PHIẾU ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN CÓ LỢI ÍCH GÌ?

DAVID PICKUS – Trường ưu tú Barrett, thuộc Đại học Bang Arizona

Giống như nhiều hoạt động trong thế giới kết nối toàn cầu ngày nay, các phiếu đánh giá của sinh viên – những bản đánh giá giấu tên của sinh viên khi kết thúc mỗi khóa học để làm căn cứ thẩm định chất lượng giảng dạy của các giáo viên – vốn xuất xứ từ Mỹ, nay đã phổ biến ở nhiều trường đại học trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chúng có những ưu điểm nhất định nhưng cũng không ít nhược điểm.

Phiếu đánh giá của sinh viên là gì? Câu hỏi này không thể trả lời chính xác, vì người ta không thống nhất một khuôn mẫu chung cho bản đánh giá, và càng không thống nhất về cách thức đánh giá. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi không có một chuẩn mực chung cho phiếu đánh giá của sinh viên. Thay vào đó, các trường, khoa, tự tạo ra mẫu phiếu đánh giá riêng và yêu cầu các giảng viên phân phát cho sinh viên trước khi kết thúc mỗi khóa học.

Tuy nhiên, các phiếu đánh giá tại các trường ở Mỹ có những đặc thù chung dễ thấy, với hai cấu phần căn bản. Thứ nhất, một phiếu chấm điểm trong đó sinh viên được đề nghị chấm điểm chất lượng cho lớp học và giảng viên một cách định lượng. Cách thức tiến hành thường đơn giản chỉ là đánh dấu các ô trống. Thứ hai, một phần để trống dành cho nhận xét của sinh viên, nơi sinh viên có thể đánh giá lại, qua một tới hai khổ ngắn, về kinh nghiệm của mình đối với lớp học. Ngoại trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, sinh viên thường không phải ký tên, và người ta cố gắng giữ danh tính người đánh giá được bí mật.

Vì sao lại có những đặc điểm chung này? Câu trả lời thường không rõ ràng. Trong thực tế, người ta có thể nói những điều đại khái như “chúng ta luôn làm như vậy”, hay là “như thế giúp cung cấp kết quả chính xác nhất”. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, không phải ngẫu nhiên mà các phiếu đánh giá của sinh viên trên khắp nước Mỹ có sự tương đồng. Nguyên nhân là, một cách vô thức, các đại học đã áp dụng các kỹ thuật người ta vẫn dùng cho việc nghiên cứu thị trường, và các kỹ thuật phân tích quan điểm công chúng.

Continue reading

TÀI SẢN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỀU NGHĨA VỤ: ƯU TIÊN THANH TOÁN CHO AI?

VŨ HỒNG

Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể cùng nhận một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là một vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm của các ngân hàng thời gian qua.

Được coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng dường như vấn đề nêu trên chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và toàn diện.

Giấy tờ gốc hay thời điểm đăng ký quan trọng hơn?

Đầu tháng 7/2010, tòa án nhân dân tỉnh P thụ lý một vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh Ngân hàng X (dưới đây gọi tắt là X) và Chi nhánh Ngân hàng Y (dưới đây gọi tắt là Y) xoay quanh việc X nhận thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay của Công ty TNHH A và sau đó Công ty TNHH A lại dùng tài sản hình thành từ vốn vay đó thế chấp tại Y để vay vốn. A mất khả năng thanh toán, làm nảy sinh vấn đề xử lý tài sản thế chấp. Theo bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 09/7/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh P thì Y được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì đã “xuất trình toàn bộ các giấy tờ gốc của tài sản”, còn X không được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế chấp vì “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản thế chấp”.

X không “tâm phục khẩu phục”, vì họ đã đăng ký giao dịch bảo đảm trước Y tới hơn 1 năm, cùng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản giữa A và X có thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm 2006; trong khi việc đăng ký thế chấp tài sản giữa A và Y có thời điểm đăng ký là 15h21’ ngày 4 tháng 6 năm 2007).

Tra lại các quy định của pháp luật hiện hành về thời điểm đăng ký, thứ tự ưu tiên thanh toán và căn cứ xác định thứ tự ưu tiên thanh toán thì “một tài sản có thể bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (khoản 1, Điều 324 BLDS 2005).

