MÔ HÌNH TỔ CHỨC XÚC TIẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN VÂN ANH, Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu &  THS. LÊ VŨ TOÀN, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo đánh giá của một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam trong thời gian qua tuy đã thu được những thành tích đáng khích lệ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc tìm kiếm những mô hình xúc tiến CGCN phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động này, hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam là rất cần thiết. Bài viết giới thiệu mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc và Trung Quốc, từ đó rút ra một số kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam.

Mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc

Hoạt động xúc tiến CGCN đã trở nên mạnh mẽ ở Hàn Quốc với sự ra đời của Luật Xúc tiến CGCN vào năm 2000. Đạo luật này đã khuyến khích các trường đại học và các viện nghiên cứu công cộng thành lập các văn phòng CGCN (TLO) cùng với các tổ chức tương ứng của họ, đồng thời tập trung vào việc xúc tiến chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trước khi có đạo luật này, Chính phủ Hàn Quốc đã tập trung vào sự phát triển của tri thức công nghệ bằng cách tăng cường đầu tư cho hoạt động R&D.

Hàn Quốc có nhiều tổ chức dịch vụ xúc tiến CGCN như trung tâm đổi mới công nghệ vùng, công viên công nghệ, các doanh nghiệp nhân rộng kết quả nghiên cứu, các trung tâm CGCN thuộc các trường đại học… Tiêu biểu phải kể đến là Trung tâm CGCN Hàn Quốc (Korea Technology Transfer Center – KTTC) – một tổ chức xúc tiến CGCN hàng đầu tại Hàn Quốc. KTTC được thành lập vào tháng 3.2000 dưới sự hỗ trợ của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOCIE) và các bộ liên quan. KTTC có nhiệm vụ tích hợp thương mại và công nghệ với việc thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực CGCN, đánh giá và đầu tư. Qua đó, tạo ra một trung tâm về dòng chảy thông tin công nghệ qua văn phòng CGCN (TLO)/khu vực mua sắm công nghệ (Regional Technology Trade Centers – RTTCs) và ngân hàng công nghệ quốc gia. Ngoài ra, KTTC cũng tập trung cho việc chuyển giao và thương mại hoá công nghệ bằng cách thúc đẩy cơ chế tài chính, bao gồm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu, tập trung vào các công ty trong giai đoạn khởi nghiệp.

Chiến lược tiếp cận của KTTC là sử dụng đa dạng hoá phương pháp CGCN và thương mại hoá công nghệ từ chuyển giao quyền sử dụng, mua bán cổ phần công nghệ và trao đổi học thuật, cơ sở dữ liệu nghiên cứu. KTTC nâng cấp hạ tầng công nghệ và cải thiện khả năng cạnh tranh bằng cách thực hiện một cách có hệ thống và tích hợp chiến lược toàn cầu hoá công nghệ trên cơ sở sử dụng thế mạnh của công ty, trường đại học và chính phủ.

Continue reading

GIẢI MÃ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu; TRẦN VĂN LĂNG – Viện Cơ học và Tin học ứng dụng, TP Hồ Chí Minh; PHẠM HỒNG QUẤT – Bộ KH&CN; NGUYỄN HOÀNG LONG – Trường Chính trị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Giải mã công nghệ (GMCN) để đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm là một xu thế được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Với việc GMCN, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam có thể đi tắt đón đầu, rút ngắn thời gian nghiên cứu thậm chí đến hàng chục năm. Việc ứng dụng giải mã không những giúp tạo ra một công nghệ mới thay thế, có giá thành giảm hơn rất nhiều so với giá trị nguyên bản của nó mà còn có thể hình thành ý tưởng công nghệ mới và tận dụng tối đa tiềm năng sẵn có.

Bài viết cung cấp một cách nhìn tổng quát về vấn đề giải mã, đặc biệt là GMCN đối với chương trình máy tính (CTMT), với những hướng ứng dụng và sáng tạo trong thực tế nhằm đảm bảo tính pháp lý cho việc giải mã. Đây là hướng tiếp cận quan trọng góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ và hạn chế tỷ lệ vi phạm bản quyền CTMT ở Việt Nam.

CTMT và việc bảo hộ CTMT

CTMT

Theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), “CTMT là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể”. Trong thực tế, các CTMT rất đa dạng và phong phú, dẫn đến có nhiều cách phân loại khác nhau. Căn cứ vào sự giao tiếp giữa người và máy có thể có các loại sau: 1. Hệ điều hành (là chương trình giúp người sử dụng cũng như các thiết bị khác có thể giao tiếp với bộ xử lý của máy tính); 2. Chương trình ứng dụng (là những sản phẩm sử dụng máy tính để giải quyết công việc của thực tế đặt ra); 3. Chương trình hệ thống (là những chương trình ứng dụng để giải quyết các công việc nội bộ của máy tính, hoặc một hệ thống các máy tính); 4. Chương trình hệ thống nhúng (là một chương trình ứng dụng được viết, biên dịch trên máy tính, sau đó nạp vào thiết bị có một hoặc nhiều bộ vi xử lý với hệ điều hành tương ứng phù hợp). Dù ở bất cứ loại hình nào, CTMT cũng là một loại hình công nghệ cần phải được giải mã, đặc biệt trong thời đại ngày nay – khi chúng ta cần phải biết kế thừa để nhanh chóng tạo ra sản phẩm, giúp chúng ta tiếp cận với thế giới.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 33/2012/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 4 NĂM 2012 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 45/2010/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 ban hành Luật quy định quyền lập hội;

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/2010/NĐ-CP),

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP

1. Điểm b Khoản 6 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“b) Hoàn chỉnh hồ sơ xin phép thành lập hội theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP. Sau khi đã hoàn tất việc trù bị thành lập hội, ban vận động thành lập hội gửi một bộ hồ sơ đến: Bộ Nội vụ đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; Sở Nội vụ đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, huyện, xã; Phòng Nội vụ (trong trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập hội có phạm vi hoạt động trong xã).

