QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỚI NHIỀU NẾP MÒN XẤU

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty Luật hợp danh Danh & Cộng sự

Ngày 21/9/2011, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao đã ban hành Công văn số 141/TANDTC-KHXX (công văn số 141) hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhận thấy công văn số 141 mang nhiều điểm trái pháp luật, không khoa học và không phục vụ cộng đồng nên Công ty Luật hợp danh Danh & Cộng sự đã có văn bản kiến nghị Chánh án toà án nhân dân tối cao kiểm tra và xử lý.

Bài viết này gồm hai phần, phần phân tích công văn số 141 và phần nội dung kiến nghị.

I. Công văn số 141: Nội dung và những vấn đề pháp lý, kinh tế xã hội.

1. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản

Công văn số 141 nhận định rằng “các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô…) không phải là “giấy tờ có giá” quy định tại Điều 163 của Bộ Luật Dân sự năm 2005”.

Nhận định trên chỉ dựa vào điểm 8 Điều 6 luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.

Chỉ chứng minh các giấy tờ này không phải là “giấy tờ có giá”, công văn số 141 làm người đọc hết sức phân vân, không rõ theo quy định bộ luật dân sự 2005, các giấy này là gì, có phải là tài sản hay không.

Cơ sở pháp lý về “giấy tờ có giá” của công văn số 141 cũng không thuyết phục. Thật vậy, phạm vi điều chỉnh luật Ngân hàng Nhà nước (1) chỉ giới hạn trong “quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” và không bao quát, điều chỉnh hết mọi quan hệ dân sự.

Continue reading

LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: VÀI BƯỚC TỚI NGẮN, NHỮNG BƯỚC LUI DÀI

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty Luật Hợp danh Danh và Cộng sự

I. Tóm lược nội dung

A. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 LTTDS2011, bãi bỏ 8 Điều luật, bổ sung 11 Điều, sửa đổi 41 điều luật cũ. Ngoài những phần chỉ sửa đổi câu chữ, sắp xếp lại câu văn và không ảnh hưởng đến trình tự tố tụng cũ, có thể thống kê được 6 phần sửa đổi, bổ sung chính như sau:

1- Mở rộng thẩm quyền toà án:

a) Thẩm quyền chung của toà án:

– Điều 25 “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” bổ sung 3 loại tranh chấp sau:

+ Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

+ Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

– Điều 26 “Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án” bổ sung tương ứng với Điều 25 về tranh chấp hai loại việc sau:

+ Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

– Điều 32a “Thẩm quyền của toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức” bổ sung quyền của Toà án: khi giải quyết vụ việc dân sự, có quyền huỷ quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 277/LĐLSVN NGÀY 25/10/2011 CỦA LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ: KINH NGẠC VÀ THẤT VỌNG

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty luật hợp danh Danh và cộng sự

Ngày 25/10/2011, Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hành công văn số 227/LĐLSVN (công văn số 227) về việc luật sư mặc trang phục thống nhất khi tham gia phiên toà, gây kinh ngạc và thất vọng cho các luật sư thành viên.

Kinh ngạc vì công văn này chứa nhiều nội dung trái pháp luật. Dựa trên Nghị quyết của Hội đồng luật sư toàn quốc, công văn số 227 yêu cầu Toà án nhân dân tối cao “chỉ đạo Toà án nhân dân các cấp nhắc nhở, giám sát các luật sư; chỉ chấp thuận các luật sư tham gia phiên toà khi luật sư có mang trang phục thống nhất theo quy định Liên đoàn luật sư Việt Nam”.

Nội dung trên trái với quy định Luật luật sư (1), đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng (2), vi phạm hiến pháp (3), ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp người dân và luật sư. Không cơ quan nào, chỉ dựa vào quy định nội bộ Liên đoàn luật sư, có thể hạn chế quyền hành nghề của luật sư, tước đoạt quyền hiến định của người dân, được có luật sư bảo vệ quyền lợi.

Từ xưa đến nay, toà án chưa bao giờ có thẩm quyền nhắc nhở, giám sát đối với luật sư về trang phục nội bộ. Yêu cầu trên hạ thấp vị trí, vai trò cả luật sư lẫn hội đồng xét xử, biến luật sư thành chủ thể lệ thuộc, phải có người nhắc nhở, giám sát việc ăn mặc và hội đồng xét xử thành “đội trực cờ đỏ” xét áo quần, cà vạt, phù hiệu luật sư. Nếu Liên đoàn luật sư Việt Nam, không được can ngăn, tiếp tục cái đà nhờ toà án giải quyết việc nội bộ, ắt sẽ có ngày hội đồng xét xử làm luôn nhiệm vụ xét biên lai đoàn phí luật sư trước khi xét xử!

Thất vọng vì công văn số 227 thể hiện rõ khả năng của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc quản lý thành viên theo nguyên tắc tự quản. Mặc dù việc mặc trang phục thống nhất tham gia phiên toà được hầu hết luật sư ủng hộ, Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn không tìm được một biện pháp nội bộ, tự quản để việc thực hiện chủ trương trên có hiệu quả, phải nhờ đến toà án can thiệp. Đáng buồn hơn, Toà án Nhân dân Tối cao thay vì từ chối yêu cầu, chỉ rõ vấn đề không thuộc thẩm quyền của toà án, lại phụ hoạ cái sai, ban hành công văn số 116/TA-TKTH yêu cầu các hội đồng xét xử “lưu ý, nhắc nhở các luật sư mặc đúng trang phục”.

Continue reading

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CHỨNG CỨ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

THS. NGUYỄN HẢI VÂNCông ty Luật hợp danh Đông Á

Hiện nay, trong quá trình hòa nhập nền kinh tế toàn cầu, việc các doanh nhân thực hiện các giao dịch thương mại, dân sự thông qua các phương tiện điện tử đã dần trở thành một xu hướng phổ biến, bởi tính nhanh gọn, hiệu quả của hình thức này.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, tại Việt Nam các cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài thương mại) chưa mạnh dạn nhìn nhận tính pháp lý đầy đủ của các chứng cứ giao dịch điện tử (CCGDĐT) trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế, dân sự, lao động…Để đánh giá toàn diện giá trị pháp lý của CCGDĐT, sau đây chúng tôi sẽ nêu một số ý kiến và viện dẫn các căn cứ để chứng minh giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và thông tin trong thông điệp dữ liệu.

Về khái niệm giao dịch dân sư, theo Điều 121 Bộ luật Dân sự (BLDS) “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Về hình thức của giao dịch dân sự, Điều 124 BLDS cũng khẳng định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản

Rõ ràng, cơ sở pháp lý của hình thức thông điệp dữ liệu đã được khẳng định một cách chắc chắn trong BLDS. Bên cạnh đó, theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch Điện tử (GDĐT) có hiệu lực ngày 01/03/2006, thì: “Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”, “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử

Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (Khoản 12 Điều 4 Luật GDĐT)

Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác

Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (Điều 10 Luật GDĐT)

Điều 12 Luật GDĐT khẳng định “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản”.Không chỉ vậy, Điều 13 của Luật còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc.

Continue reading