Continue reading

VẬT QUYỀN BẢO ĐẢM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH PHÁP LUẬT DÂN SỰ Ở NƯỚC TA

HỒ QUANG HUY – Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Nghiên cứu, hoàn thiện chế định về vật quyền bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong cải cách pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại ở nước ta, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020.

1. Lý thuyết về vật quyền bảo đảm

Vật quyền bảo đảm là một khái niệm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law), được dùng để chỉ quyền trực tiếp và ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên một tài sản. Quan hệ vật quyền bảo đảm được xác lập trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu tố: (i) chủ thể của quyền (con người) và (ii) đối tượng của quyền (tài sản). Theo đó, quan hệ vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể có quyền “áp đặt” quyền của mình lên tài sản, mà không cần đến sự đồng ý hoặc không đồng ý của chủ thể khác. Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa vật quyền bảo đảm nói riêng và vật quyền nói chung với quan hệ trái quyền (trong quan hệ trái quyền thì quyền của chủ thế này, đồng thời là nghĩa vụ của chủ thể khác). Với cách tiếp cận nêu trên, chúng ta nhận thấy vật quyền bảo đảm có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất, về khía cạnh kỹ thuật lập pháp thì vật quyền bảo đảm phải được quy định trong văn bản Luật. Đây không chỉ là nguyên tắc đơn thuần xuất phát từ kỹ thuật lập pháp, mà “đường sau” nguyên tắc này là một triết lý đã được pháp luật nhiều nước thừa nhận, đó là: Do vật quyền bảo đảm “chống” lại các quyền của chủ thể khác, trong đó có quyền của chủ sở hữu tài sản nên để bảo vệ quyền sở hữu, hạn chế sự “tùy tiện” của các bên trong thỏa thuận áp dụng vật quyền bảo đảm thì những loại quyền nào được xác định là vật quyền bảo đảm phải được Nghị viện (Quốc hội) thông qua trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất (văn bản Luật). Như vậy, nếu như tự do thỏa thuận, thể hiện ý chí là nguyên tắc áp dụng trong các quan hệ trái quyền, thì vật quyền bảo đảm lại được “hạn chế” bởi các quy định của pháp luật.

Thứ hai, vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác (tạm gọi là quyền theo đuổi). Như vậy, giống như các vật quyền khác, vật quyền bảo đảm cho phép người có quyền đối vật được phép thực hiện quyền của mình trên vật bất kể vật đang nằm trong tay ai. Ví dụ: Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu người mua, người nhận tặng cho tài sản thế chấp… phải giao tài sản cho mình để xử lý thu hồi nợ. Nguyên tắc này không chỉ bảo vệ người có quyền đối vật, mà còn khuyến khích tài sản bảo đảm tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, cũng như xác định cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của người mua, người nhận tặng cho tài sản…

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ VƯỢT QUÁ PHẠM VI YÊU CẦU KHỞI KIỆN BAN ĐẦU TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

TRẦN ĐỨC LONG – Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

I. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự:

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc mang tính bắt buộc và rất quan trọng, được áp dụng xuyên suốt từ khi Tòa án thụ lý đến khi giải quyết xong vụ án. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 BLTTDS: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự… Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.

Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định cụ thể tại Điều 58, 59 60,61 BLTTDS, trong đó quy định: Đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS : "Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu". Như vậy, hiểu như thế nào là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu? đây là vướng mắc hiện nay còn nhiều quan điểm, chưa thống nhất.

Tại điểm 6 mục III Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai thủ tục giải quyết các vụ án tại tòa cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự “Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: KHÔNG CÓ LỖI, BẢO HIỂM CŨNG PHẢI BỒI THƯỜNG

HOÀNG YẾN

Bảo hiểm lãnh trách nhiệm vì hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên ghi rõ thiệt hại phát sinh dù người được bảo hiểm có lỗi cố ý hay vô ý cũng được bồi thường.