Ban vận động thành lập hội tự giải thể khi đại hội bầu ra ban lãnh đạo của hội.”

2. Điều 9 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 14 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP khi nhận hồ sơ xin phép thành lập hội phải có giấy biên nhận. Trong thời hạn ba mươi ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, quyết định cho phép thành lập hội; trường hợp không đồng ý phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”.

Continue reading

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – ĐỊA CHỈ TIN CẬY ĐỂ QUỐC HỘI GIAO NHIỆM VỤ GIẢI THÍCH LUẬT

ĐỖ VĂN CHỈNH

Giải thích luật đang là vấn đề được nhiều học giả, chuyên gia pháp luật và các cơ quan hữu quan quan tâm. Giải thích luật có vai trò vô cùng quan trọng, bởi lẽ, có nhiều quy phạm pháp luật nếu không có sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền sẽ dẫn đến hậu quả là việc nhận thức pháp luật không thống nhất và việc áp dụng pháp luật của các cơ quan Nhà nước nói chung, cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng cũng không thống nhất.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội (Uỷ ban TVQH) là cơ quan duy nhất ở nước ta có thẩm quyền giải thích luật. Thẩm quyền giải thích luật của Uỷ ban TVQH được quy định tại Điều 9 của Hiến pháp, tại Điều 7 của Luật Tổ chức Quốc hội và tại Điều 52 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Một thực tế của đời sống pháp luật hiện nay là: Yêu cầu giải thích Luật của người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, hành nghề Luật, áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp,… thì nhiều, nhưng các văn bản pháp luật được Uỷ ban TVQH giải thích lại ít nên không đáp ứng nhu cầu của xã hội. Những năm gần đây, có nhiều Luật đã có điều luật để giải thích từ ngữ. Ví dụ Luật Doanh nghiệp năm 2005 có Điều 4 về giải thích từ ngữ. Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có Điều 3 về giải thích từ ngữ…v…v… Những sự giải thích từ ngữ trong từng Luật như vậy cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của đời sống pháp luật. Ví dụ trong luật Đất đai năm 2003 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 có Điều 4 là điều luật giải thích từ ngữ, nhưng cũng chỉ giải thích được 28 cụm từ, mà trong 28 cụm từ  được giải thích vẫn có cụm từ không áp dụng được trong các tranh chấp. Cụ thể là về cụm từ tại khoản 24 Điều 4 giải thích cụm từ  “Giá trị quyền sử dụng đất”. Cụm từ này quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật Đất đai là điều luật quy định về bồi thường cho người có đất bị thu hồi, nội dung quy định như sau “… nếu không có đất để bồi thường, thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất…”. Trong khoản 24 Điều 4 Luật Đất đai giải thích cụm từ “Giá trị quyền sử dụng đất” như sau: “Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định”. Sự giải thích này không rõ ràng và còn mâu thuẫn với quy định trong khoản 2 Điều 42 Luật Đất đai. Không rõ ở chỗ: trong lời giải thích nói là “giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất…”. Nhưng giá trị bằng tiền này, tính theo giá nào lại không đề cập đến, nên trong thực tế giải quyết bồi thường là khó khăn. Cụ thể là: Đất thu hồi để giao cho doanh nghiệp thì bồi thường cho người có đất bị thu hồi theo giá của UBND cấp tỉnh quy định, mà giá này người dân thường gọi là giá làm nghèo người có đất bị thu hồi. Còn đất ở vị trí tạm gọi là đắc địa mà nhà đầu tư muốn có đất để đưa vào khai thác thì việc bồi thường có sự tham gia của nhà đầu tư nên giá đất bồi thường cao hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định nhưng cũng không phải là giá thị trường. Vậy thì giá trị quyền sử dụng đất bồi thường cho người có đất bị thu hồi lấy giá bồi thường nào là đúng với sự giải thích tại khoản 24 Điều 4 Luật Đất đai.

Continue reading

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN SAU NGHIỆM THU

NGUYỄN VÂN ANH -  Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu & LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Cùng với việc tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN), quy trình quản lý các đề tài/dự án trong quá trình nghiên cứu – triển khai (R&D) ở địa phương đã có nhiều cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của các kết quả nghiên cứu (KQNC). Tuy nhiên xét về tổng thể, các quy trình quản lý này vẫn chưa hoàn thiện. Bởi lẽ, chúng ta chưa có mô hình và quy trình quản lý các KQNC sau nghiệm thu nên hiệu quả ứng dụng còn nhiều hạn chế, phạm vi ứng dụng các KQNC chưa được mở rộng. Mặt khác, sau quá trình đầu tư kinh phí cho hoạt động R&D, quyền lợi của Nhà nước và tác giả của các công trình nghiên cứu chưa được quan tâm, để đảm bảo thực thi theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Mô hình quản lý sau nghiệm thu các KQNC thuộc các đề tài/dự án được đầu tư từ ngân sách nhà nước ở cấp địa phương được đề cập dưới đây là những gợi mở cho việc triển khai áp dụng trong thực tiễn.

