LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: VÀI BƯỚC TỚI NGẮN, NHỮNG BƯỚC LUI DÀI

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty Luật Hợp danh Danh và Cộng sự

I. Tóm lược nội dung

A. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 LTTDS2011, bãi bỏ 8 Điều luật, bổ sung 11 Điều, sửa đổi 41 điều luật cũ. Ngoài những phần chỉ sửa đổi câu chữ, sắp xếp lại câu văn và không ảnh hưởng đến trình tự tố tụng cũ, có thể thống kê được 6 phần sửa đổi, bổ sung chính như sau:

1- Mở rộng thẩm quyền toà án:

a) Thẩm quyền chung của toà án:

– Điều 25 “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” bổ sung 3 loại tranh chấp sau:

+ Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

+ Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

– Điều 26 “Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án” bổ sung tương ứng với Điều 25 về tranh chấp hai loại việc sau:

+ Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

– Điều 32a “Thẩm quyền của toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức” bổ sung quyền của Toà án: khi giải quyết vụ việc dân sự, có quyền huỷ quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 277/LĐLSVN NGÀY 25/10/2011 CỦA LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ: KINH NGẠC VÀ THẤT VỌNG

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty luật hợp danh Danh và cộng sự

Ngày 25/10/2011, Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hành công văn số 227/LĐLSVN (công văn số 227) về việc luật sư mặc trang phục thống nhất khi tham gia phiên toà, gây kinh ngạc và thất vọng cho các luật sư thành viên.

Kinh ngạc vì công văn này chứa nhiều nội dung trái pháp luật. Dựa trên Nghị quyết của Hội đồng luật sư toàn quốc, công văn số 227 yêu cầu Toà án nhân dân tối cao “chỉ đạo Toà án nhân dân các cấp nhắc nhở, giám sát các luật sư; chỉ chấp thuận các luật sư tham gia phiên toà khi luật sư có mang trang phục thống nhất theo quy định Liên đoàn luật sư Việt Nam”.

Nội dung trên trái với quy định Luật luật sư (1), đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng (2), vi phạm hiến pháp (3), ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp người dân và luật sư. Không cơ quan nào, chỉ dựa vào quy định nội bộ Liên đoàn luật sư, có thể hạn chế quyền hành nghề của luật sư, tước đoạt quyền hiến định của người dân, được có luật sư bảo vệ quyền lợi.

Từ xưa đến nay, toà án chưa bao giờ có thẩm quyền nhắc nhở, giám sát đối với luật sư về trang phục nội bộ. Yêu cầu trên hạ thấp vị trí, vai trò cả luật sư lẫn hội đồng xét xử, biến luật sư thành chủ thể lệ thuộc, phải có người nhắc nhở, giám sát việc ăn mặc và hội đồng xét xử thành “đội trực cờ đỏ” xét áo quần, cà vạt, phù hiệu luật sư. Nếu Liên đoàn luật sư Việt Nam, không được can ngăn, tiếp tục cái đà nhờ toà án giải quyết việc nội bộ, ắt sẽ có ngày hội đồng xét xử làm luôn nhiệm vụ xét biên lai đoàn phí luật sư trước khi xét xử!

Thất vọng vì công văn số 227 thể hiện rõ khả năng của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc quản lý thành viên theo nguyên tắc tự quản. Mặc dù việc mặc trang phục thống nhất tham gia phiên toà được hầu hết luật sư ủng hộ, Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn không tìm được một biện pháp nội bộ, tự quản để việc thực hiện chủ trương trên có hiệu quả, phải nhờ đến toà án can thiệp. Đáng buồn hơn, Toà án Nhân dân Tối cao thay vì từ chối yêu cầu, chỉ rõ vấn đề không thuộc thẩm quyền của toà án, lại phụ hoạ cái sai, ban hành công văn số 116/TA-TKTH yêu cầu các hội đồng xét xử “lưu ý, nhắc nhở các luật sư mặc đúng trang phục”.

Continue reading

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CHỨNG CỨ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

THS. NGUYỄN HẢI VÂNCông ty Luật hợp danh Đông Á

Hiện nay, trong quá trình hòa nhập nền kinh tế toàn cầu, việc các doanh nhân thực hiện các giao dịch thương mại, dân sự thông qua các phương tiện điện tử đã dần trở thành một xu hướng phổ biến, bởi tính nhanh gọn, hiệu quả của hình thức này.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, tại Việt Nam các cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài thương mại) chưa mạnh dạn nhìn nhận tính pháp lý đầy đủ của các chứng cứ giao dịch điện tử (CCGDĐT) trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế, dân sự, lao động…Để đánh giá toàn diện giá trị pháp lý của CCGDĐT, sau đây chúng tôi sẽ nêu một số ý kiến và viện dẫn các căn cứ để chứng minh giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và thông tin trong thông điệp dữ liệu.

Về khái niệm giao dịch dân sư, theo Điều 121 Bộ luật Dân sự (BLDS) “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Về hình thức của giao dịch dân sự, Điều 124 BLDS cũng khẳng định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản

Rõ ràng, cơ sở pháp lý của hình thức thông điệp dữ liệu đã được khẳng định một cách chắc chắn trong BLDS. Bên cạnh đó, theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch Điện tử (GDĐT) có hiệu lực ngày 01/03/2006, thì: “Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”, “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử

Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (Khoản 12 Điều 4 Luật GDĐT)

Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác

Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (Điều 10 Luật GDĐT)

Điều 12 Luật GDĐT khẳng định “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản”.Không chỉ vậy, Điều 13 của Luật còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc.

Continue reading