CÔNG VĂN SỐ 143/TANDTC-KHXX NGÀY 21 THÁNG 09 NĂM 2011 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI

Kính gửi:

– Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Tòa án nhân dân các huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của pháp luật liên quan đến việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan Bảo hiểm Xã hội, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp thực hiện đúng và nghiêm túc một số vấn đề sau đây:

1. Về việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan Bảo hiểm Xã hội

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật lao động (đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006) thì: “Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án nhân dân giải quyết”.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22-8-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam thì “Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi chung là bảo hiểm xã hội), bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện (sau đây gọi chung là bảo hiểm y tế) theo quy định của pháp luật”.

Trường hợp cơ quan Bảo hiểm Xã hội khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân, nếu Tòa án thấy rằng vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của mình thì căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 151  Bộ luật Lao động, khoản 3 Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và văn bản hướng dẫn thi hành để thụ lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự và xác định cơ quan Bảo hiểm Xã hội là nguyên đơn. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 và điểm c khoản 1 Điều 33 của BLTTDS thì cơ quan Bảo hiểm Xã hội có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp người bị khởi kiện ở nước ngoài thì cơ quan Bảo hiểm Xã hội có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của BLTTDS.

Continue reading

KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TRI THỨC TRUYỀN THỐNG – TIẾP CẬN TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Khi những hạn chế của khoa học hiện đại bắt đầu bộc lộ thì người ta lại có xu hướng quay trở lại tôn trọng các tri thức truyền thống, lợi ích do tri thức truyền thống mang lại đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), chỉ tính riêng trong lĩnh vực y học cổ truyền, năm 1999 Trung Quốc đã thu được 6 tỷ USD, châu Âu thu được 11,9 tỷ USD (trong đó Đức chiếm 38%, Pháp chiếm 21% và Anh chiếm 12%). Ở Việt Nam, riêng năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền của 54 dân tộc, sản lượng xuất khẩu dược liệu cổ truyền đạt khoảng 10.000 tấn, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD1.

Vậy làm thế nào để gìn giữ và khai thác thương mại các tri thức truyền thống? Bài viết này sẽ lý giải một phần câu hỏi này.

Về thuật ngữ tri thức truyền thống

Năm 1978, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra khái niệm tri thức truyền thống, khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức là các hình thức thể hiện của văn hóa dân gian (Expressions of Folklore). Vào năm 1982, Các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác đã được WIPO phối hợp với Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về các hình thức thể hiện văn hóa dân gian. Đến nay thuật ngữ tri thức truyền thống  không chỉ giới hạn ở các hình thức thể hiện văn hóa dân gian mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian…

Trong thực tế, ngoài thuật ngữ tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) thì còn xuất hiện thuật ngữ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge), trong một số nghiên cứu chúng được dùng chung một nghĩa, có thể dẫn chứng: các khái niệm “kiến thức bản địa” (Indigenouse Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge) và “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) được quan niệm gần như đồng nghĩa và thường được sử dụng hoán đổi cho nhau mà không gây nên sự hiểu lầm2. Chúng tôi có cách tiếp cận khác với quan điểm này, xin lấy trường hợp y học truyền thống để chứng minh.

Continue reading

HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN

SỸ HỒNG NAM – Tòa dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện chuộc lại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005

Hợp đồng dân sự là chế định nền tảng của luật dân sự. Ở nước ta, trước khi có Bộ luật Dân sự năm 1995, hợp đồng dân sự được Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 điều chỉnh. Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, chế định hợp đồng dân sự dược quy định tương đối đấy đủ và có hệ thống. Ngoài những quy định chung về giao dịch và hợp đồng dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 còn quy định một số loại hợp đồng dân sự thông dụng. Tuy nhiên, sau 10 năm áp dụng, những quy định về giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi. bổ sung. Mặc dù, Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã khắc khục được những hạn chế, bất cập của Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, sau thời gian áp dụng, Bộ luật Dân sự năm 2005 có nhiều nội dung không phù hợp trong đó có những quy định về hợp đồng dân sự.

Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự tại Tòa án, chúng tôi thấy một số giao dịch dân sự trong xã hội đã và đang diễn ra nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh, gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên. trong bài viết này. chúng tôi chỉ đề cập đến một loại giao dịch dân sự đó là “Hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện chuộc lại”.

Đối với hợp đồng này, ngoài những quy định chung về giao dịch và hợp đồng dân sự chỉ có Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2005 nằm trong mục những quy định riêng về mua bán tài sản điều chỉnh.

Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“l. Bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn chuộc lại.

Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm giao tài sản. Trong thời hạn này bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, nếu không có thỏa thuận khác.

Continue reading