Kinh nghiệm quản lý, khai thác KQNC của các đề tài/dự án trên thế giới

Tại các nước phát triển trên thế giới, việc triển khai các đề tài/dự án được thực hiện khá chặt chẽ, từ khâu đề xuất đề tài/dự án đến việc khai thác các KQNC. Trong đó, họ đặc biệt lưu ý đến công tác bảo vệ tài sản trí tuệ, thương mại hóa KQNC dưới nhiều hình thức để nâng cao phạm vi ứng dụng và hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu.

Để khai thác thành tựu KH&CN là kết quả của các đề tài/dự án đã được đầu tư, năm 1996, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Luật Thúc đẩy chuyển hóa thành tựu KH&CN, quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của Chính phủ, chủ sở hữu KQNC, doanh nghiệp, cơ quan trung gian tham gia kinh doanh môi giới và các tổ chức tài chính thực hiện quản lý, khai thác và thương mại hóa KQNC. Còn ở Hàn Quốc, từ tháng 1.2000, Chính phủ nước này đã ban hành Luật Xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN), trong đó đề cập đến mô hình quản lý, khai thác, thương mại hóa KQNC thông qua Trung tâm CGCN Hàn Quốc (KTTC). Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức CGCN đã được ban hành năm 1998, với việc khuyến khích và hỗ trợ các trường đại học hình thành các Văn phòng CGCN (Technology Licensing Organization – TLO) nhằm giúp cho việc CGCN từ các trường đại học ra doanh nghiệp được thuận lợi hơn. Thông qua TLO, các trường đại học tại Nhật Bản quản lý và khai thác được các KQNC, từ đó hình thành được nguồn lợi nhuận không nhỏ cho các trường đại học, góp phần tái đầu tư vào hoạt động R&D trong các trường đại học.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM CÓ ĐƯỢC GHI VÀO TRONG BẢN ÁN KHÔNG?

PHAN VŨ LINH – Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ

Tại khoản 2 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người  có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà cụ thể là của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm được thể hiện tại bài phát biểu sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên phải tập trung vào việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án (Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự).

Như vậy, pháp luật đã xác định rất rõ ràng nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm. Nếu như Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử vi phạm tố tụng, chẳng hạn còn thiếu người tham gia tố tụng, cần xác minh thu thập thêm chứng cứ,v.v…thì có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục những thiếu sót đó. Ví dụ: Ngày 01 tháng 01 năm 2008, ông A cho ông B vay số tiền là 100.000.000đ với lãi suất là 1%/tháng để kinh doanh với thời hạn vay là một năm. Đến thời hạn trả nợ, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên vào năm 2010, ông A khởi kiện ông B đòi số tiền nợ gốc và lãi trên. Sau khi hoà giải không thành, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Hội đồng xét xử cần phải đưa vợ của ông B là bà C vào tham gia tố tụng mới đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và đúng quy định pháp luật. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục thiếu sót này.

Vấn đề đặt ra là ý kiến phát biểu trên của Kiểm sát viên có được ghi nhận vào trong bản án hay không? Đối với vấn đề này trên hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau và có cách làm chưa thống nhất.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP CẦN QUY ĐỊNH RÕ CHẾ ĐỘ ỦY QUYỀN THAM DỰ CUỘC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

THS. PHẠM THỊ DUYÊN MỸ – Phòng Luật & Kiểm soát nội bộ – Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn

Một trong những quyền cơ bản của cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần (CTCP) là quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, khi ĐHĐCĐ họp thì không phải mọi cổ đông đều có thể tham dự để thực hiện quyền của mình. Trong khi đó, để cuộc họp ĐHĐCĐ có giá trị về mặt pháp lý thì phải có đủ túc số dự họp lẫn biểu quyết1. Nhưng làm sao để có đủ túc số ấy khi cổ đông của công ty đại chúng ở nhiều vùng miền, và thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau?

Luật Doanh nghiệp 2005 đã đưa ra giải pháp cho cổ đông và cho CTCP bằng phương thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thông qua người đại diện được ủy quyền2. Theo đó, “cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp ĐHĐCĐ. Trường hợp cổ đông là tổ chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp ĐHĐCĐ3”.

Xác định người đại diện theo ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức

Căn cứ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì đối với cổ đông là tổ chức, cần phân biệt hai “dạng” đại diện theo ủy quyền. Theo Khoản 3 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất, bao gồm các nội dung từ điểm a đến điểm e của Khoản 3 Điều 96. Công ty phải gửi thông báo về việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cổ đông là tổ chức. Đây là một dạng ủy quyền thường xuyên, và thường được thấy trong các CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Cũng không ít công ty đã nhầm lẫn khi ghi tên những người đại diện theo ủy quyền này vào danh sách cổ đông và xem họ mặc nhiên như là một cổ đông thực sự tương ứng với số cổ phần mà họ đại diện. Việc một tổ chức cử nhiều người đại diện phần vốn của mình tại một công ty nhằm hạn chế được tình trạng “lạm quyền” và hạn chế rủi ro nếu người được ủy quyền thực hiện các công việc không vì lợi ích của tổ chức ủy quyền. Tuy nhiên, nếu những người đại diện theo ủy quyền này không tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, và việc ủy quyền cho “người khác” này có thể hiểu là một dạng ủy quyền “adhoc”, ủy quyền theo vụ việc.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 143/TANDTC-KHXX NGÀY 21 THÁNG 09 NĂM 2011 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI

Kính gửi:

– Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Tòa án nhân dân các huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của pháp luật liên quan đến việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan Bảo hiểm Xã hội, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa án nhân dân các cấp thực hiện đúng và nghiêm túc một số vấn đề sau đây:

1. Về việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan Bảo hiểm Xã hội

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật lao động (đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006) thì: “Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án nhân dân giải quyết”.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22-8-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam thì “Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi chung là bảo hiểm xã hội), bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện (sau đây gọi chung là bảo hiểm y tế) theo quy định của pháp luật”.