Ngày 27-12, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã y án sơ thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai, buộc Công ty Bảo hiểm X. phải bồi thường cho Công ty Bảo vệ Y. 97 triệu đồng…

Bảo vệ làm mất xe

Theo hồ sơ, tháng 3-2009, Công ty Bảo vệ Y. ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (những trách nhiệm phát sinh mà công ty bảo vệ phải bồi thường cho khách hàng của mình do những lỗi, sơ suất về chuyên môn) với Công ty Bảo hiểm X. Một thời gian sau, Công ty Y. để trộm vào lấy mất chiếc xe SH của một khách hàng và phải bồi thường hơn 97 triệu đồng. Sau đó căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm, Công ty Y. yêu cầu Công ty X. phải hoàn lại cho mình số tiền trên.

Phía công ty bảo hiểm từ chối với lý do sự cố trên không thuộc phạm vi bảo hiểm, việc mất xe là do lỗi của công ty bảo vệ. Bởi công ty bảo vệ giữ xe của khách nhưng không giao thẻ; khi mất xe, nhân viên bảo vệ không có mặt tại hiện trường… Theo hợp đồng, công ty bảo hiểm chỉ phải bồi thường nếu công ty bảo vệ có giao thẻ xe cho khách hàng.

Không đồng ý với cách lập luận trên, tháng 8-2010, Công ty Bảo vệ Y. khởi kiện ra TAND tỉnh Đồng Nai đòi được bồi thường.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: LÀM MỘT BỘ PHIM, BỊ HAI NƠI KIỆN

THANH TÙNG

Người thì kiện đòi nhà sản xuất trả tiền cung ứng diễn viên, người thì kiện đòi trả tiền quay phim còn nợ… Anh chàng vượt thời gian từng gây ồn ào.

TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý vụ ca sĩ, diễn viên Minh Thuận kiện yêu cầu Công ty Năng Động Việt trả hơn 380 triệu đồng theo hợp đồng ký giữa hai bên để cung ứng diễn viên cho bộ phim Anh chàng vượt thời gian.

Thay ngựa giữa đường

Theo đơn kiện của ca sĩ Minh Thuận, tháng 7-2010, công ty của ông ký hợp đồng (trị giá hơn 1,6 tỉ đồng) cung ứng diễn viên cho Năng Động Việt để làm bộ phim truyền hình dài 36 tập Anh chàng vượt thời gian. Sau đó, Năng Động Việt chỉ thanh toán cho ông được 320 triệu đồng. Đến hạn của những lần thanh toán tiếp theo thì Năng Động Việt liên tục nại ra các lý do để lần lữa.

Tháng 1-2011, Năng Động Việt gửi văn bản cho Minh Thuận thông báo thay đổi pháp nhân sở hữu dự án phim Anh chàng vượt thời gian cho Công ty Cổ phần Tiếp thị Năng Động Việt (tách ra từ Năng Động Việt). Cho rằng Năng Động Việt cố tình vi phạm hợp đồng, Minh Thuận gửi yêu cầu quyết toán chi phí thực tế để thanh lý hợp đồng và yêu cầu bồi thường nhưng từ đó đến nay Năng Động Việt không phản hồi gì. Do đó, Minh Thuận đã khởi kiện đòi Năng Động Việt phải trả hơn 300 triệu đồng tiền dịch vụ cung ứng diễn viên còn thiếu và phạt vi phạm hợp đồng 80 triệu đồng, tổng cộng hơn 380 triệu đồng.

Hợp đồng có vô hiệu?

Quá trình tòa giải quyết vụ kiện đã nảy sinh nhiều tình tiết mới. Khi tòa lấy lời khai, bị đơn đã yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng dịch vụ cung ứng diễn viên giữa hai bên vô hiệu. Lý do là công ty của Minh Thuận không có chức năng cung ứng lao động theo giấy phép của cơ quan chức năng. Khi ký hợp đồng, bị đơn không phát hiện ra chuyện này vì nguyên đơn cố tình che giấu.

Continue reading

TỪ NGỮ VÀ LUẬT PHÁP

CHU MẠNH QUÂN

Bài viết này bàn về một số thuật ngữ trong pháp luật kinh doanh dựa vào ý kiến của một số chuyên gia, luật sư tại các hội thảo liên quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện.

