CÔNG VĂN SỐ 141/TCNDTC-KHXX NGÀY 21/9/2011 CỦA CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO: MỘT VĂN BẢN CHỨA QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỚI NHIỀU NẾP MÒN XẤU

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty Luật hợp danh Danh & Cộng sự

Ngày 21/9/2011, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao đã ban hành Công văn số 141/TANDTC-KHXX (công văn số 141) hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhận thấy công văn số 141 mang nhiều điểm trái pháp luật, không khoa học và không phục vụ cộng đồng nên Công ty Luật hợp danh Danh & Cộng sự đã có văn bản kiến nghị Chánh án toà án nhân dân tối cao kiểm tra và xử lý.

Bài viết này gồm hai phần, phần phân tích công văn số 141 và phần nội dung kiến nghị.

I. Công văn số 141: Nội dung và những vấn đề pháp lý, kinh tế xã hội.

1. Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản

Công văn số 141 nhận định rằng “các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô…) không phải là “giấy tờ có giá” quy định tại Điều 163 của Bộ Luật Dân sự năm 2005”.

Nhận định trên chỉ dựa vào điểm 8 Điều 6 luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.

Chỉ chứng minh các giấy tờ này không phải là “giấy tờ có giá”, công văn số 141 làm người đọc hết sức phân vân, không rõ theo quy định bộ luật dân sự 2005, các giấy này là gì, có phải là tài sản hay không.

Cơ sở pháp lý về “giấy tờ có giá” của công văn số 141 cũng không thuyết phục. Thật vậy, phạm vi điều chỉnh luật Ngân hàng Nhà nước (1) chỉ giới hạn trong “quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” và không bao quát, điều chỉnh hết mọi quan hệ dân sự.

Continue reading