Trường hợp cơ quan Bảo hiểm Xã hội khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân, nếu Tòa án thấy rằng vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của mình thì căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 151  Bộ luật Lao động, khoản 3 Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và văn bản hướng dẫn thi hành để thụ lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự và xác định cơ quan Bảo hiểm Xã hội là nguyên đơn. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 và điểm c khoản 1 Điều 33 của BLTTDS thì cơ quan Bảo hiểm Xã hội có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp người bị khởi kiện ở nước ngoài thì cơ quan Bảo hiểm Xã hội có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của BLTTDS.

Continue reading

KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TRI THỨC TRUYỀN THỐNG – TIẾP CẬN TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Khi những hạn chế của khoa học hiện đại bắt đầu bộc lộ thì người ta lại có xu hướng quay trở lại tôn trọng các tri thức truyền thống, lợi ích do tri thức truyền thống mang lại đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), chỉ tính riêng trong lĩnh vực y học cổ truyền, năm 1999 Trung Quốc đã thu được 6 tỷ USD, châu Âu thu được 11,9 tỷ USD (trong đó Đức chiếm 38%, Pháp chiếm 21% và Anh chiếm 12%). Ở Việt Nam, riêng năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền của 54 dân tộc, sản lượng xuất khẩu dược liệu cổ truyền đạt khoảng 10.000 tấn, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD1.

Vậy làm thế nào để gìn giữ và khai thác thương mại các tri thức truyền thống? Bài viết này sẽ lý giải một phần câu hỏi này.

Về thuật ngữ tri thức truyền thống

Năm 1978, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra khái niệm tri thức truyền thống, khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức là các hình thức thể hiện của văn hóa dân gian (Expressions of Folklore). Vào năm 1982, Các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác đã được WIPO phối hợp với Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về các hình thức thể hiện văn hóa dân gian. Đến nay thuật ngữ tri thức truyền thống  không chỉ giới hạn ở các hình thức thể hiện văn hóa dân gian mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian…

Trong thực tế, ngoài thuật ngữ tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) thì còn xuất hiện thuật ngữ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge), trong một số nghiên cứu chúng được dùng chung một nghĩa, có thể dẫn chứng: các khái niệm “kiến thức bản địa” (Indigenouse Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge) và “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) được quan niệm gần như đồng nghĩa và thường được sử dụng hoán đổi cho nhau mà không gây nên sự hiểu lầm2. Chúng tôi có cách tiếp cận khác với quan điểm này, xin lấy trường hợp y học truyền thống để chứng minh.

Continue reading

HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN CÓ ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN

SỸ HỒNG NAM – Tòa dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện chuộc lại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005

Hợp đồng dân sự là chế định nền tảng của luật dân sự. Ở nước ta, trước khi có Bộ luật Dân sự năm 1995, hợp đồng dân sự được Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 điều chỉnh. Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, chế định hợp đồng dân sự dược quy định tương đối đấy đủ và có hệ thống. Ngoài những quy định chung về giao dịch và hợp đồng dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 còn quy định một số loại hợp đồng dân sự thông dụng. Tuy nhiên, sau 10 năm áp dụng, những quy định về giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi. bổ sung. Mặc dù, Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã khắc khục được những hạn chế, bất cập của Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, sau thời gian áp dụng, Bộ luật Dân sự năm 2005 có nhiều nội dung không phù hợp trong đó có những quy định về hợp đồng dân sự.

Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự tại Tòa án, chúng tôi thấy một số giao dịch dân sự trong xã hội đã và đang diễn ra nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh, gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên. trong bài viết này. chúng tôi chỉ đề cập đến một loại giao dịch dân sự đó là “Hợp đồng mua bán tài sản có điều kiện chuộc lại”.

Đối với hợp đồng này, ngoài những quy định chung về giao dịch và hợp đồng dân sự chỉ có Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2005 nằm trong mục những quy định riêng về mua bán tài sản điều chỉnh.

Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“l. Bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn chuộc lại.

Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận nhưng không quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm giao tài sản. Trong thời hạn này bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Giá chuộc lại là giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại, nếu không có thỏa thuận khác.

Continue reading

ĐI TÌM TRIẾT LÝ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. NGUYỄN TRƯỜNG GIANG & THS. BÙI ĐỨC GIANG [1]

Mặc dù thế chấp quyền tài sản không phải là một biện pháp bảo đảm mới ở Việt Nam, song trong thực tế không ít ngân hàng thương mại còn lúng túng khi xác lập các hợp đồng bảo đảm đối với loại tài sản này. Không chỉ các ngân hàng thương mại mà với nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong đó có các ngân hàng không phải là người cư trú (offshore banks), cũng không phải đơn giản khi xác định được nhận thế chấp loại quyền tài sản nào từ doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng Việt Nam là bên vay vốn và đưa ra các điều khoản phù hợp nhất để bảo vệ quyền lợi của mình cho phù hợp với pháp luật Việt Nam hiện hành.