Về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”

Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.

Theo đó, có thể hiểu chỉ cần có 1% vốn nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Cách hiểu như vậy có lẽ chỉ gây rắc rối với những doanh nghiệp kinh doanh có ngành nghề trong danh mục hạn chế nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) như trường hợp Mekophar (vốn nước ngoài chiếm gần 5%). Tuy nhiên, nó lại là một cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước khác khi Nhà nước đã bảo hộ họ khỏi những đối thủ nước ngoài.

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng: “Doanh nghiệp tham gia phân phối dược phẩm lẽ ra không được niêm yết. Nếu cho niêm yết, phải có chính sách riêng về room ngoại”. Như vậy, không chỉ doanh nghiệp niêm yết mà cả doanh nghiệp chưa niêm yết cũng phải cân nhắc khi cho NĐTNN góp vốn, mua cổ phần. Giải pháp đưa ra là Nhà nước có thể mở room cho NĐTNN vào những doanh nghiệp này nhưng mức tỷ lệ chắc chắn phải thấp hơn rất nhiều mức 49% như một số ý kiến đề xuất, vì thực tế với tỷ lệ này NĐTNN hoàn toàn có thể thông qua nhiều cách thức khác nhau để chi phối doanh nghiệp, chi phối thị trường.

Một vấn đề khác liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài là quy định về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong Luật Đầu tư thì hình thức góp vốn, mua cổ phần có thể là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp tùy thuộc vào việc nhà đầu tư có tham gia quản lý doanh nghiệp hay không. Trong khi đó, NĐTNN đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán (Luật Chứng khoán điều chỉnh) hoàn toàn có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp, việc có tham gia quản lý hay không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn. Do đó, phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua quyền tham gia quản lý là không chính xác và luật cũng không giải thích rõ thế nào là tham gia quản lý?

Continue reading

LỰA CHỌN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

GS.TS. LƯU VĂN SÙNG – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Lịch sử phát triển các mô hình kinh tế cho thấy, nhân loại đã trải qua hai lần thất bại: Thất bại của thị trường tự do tư bản thiếu sự quản lý, điều tiết của nhà nước vào thế kỷ XVIII – XIX; và thất bại của nhà nước phi thị trường (mô hình Xô-viết trong thế kỷ XX). Để khắc phục hai sự thất bại ấy đã ra đời ba loại hình kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường tự do (ở Tây Âu và Bắc Mỹ);  kinh tế thị trường xã hội (Đức và các nước Bắc Âu); kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc) và định hướng xã hội chủ nghĩa (Việt Nam).

Sự lựa chọn mô hình phát triển không chỉ do yêu cầu khách quan của kinh tế, mà còn bị quy định bởi chế độ chính trị – xã hội và những điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc. Phân tích tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường và các loại hình kinh tế thị trường đặt trong điều kiện lịch sử nước ta cho thấy, việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với điều kiện hiện nay.

Tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường

Trước đây, thường có quan niệm rằng kinh tế thị trường là riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nhưng theo quan điểm của C.Mác, sự phát triển xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên, con người không thể dùng sắc luật để bỏ qua một giai đoạn phát triển của xã hội, kinh tế thị trường là một giai đoạn tất yếu của lịch sử mà nền kinh tế nào cũng phải trải qua; phải phát triển đầy đủ nền kinh tế thị trường thì mới đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường tiến hóa. Nấc thang cao hơn đó là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Như vậy, nền kinh tế thị trường được C.Mác xác định là một nấc thang tất yếu, phổ biến trên con đường phát triển của tất cả các quốc gia dân tộc. Kinh tế thị trường được thừa nhận là thành tựu chung của văn minh nhân loại, không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mặc dù nó ra đời gắn với chủ nghĩa tư bản và được phát triển đầy đủ dưới chủ nghĩa tư bản. Tính phổ biến của  kinh tế thị trường thể hiện ở cấu trúc khung chung cho mọi nền kinh tế thị trường. Những yếu tố cơ bản quy định kinh tế thị trường, cũng là những yếu tố của cấu trúc kinh tế thị trường, bao gồm 5 yếu tố sau:

Thứ nhất, chủ thể của kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Về nguyên tắc, nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc này, sở hữu tư nhân luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc.

