BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT GIA NHẬP HỘI NGHỊ LA HAY VỀ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ – BỘ TƯ PHÁP

Phần thứ nhất: Đánh giá tổng quát thực trạng tình hình ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự từ trước tới nay và tác động về mặt kinh tế xã hội và vai trò của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

1.1. Tình hình ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự từ trước tới nay

1.1.1.Tình hình ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Trước khi Luật Tương trợ tư pháp 2007 được ban hành

Từ năm 1980 đến năm 2007, trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Việt Nam đã ký được 15 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự với nước ngoài, chủ yếu là các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây (tới nay, Hiệp định ký với CHDC Đức đã hết hiệu lực).

Cụ thể là, trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước.[1]

Nội dung của các Hiệp định được ký trong hai giai đoạn này về cơ bản là giống nhau. Các Hiệp định này đều điều chỉnh một cách tổng thể hai mảng quan hệ, đó là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và phương pháp thống nhất các quy tắc lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các xung đột pháp luật và quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự, trong một số Hiệp định còn giải quyết cả vấn đề dẫn độ hoặc chuyển giao người bị kết án phạt tù.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1993-2007, chỉ có những Hiệp định ký kết với nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây thì nội dung, phạm vi và hình thức Hiệp định không khác nhiều so với các Hiệp định mà Việt Nam đã ký trong giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, đã xuất hiện một xu thế mới, đó là nội dung của một số Hiệp định cũng không còn rộng và tương tự như nội dung của các Hiệp định đã ký trong giai đoạn đầy tiên. Cụ thể là, các Hiệp định mà Việt Nam đã ký với Pháp và Trung Quốc có phạm vi nội dung đơn giản hơn, chỉ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp tác tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp của hai nước mà không quy định về vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các xung đột pháp luật và quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp. Đây cũng là xu thế ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại giữa các nước trong giai đoạn tiếp theo.

Continue reading

BÁO CÁO 2010 CỦA CÁC THAM TÁN THƯƠNG MẠI EU VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM (Xuất bản năm 2011)

1. TỔNG QUAN CHUNG

THÀNH TỰU KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2009 VÀ QUÝ I NĂM 2010

Giới thiệu

Năm 2009, Việt Nam đã bước đầu thành công trong việc khắc phục những khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tác động tiêu cực của khủng hoảng mặc dù đã được giảm thiểu một phần bởi sự can thiệp thích hợp của Chính phủ, sẽ còn tiếp tục diễn ra vào năm 2010. Sự bất cân đối của tài khoản quốc gia, lạm phát tái diễn, và thâm hụt thương mại lớn là những thách thức lớn mà đất nước phải đối mặt trong năm 2009 và đầu năm 2010. Cuộc khủng hoảng đã làm bộc lộ những điểm yếu của nền kinh tế và nhu cầu tái cấu trúc nhanh tạo ra sự tăng trưởng bền vững và nâng cao tính cạnh tranh. Sự cải tiến có thể được nhìn thấy trong các ngành công nghiệp và khu vực nhưng cải cách trên diện rộng của nền kinh tế, có sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước (SOEs), chưa diễn ra như mong đợi.

Tăng trưởng

Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tới Việt Nam muộn hơn so với các nước khác trong khu vực. Mặc dù chính phủ đã có chính sách hạn chế ảnh hưởng, tuy nhiên, tác động này vẫn rất lớn và nhiều ý kiến cho rằng ảnh hưởng sẽ còn kéo dài hơn nữa. Chính phủ đã có những đóng góp rất lớn cho tăng trưởng GDP đạt mức 5,32% thông qua việc áp dụng các biện pháp chi tiêu công và biện pháp kích cầu mạnh mẽ. Kết quả này, mặc dù thấp hơn 0,86% so với năm 2008 nhưng vẫn giúp Việt Nam lọt vào danh sách những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực. Xu hướng của năm 2009 đã nối tiếp sang Quý 1 năm 2010, với mức tăng trưởng 5,83% mặc dù có gián đoạn sản suất công nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán.

Năm 2009, lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng đạt mức 6,63% trở thành ngành dẫn đầu của nền kinh tế trong khi sản xuất và chế biến lâm-thủy sản tăng trưởng lần lượt đạt 5,52% và 1,83%. Trong lĩnh vực sản xuất, sản xuất công nghiệp bị tác động mạnh mẽ do sự sụt giảm nhu cầu bên ngoài, trong khi đó lĩnh vực xây dựng lại tăng trưởng đạt 11,4%, bởi cho vay nhiều hơn, chi phí giảm và có nhiều dự án của Chính phủ về cơ sở hạ tầng. Khu vực dịch vụ đã phục hồi vào cuối năm 2009 sau khi phát triển chậm chạp hồi đầu năm do sự bất ổn định của tiêu dùng trong và ngoài nước. Ưu thế của khu vực dịch vụ và sản xuất vẫn giữ vững trong Quý 1 năm 2010, với mức tăng trưởng của dịch vụ là 6,64%, sản xuất 5,65% và chế biến lâm-thủy sản 3,45%.

Continue reading