1. Khái niệm quyền tài sản

Pháp luật Việt Nam công nhận bốn loại hình tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản[2]. Khác với vật, tiền hay giấy tờ có giá được xem là các tài sản hữu hình, quyền tài sản là một loại tài sản vô hình đặc biệt. Có lẽ chính vì lý do này, khi đề cập tính chất của các loại tài sản, Bộ luật dân sự đã dành riêng điều 181 để định nghĩa quyền tài sản theo đó quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Từ định nghĩa này có thể rút ra hai đặc điểm chính của quyền tài sản, đó là:

– Quyền tài sản phải trị giá được bằng tiền hay nói rộng ra quyền tài sản phải có giá trị kinh tế nhất định ;

– Quyền tài sản phải có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, tức là quyền tài sản phải được phép đưa vào các chu trình trao đổi, lưu thông.

Quyền tài sản bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ được xem là một tiểu quyền tài sản.

Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam không quy định rõ là mọi tài sản phải là động sản hoặc bất động sản[3]. Khi quy định quyền tài sản là một loại tài sản, nhà làm luật đã tránh sử dụng khái niệm tài sản động sản vô hình có lẽ bởi vì về bản chất một tài sản được coi là động sản chỉ khi nó có thể được di chuyển hay tự di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Nếu áp dụng nguyên tắc này vào tài sản động sản vô hình thì rõ ràng sẽ không phù hợp. Hơn nữa, Bộ luật dân sự cũng không sử dụng khái niệm tài sản vô hình hay tài sản hữu hình.

Continue reading

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

food-inflation3NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

Thế giới đã và đang tiếp tục chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính trên quy mô rộng hơn. Khủng hoảng ít nhiều đã tác động đến nền kinh tế-tài chính của mỗi nước, cũng như ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của mỗi người dân trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết này không nhằm tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đó, mà nhằm nhìn nhận lại nguyên nhân tình hình lạm pháp đã và vẫn còn diễn ra ở Việt Nam.

Lạm phát là một trong những vấn đề chính yếu của các quốc gia phát triển cũng như là các quốc gia đang phát triển, nó tồn tại tất yếu trong một nền kinh tế thị trường. Trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam đã và đang diễn ra lạm phát dù không thực sự quá tầm trọng nhưng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách kinh tế của Nhà nước, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cả đời sống của người dân.

Lạm phát là sự mất sức mua của một đơn vị tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, và thường được diễn tả như là sự gia tăng chung trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Như vậy, có thể thấy rằng, đầu tiên lạm phát là do căn bệnh của tiền tệ, “lạm phát, mãi mãi và ở khắp mọi nơi đều là một vấn đề tiền tệ”- (Milton Friedman). Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua cũng không nằm ngoài nguyên nhân là từ căn bệnh tiền tệ đó. Vì sao lạm phát lại luôn có xu hướng tăng cao? Tình hình lạm phát này nếu không phải là do căn bệnh tiền tệ thì là từ đâu?

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải phát hành một lượng tiền đồng Việt Nam rất lớn để trả lương tăng lên khi mức lương cơ bản tăng. Lượng tiền này sẽ đi đâu nếu không được chi tiêu và “đổ” vào thị trường? điều đó phần nào đã làm mất sức mua của tiền đồng Việt Nam. Vì rằng, khi có nhiều tiền hơn, người dân sẽ tăng việc chi tiêu, mua sắm, từ đó làm tăng mức cầu đối với hàng hóa và dịch vụ (tổng cầu) do đó sẽ “kéo” giá cả lên, nhất là khi “tổng cung” bị hạn chế do chưa tăng việc sản xuất kịp so với “tổng cầu”. Đồng thời với đó, Nhà nước lại vì quá chú trọng đến việc hạn chế nhập khẩu cũng như là hạn chế việc tiêu dùng các hàng hóa có thể gọi là “sa sỉ”, điển hình như ô tô, nên nhà nước đã tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng đó, bên cạnh là điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập doanh ngiệp, điều này phần nào cũng góp phần là nguyên nhân của lạm phát, “khi vượt một điểm nào đó, chính việc đánh thuế là nguyên nhân của lạm phát” (Keynes).

Continue reading

RỦI RO CỦA VIỆC THAM GIA HỤI

imagePGS.TS. LÊ KHƯƠNG NINH – Đại học Cần Thơ & CAO VĂN HƠN – Cao đẳng Nghề An Giang

Hụi là hình thức tín dụng dân gian rất phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới vì giúp mang lại lợi ích thiết thực cho người tham gia thông qua việc tập hợp tiền nhàn rỗi không được sử dụng của nhiều cá nhân để cho một cá nhân nào đó sử dụng. Tuy nhiên, do hiện tượng thông tin bất đối xứng và hạn chế trong khả năng cưỡng chế của các thành viên với tư cách cá nhân nên việc tham gia hụi sẽ phát sinh rủi ro. Mục tiêu của bài viết là phân tích nguyên nhân xuất hiện rủi ro của việc tham gia hụi và xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro này để từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro nhằm biến hụi trở thành một hình thức tín dụng thực sự có ích cho những người có nhu cầu.