Continue reading

BÀi giảng bậc đại học HAY HÀNH TRÌNH SUY NGẪM

NGUYỄN THỊ TỪ HUY

Bài giảng là kết quả của hoạt động tư duy, của sự suy nghĩ cá nhân, là đóng góp riêng của giảng viên; chứ không chỉ là kết quả của một sự tóm lược hay giới thiệu các tác giả khác.

Bài viết phân tích một số điểm trong cuốn sách “Justice: what’s Right Thing to do?” để xác định đặc điểm của một dạng bài giảng phổ biến ở đại học Phương Tây, thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đồng thời, tác giả cũng liên hệ, đối chiếu với quan niệm về bài giảng ở đại học Việt Nam, trong lĩnh vực này.

Hành trình suy ngẫm

Trước mắt tôi là bản dịch tiếng việt của cuốn “Justice: what’s the Right Thing to do?”1. Nội dung cuốn sách là bài giảng2 của Michael Sandel, Giáo sư ĐH Harvard. Tôi dựa vào việc phân tích vài điểm trong cuốn sách này để trả lời câu hỏi: bài giảng ở bậc đại học (ngành khoa học xã hội và nhân văn) là gì?3

Chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ đoạn xác định mục tiêu này của Michael Sandel để làm rõ một số đặc điểm của một dạng bài giảng ở bậc đại học:

Aristotle, Immanuel Kant, John Stuart Mill, John Rawls4sẽ xuất hiện trong quyển sách này. Nhưng thứ tự họ xuất hiện không phải theo thời gian. Cuốn sách này không phải giới thiệu lịch sử tư tưởng mà là cuộc hành trình suy ngẫm đạo đức và chính trị. Quyển sách không cố gắng chứng minh triết gia nào ảnh hưởng tới triết gia nào trong lịch sử tư tưởng chính trị, mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy.5

Chúng ta thấy gì ở đây?

Trước hết, bài giảng là một vấn đề khoa học, ở đây là vấn đề công lý (justice). Và đó là một “hành trình suy ngẫm” (cụ thể trong bài này là suy ngẫm về đạo đức và chính trị) của người giảng viên, Michael Sandel.

Continue reading

BÀI GIẢNG BẬC ĐẠI HỌC HAY HÀNH TRÌNH SUY NGẪM

NGUYỄN THỊ TỪ HUY

Bài giảng là kết quả của hoạt động tư duy, của sự suy nghĩ cá nhân, là đóng góp riêng của giảng viên; chứ không chỉ là kết quả của một sự tóm lược hay giới thiệu các tác giả khác.

Bài viết phân tích một số điểm trong cuốn sách “Justice: what’s Right Thing to do?” để xác định đặc điểm của một dạng bài giảng phổ biến ở đại học Phương Tây, thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn. Đồng thời, tác giả cũng liên hệ, đối chiếu với quan niệm về bài giảng ở đại học Việt Nam, trong lĩnh vực này.

Hành trình suy ngẫm

Trước mắt tôi là bản dịch tiếng việt của cuốn “Justice: what’s the Right Thing to do?"1. Nội dung cuốn sách là bài giảng2 của Michael Sandel, Giáo sư ĐH Harvard. Tôi dựa vào việc phân tích vài điểm trong cuốn sách này để trả lời câu hỏi: bài giảng ở bậc đại học (ngành khoa học xã hội và nhân văn) là gì?3

Chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ đoạn xác định mục tiêu này của Michael Sandel để làm rõ một số đặc điểm của một dạng bài giảng ở bậc đại học:

Aristotle, Immanuel Kant, John Stuart Mill, John Rawls4sẽ xuất hiện trong quyển sách này. Nhưng thứ tự họ xuất hiện không phải theo thời gian. Cuốn sách này không phải giới thiệu lịch sử tư tưởng mà là cuộc hành trình suy ngẫm đạo đức và chính trị. Quyển sách không cố gắng chứng minh triết gia nào ảnh hưởng tới triết gia nào trong lịch sử tư tưởng chính trị, mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy.5

Chúng ta thấy gì ở đây?