1. Giới thiệu

Theo các nhà nghiên cứu (như Calomiris và Rajaraman, 1998; Tanaka và Nguyen, 2008; Andersen, Baland và Moene, 2009; Ninh và Dương, 2011; Ninh và Hơn, 2012), hụi là loại hình tín dụng dân gian rất phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới. Để giải thích cho tính phổ biến đó, Besley, Coate và Loury (1993, 1994) đã xây dựng các mô hình lý thuyết kinh điển để chứng minh lợi ích của loại hình tín dụng này so với tự tiết kiệm và gửi ngân hàng; các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã kiểm chứng lợi ích của hụi bằng cách sử dụng số liệu thực tế ở cả nông thôn lẫn thành thị từ nhiều nước trên thế giới. Trên nguyên tắc, hụi giúp tập hợp tiền nhàn rỗi không được sử dụng của nhiều cá nhân riêng lẻ để chuyển sang cho người cần sử dụng nó ngay, qua đó làm tăng lợi ích cho các cá nhân đó. Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận là hụi tiềm ẩn rủi ro cao nhưng tự bản thân những người tham gia không thể kiểm soát được do hiện tượng thông tin bất đối xứng và hạn chế trong khả năng cưỡng chế lẫn nhau nếu chỉ với tư cách cá nhân. Do đó, hiện tượng “giựt” hụi xảy ra khá phổ biến, như ở nước ta trong thời gian gần đây, gây hoang mang cho nhiều người và làm hạn chế lợi ích của loại hình tín dụng này trong việc huy động lượng tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong dân chúng để phục vụ cho các hoạt động sinh lợi của nền kinh tế.

Hạn chế rủi ro để làm cho hụi trở thành một loại hình tín dụng thực sự hữu ích luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý kinh tế vĩ mô cũng như bản thân những người có nhu cầu tham gia hụi, nhưng, theo hiểu biết hạn hẹp của chúng tôi, ở nước ta lại có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Hạn chế rủi ro của việc tham gia hụi chỉ có thể làm được một khi hiểu rõ nguyên nhân xuất hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Chính vì vậy, bài viết này được hình thành với mục tiêu phân tích nguyên nhân xuất hiện rủi ro của việc tham gia hụi và xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro đó để tìm ra giải pháp hạn chế rủi ro nhằm biến hụi trở thành loại hình tín dụng thực sự hữu ích cho những người có nhu cầu.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VỀ THẨM QUYỀN CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC CÁC HỢP ĐỒNG CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG – Trưởng khoa Luật, Đại học Huế

Luật Công chứng được ban hành đã có sự tách bạch giữa công chứng và chứng thực, theo đó, thẩm quyền công chứng thuộc thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng, còn chứng thực được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân (UBND) theo Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhiều văn luật còn mâu thuẫn với nhau, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch. Có những trường hợp các bên xác lập giao dịch, hợp đồng không có công chứng, chứng thực dẫn đến hậu quả hợp đồng bị vô hiệu, tranh chấp kéo dài. Do vậy, cần hoàn thiện các quy định về công chứng hợp đồng liên quan đến bất động sản.

1. Cần phân định rõ giữa công chứng và chứng thực các hợp đồng có đối tượng là bất động sản

Quy định của Điều 2 Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực đã cố gắng miêu tả hoạt động công chứng và chứng thực, nhưng chỉ dựa vào tiêu chí chủ thể có thẩm quyền thực hiện nên chưa có sự phân định rõ ràng giữa hai hoạt động này1. Phòng công chứng và UBND (cấp huyện, một số trường hợp cấp xã) đều có quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch khác. Ngoài ra, phòng công chứng còn có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký… Do không có sự tách bạch giữa công chứng và chứng thực, nên trong thực tế, việc chứng nhận các bản sao giấy tờ, tài liệu do các phòng công chứng thực hiện vẫn khá phổ biến, trong khi đó, các hợp đồng, giao dịch (kể cả liên quan đến bất động sản) lại do UBND các cấp thực hiện.

Điều 11 Nghị định 181/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 quy định: “Hợp đồng hoặc giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn theo quy định sau: a. Đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; b. Đối với hộ gia đình, cá nhân thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất”. Rõ ràng Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định hướng dẫn thi hành vào thời điểm đó vẫn nhìn nhận phòng công chứng là cơ quan nhà nước, chứ chưa nhìn dưới góc độ xã hội hoá hoạt động này như hiện nay.

Continue reading

GIẢI PHÁP CHO “CĂN BỆNH” ĐỘC QUYỀN TẠI VIỆT NAM

 NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

Thị trường là nơi mọi người gặp gỡ, với một bên là những người bán, cung cấp, điều hòa các hàng hóa dịch vụ và bên kia là những người mua, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ ổn định, nhờ đó đã duy trì được cho nhà sản xuất và thị trường hoạt động. Cạnh tranh là một quy luật, là kết quả của nền kinh tế thị trường tự do gồm có nhiều doanh nghiệp của nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại để tranh dành cùng một lợi ích, mong mở rộng thị phần của mình trên một thị trường liên quan. Cạnh tranh là động lực của cải tiến và phát triển.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có sự tồn tại sự độc quyền, cũng như một số công ty độc quyền trong nền kinh tế thị trường, đó có thể là do, doanh nghiệp được nhà nước bảo hộ độc quyền về bí quyết kinh doanh, bằng sáng chế, hay là do doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm nào đó, hay cũng có thể là doanh nghiệp độc quyền là nhờ vào các quy định của pháp luật-doanh nghiệp được Chính phủ bảo hộ độc quyền. Cái giá mà xã hội phải trả cho độc quyền tồn tại là không nhỏ, các doanh nghiệp độc quyền thường đưa đến kết quả là mức giá cả cao hơn, số lượng sản xuất ra thấp hơn, làm cho người tiêu thụ sa sút hơn và doanh nghiệp độc quyền khấm khá hơn.