Trước hết, bài giảng là một vấn đề khoa học, ở đây là vấn đề công lý (justice). Và đó là một “hành trình suy ngẫm” (cụ thể trong bài này là suy ngẫm về đạo đức và chính trị) của người giảng viên, Michael Sandel.

Continue reading

CHẾ ĐỊNH SỞ HỮU ĐẤT ĐAI QUA CÁC THỜI KỲ và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Nó không phải là hàng hóa thông thường mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống. Theo pháp luật nước ta, Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (SHTD). Nhà nước chiếm hữu đất đai thông qua các hoạt động địa chính: điều tra khảo sát, đánh giá, phân loại đất, lập bản đồ địa chính. Nhà nước định đoạt đất đai thông qua các quyết định hành chính như:

giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ), gia hạn QSDĐ, quy định hạn mức sử dụng đất, xác định khung giá các loại đất. Nhà nước sử dụng đất gián tiếp thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hay chuyển mục đích sử dụng đất. Nhà nước thu thuế sử dụng đất, thuế chuyển QSDĐ, phí và lệ phí, thu tiền sử dụng đất. Người sử dụng đất (NSDĐ) chiếm hữu trực tiếp đất đai, trực tiếp khai thác các nguồn lợi từ đất. NSDĐ được định đoạt hạn chế về QSDĐ, được tặng, cho, để lại thừa kế, cho thuê, cho thuê lại đất đai.

Việc xây dựng và cụ thể hóa chế định SHTD về đất đai đã được quy định trong các văn bản pháp luật, nhưng chưa có sự thống nhất. Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định “đất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước (SHNN)”, còn tại Điều 17, Điều 18 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 đều quy định “đất đai thuộc SHTD”. Sự bất cập này cần phải được làm rõ trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai.

1. Chế định sở hữu đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ

1.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến giai đoạn có Luật Đất đai 1987

Từ bản Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, Đảng ta đã nhận định “Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm Cách mạng thổ địa được thắng lợi”. Xuất phát từ nhận định đúng đắn này, Đảng ta đã giương cao khẩu hiệu “Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội, giao ruộng ấy cho trung và bần nông”. Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định “Quyền sở hữu (QSH) ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.

Continue reading

CHẾ ĐỊNH SỞ HỮU ĐẤT ĐAI QUA CÁC THỜI KỲ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luât, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Nó không phải là hàng hóa thông thường mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống. Theo pháp luật nước ta, Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (SHTD). Nhà nước chiếm hữu đất đai thông qua các hoạt động địa chính: điều tra khảo sát, đánh giá, phân loại đất, lập bản đồ địa chính. Nhà nước định đoạt đất đai thông qua các quyết định hành chính như:

giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ), gia hạn QSDĐ, quy định hạn mức sử dụng đất, xác định khung giá các loại đất. Nhà nước sử dụng đất gián tiếp thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hay chuyển mục đích sử dụng đất. Nhà nước thu thuế sử dụng đất, thuế chuyển QSDĐ, phí và lệ phí, thu tiền sử dụng đất. Người sử dụng đất (NSDĐ) chiếm hữu trực tiếp đất đai, trực tiếp khai thác các nguồn lợi từ đất. NSDĐ được định đoạt hạn chế về QSDĐ, được tặng, cho, để lại thừa kế, cho thuê, cho thuê lại đất đai.

Việc xây dựng và cụ thể hóa chế định SHTD về đất đai đã được quy định trong các văn bản pháp luật, nhưng chưa có sự thống nhất. Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định “đất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước (SHNN)”, còn tại Điều 17, Điều 18 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 đều quy định “đất đai thuộc SHTD”. Sự bất cập này cần phải được làm rõ trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai.

1. Chế định sở hữu đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ

1.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến giai đoạn có Luật Đất đai 1987

Từ bản Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, Đảng ta đã nhận định “Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm Cách mạng thổ địa được thắng lợi”. Xuất phát từ nhận định đúng đắn này, Đảng ta đã giương cao khẩu hiệu “Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội, giao ruộng ấy cho trung và bần nông”. Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định “Quyền sở hữu (QSH) ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.

Continue reading