Tuy nhiên, sự tồn tại của độc quyền là không thể tránh khỏi, chúng ta nên bảo hộ và khuyến khích các doanh nghiệp độc quyền nhờ vào những phát minh, sáng chế mới làm phát triển khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng nên đặt dấu hỏi đối với các doanh nghiệp độc quyền nhờ vào sự bảo hộ của Chính phủ hay là sự độc quyền từ sự kiểm soát nguyên liệu đầu vào của việc sản xuất. Nhất là câu hỏi cho sự độc quyền của các công ty nhà nước.

Như đã biết, các công ty nhà nước thường không có động lực tìm kiếm lợi nhuận, chúng thiếu sự khích lệ mà những công ty ngoài quốc doanh thường có và phải có để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ mà những người tiêu thụ mong muốn và làm điều đó với mức chi phí thấp, để đạt một giá cả hợp lý. Một vấn đề nữa là các công ty nhà nước thường cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mà không có trách nhiệm trực tiếp với người tiêu thụ. Kết quả của điều này là sự phân phối tài nguyên không cân xứng. Các công ty nhà nước có khuynh hướng đáp ứng cho áp lực về chính trị hơn là cho thương mại. Việc thiếu áp lực về hiệu quả kinh tế trong công ty nhà nước thường sẽ dẫn đến kiềm chế sự đổi mới và phát triển của các sản phẩm và dịch vụ mà nó cung ứng.

Continue reading

VIỆT NAM CẦN THOÁT KHỎI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

“Việt Nam chấp nhận là nền kinh tế “phi thị trường” khi gia nhập WTO”. Đây là một cam kết mà Việt Nam đã chấp nhận khi gia nhập Tổ chức thương mại lớn nhất thế giới vào năm 2007”.

Công cuộc đổi mới và từng bước hội nhập của Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kể và khích lệ. Việt Nam đã từng bước hội nhập, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Là thành viên thứ 150, là nước đang và chậm phát triển nên khi gia nhập WTO nên được các ưu đãi của WTO khi gia nhập.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn chưa là nền kinh tế thị trường. Nó chưa tuân thủ hay đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cơ bản của nền kinh tế thị trường, là một nền kinh tế tự do, với cạnh tranh công bằng, cung cầu… Điều này được minh chứng trong cam kết chính về đa phương sau khi Viêt Nam gia nhập WTO: “Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm, tức là không muộn hơn ngày 31/12/2018”. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ phi thị trường đối với Việt Nam. Cam kết này là một ưu đãi lớn nhưng đồng thời cho thấy Viêt Nam đang ở đâu trong thế giới đa phương? và nền kinh tế Việt nam đã đạt được gì và ở đâu ở hiện tại.

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà lợi nhuận, tự do, tồn tại và diệt vong, bình đẳng và cạnh tranh, phát triển và bất ổn, cung và cầu…là những quy luật, những đặc tính cơ bản. Nhưng thử hỏi, tại sao Việt Nam lại chấp nhận là nền kinh tế “phi thị trường”, có phải Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường? tại sao lại như vậy trong gần 25 năm đổi mới? Có phải nhà nước quản lý quá sâu và quá nhiều vào nền kinh tế, kinh tế bị “bàn tay hữu hình bóp quá chặt”?

Để chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thì 3 yếu tố cơ bản thường thấy là: Sự ổn định, tự do hoá và tư nhân hoá.

Continue reading

NGHĨ VỀ GIẢI PHÁP CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Tác phẩm “Chiến lược đại đương xanh” (The Ocean Blue Strategy) của W.Chan Kim và Renee Mauborgne, cho các nhà kinh tế niềm tin rằng“những nhà tư bản (hay các doanh nhân) không kiếm được lợi nhuận bằng cách bóc lột sức lao động của người lao động, mà thay vào đó, các nhà tư bản tìm được lợi nhuận vì kết quả tiêu thụ, chấp nhận rủi ro và tổ chức sản xuất tốt”. Tổng hợp lại điều đó là, muốn thành công và có lợi nhuận trong kinh doanh thì cần có một chiến lược kinh doanh tốt với một giải pháp tối ưu.

Có phải thị trường bất động sản tại Việt Nam đã và đang tiếp tục bị “đóng băng”? Có phải khả năng thu lợi nhuận cũng như triển vọng tăng trưởng ngày càng giảm xuống trên thị trường này? Có phải người dân và các nhà kinh doanh không muốn tham gia vào thị trường đó? Điều này dường như đang tồn. Vậy có giải pháp nào để “vực dậy” một thị trường lớn, đầy niềm năng với tỷ suất lợi nhuận là rất lớn? Với “Chiến lược đại dương xanh” chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp toàn diện.

Một nguyên nhân của thực trạng thị trường bất động sản Việt Nam

Đối với nhiều người có thu nhập không cao-mà đây là những người chiếm phần lớn dân số Việt Nam-lo lắng là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định của họ có mua hay không mua nhà. Điều gì sẽ xảy ra khi mà một ngôi nhà trị giá 400 triệu đồng chỉ còn lại 300 triệu đồng? Và điều gì sẽ xảy ra tiếp khi nhiều người dùng nhà đó để vay thế chấp? Người mua nhà thường vay tới 80% giá mua, khi giá nhà giảm thì có lẽ họ sẽ mất hầu như toàn bộ. Giả sử như: một người mua căn nhà trị giá 400 triệu đồng và trả trước là 80 triệu, nợ thế chấp còn lại là 320 triệu. Nếu giá nhà giảm 25% thì người mua sẽ nợ thế chấp là 320 triệu cho một căn nhà giá 300 triệu. Như vậy, người mua không chỉ mất 80 triệu tiền trả trước mà còn lỗ 20 triệu. Và nếu thị trường bất động sản tiếp tục giảm thì sẽ ra sao cho người mua nhà và các nhà đầu tư nhà, đất?

Đó là một trong những lý do mà tại sao nguyên lý cung-cầu không phải lúc nào cũng đúng trên thì trường bất động sản. Thông thường, giá giảm thì nhu cầu tăng lên, nhưng với bất động sản, nếu thấy giá giảm, người mua sẽ lo rằng mình đang mua một căn nhà sẽ tiếp tục rớt giá. Như vậy, giảm giá có thể dẫn đến giảm cầu và do đó giá sẽ còn giảm nữa. Kết quả là một vòng luẩn quẩn đang tồn tại trong thị trường bất động sản tại Việt Nam.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

CHU THỊ THU HIỀN & THS. TRẦN MẠNH HÙNG

Về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức khác, trước khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời, tại Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định: “Khi xét xử vụ án dân sự, Toà án có quyền huỷ quyết định rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ án mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết”.

Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bãi bỏ quy định này. Sau 7 năm thực hiện Bộ Luật tố tụng dân sự, thực tế việc giải quyết vụ việc dân sự tại các Tòa án cho thấy nhiều trường hợp khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án xét thấy có các quyết định cá biệt của các cơ quan, tổ chức rõ ràng là trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án và đương sự có yêu cầu hủy bỏ quyết định đó; nhưng vì Bộ luật tố tụng dân sự không quy định thẩm quyền của Tòa án hủy quyết định cá biệt trong vụ án dân sự nên Tòa án không thể hủy các quyết định cá biệt này. Đương sự muốn Tòa án hủy quyết định cá biệt đó lại phải tiến hành các thủ tục để khởi kiện vụ án hành chính theo thủ tục tố tụng hành chính. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như gây tốn kém về thời gian và tiền của cũng như công sức đối với các đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, để khắc phục hạn chế này, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, nhà làm luật đã bổ sung Điều 32a quy định thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau:

“1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính”.

Continue reading

BÀN VỀ ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY HIỆN NAY

THS. HUỲNH KIM TRÍ – VietinBank Bắc Đà Nẵng

Dựa vào lý thuyết ngân hàng hiện đại về thẩm định cho vay theo nguyên tắc 6C và trải nghiệm nhiều năm làm công tác tín dụng, chúng tôi chia điều kiện cấp tín dụng có tài sản bảo đảm (TSBĐ) thành 2 nhóm:

– Nhóm điều kiện cần là khách hàng cũng như phương án vay đã được Ngân hàng cho vay (NHCV) thẩm định và đánh giá là đáp ứng được các điều kiện về: tính cách người vay (Character); năng lực tài chính, khả năng trả nợ (Capacity); dòng tiền (Cash Flow); điều kiện môi trường (Conditions).

– Nhóm điều kiện đủ gồm tài sản thế chấp món vay (Collateral) và sự kiểm soát (Control).

Sở dĩ chúng tôi chia thành 2 nhóm: điều kiện cần, điều kiện đủ vì theo logic thì các điều kiện cần là điều kiện tiên quyết để xét duyệt món vay. Nhóm điều kiện đủ là các điều kiện bổ sung, đảm bảo quá trình kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, là bảo đảm bằng tài sản để thu hồi nợ vay khi có rủi ro bất khả kháng mà không còn nguồn trả nợ.

Có nghĩa là khi thẩm định xem xét cho vay, về nguyên tắc, các NHCV đều phải thẩm định, đánh giá đầy đủ các yếu tố chủ quan, nội tại của khách hàng như: năng lực pháp luật, năng lực hành vi, phương án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, hiệu quả sinh lời, các hệ số đòn bẩy, tài chính, đánh giá tính ổn định cũng như dự lường các rủi ro từ thị trường đầu vào – ra của phương án vay, thẩm định và kiểm soát được dòng tiền, thẩm định tính hiện thực của nguồn trả nợ, dòng tiền thu hồi để trả nợ… Khi xác định và yên tâm rằng khách hàng vay đáp ứng đủ các điều kiện cần trên thì đã có thể xem xét cấp tín dụng. Còn biện pháp kiểm soát, TSBĐ là điều kiện bổ sung.

Lý thuyết là vậy, còn về đạo lý thì bất kỳ NHCV nào cũng muốn thẩm định kỹ khách hàng vay và mong muốn khách hàng vay làm ăn có lãi để trả nợ vay cả gốc lẫn lãi chứ không trông mong vào việc xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ. Nếu NHCV chỉ quan tâm đến TSBĐ mà coi nhẹ việc thẩm định các điều kiện cấp tín dụng thì chẳng khác nào biến Ngân hàng thành “tiệm cầm đồ”.

Continue reading