MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ CÁCH TÍNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH

Theo quy định tại Điều 159 BLTTDS được sửa đổi bổ sung năm 2011 thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nếu thời hạn đó đã hết thì đương sự mất quyền khởi kiện. Đối với thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có quan hệ pháp luật tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại chương XXI của BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. (Đ607 BLDS, tiểu mục 6, mục I Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08/7/ 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục IV Nghị quyết 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao thì ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được xác định là ngày xảy ra hành vi vi phạm gây thiệt hại về  tài sản, tính mạng, sức khoẻ …

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số vướng mắc về xác định thời hiệu khởi kiện khi Toà án thụ lý vụ án dân sự có quan hệ đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra hành vi vi phạm hay tính từ thời điểm có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết.

Trong vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (bồi thường về sứckhoẻ, tài sản) thì thời hiệu khởi kiện tính như thế nào? được tính từ khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm hay từ khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đối với những vụ án hình sự có liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại nhưng không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, không ảnh hưởng đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo ( theo hướng dẫn tại công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự), thì được tách thành vụ kiện dân sự khác, như vậy khi đương sự khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện được tính như thế nào? tính từ ngày xảy ra hành vi gây thiệt hại hay tính từ khi có quyết định tách vụ án, hoặc tính từ thời điểm bản án hình sự có hiệu lực pháp luật.

Continue reading

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG CHO HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Hợp đồng dân sự (HĐDS) có yếu tố nước ngoài (YTNN) là HĐDS có chủ thể nước ngoài tham gia; căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài; tài sản liên quan đến hợp đồng nằm ở nước ngoài. Chính YTNN dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng. Từ đó, việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng cũng như để bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn đề này, một trong những nguyên tắc quan trọng được pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế (ĐƯQT) ghi nhận là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng, pháp luật các nước đều thừa nhận luật áp dụng cho nội dung HĐDS có YTNN trước tiên là luật do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận lựa chọn. Dĩ nhiên, sự lựa chọn này phải đáp ứng những điều kiện do chính hệ thống pháp luật đó đặt ra. Nhìn vào các HĐDS có YTNN, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế chúng ta thấy ngoài những nội dung cơ bản được ghi nhận tương tự với HĐDS trong nước như chủ thể, đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên… còn xuất hiện điều khoản luật áp dụng (applicable law). Vận dụng nguyên tắc này, pháp luật Việt Nam đã quy định quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho HĐDS có YTNN trong nhiều văn bản pháp luật: Bộ luật Hàng hải năm 2005 (khoản 2 Điều 4); Luật Thương mại 2005 (khoản 2, khoản 3 Điều 4); Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (khoản 2, khoản 3 Điều 4). Đặc biệt, đoạn 1 khoản 1 Điều 769 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định rõ: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cơ sở đầu tiên để xác định luật áp dụng cho quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ hợp đồng.

Tuy nhiên, để có thể áp dụng điều khoản thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng, có hai vấn đề cần phải làm rõ là sự thỏa thuận lựa chọn luật này phải đáp ứng những điều kiện gì mới trở thành hợp pháp và căn cứ vào luật pháp nước nào để xác định những điều kiện này?

Trả lời câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc xác định rõ phạm vi những vấn đề trong hợp đồng mà pháp luật cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng. Tư pháp quốc tế các nước trên thế giới đều xác định phạm vi những vấn đề mà các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và như vậy, những vấn đề khác các bên không được phép thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật bắt buộc áp dụng cho HĐDS có YTNN đó. Như vậy, điều kiện thứ nhất để thỏa thuận chọn luật hợp pháp là sự lựa chọn phải nằm trong phạm vi mà pháp luật cho phép lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Cụ thể, khoản 1 Điều 769 BLDS năm 2005 chỉ cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; còn đối với vấn đề hình thức hợp đồng, các bên không được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng (Điều 770); hoặc vấn đề xác định nơi giao kết hợp đồng trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 771).

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ “SỞ HỮU TOÀN DÂN”

VŨ QUANG VIỆT

Tôi rất đồng ý với GS. Võ Tòng Xuân về việc đặt lại quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai, tài nguyên, và rừng biển (bài Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào vấn đề đất đai – TBKTSG số ra ngày 9-2-2012). Đây là điều tôi cũng suy nghĩ từ lâu nay nhân dịp này xin trao đổi những suy nghĩ sơ lược dưới đây. Những điều này cần được nhiều người cùng phân tích sâu hơn.

Ở Việt Nam, khái niệm sở hữu toàn dân trong Luật Đất đai đặt ra một số vấn đề:           

1. Luật Đất đai Việt Nam chủ yếu hạn chế quyền tư hữu về ruộng đất đối với nông dân. Trừ đất ở, đất đai không thuộc về công dân. Trong khi mọi tài sản khác đều có chủ và quyền sở hữu được luật pháp bảo vệ. Như thế Luật Đất đai đã tước đoạt quyền sở hữu của cải của nhân dân, đặc biệt là nông dân. Ở bất cứ nước nào, của cải lớn nhất của dân là đất nhưng ở Việt Nam thì không thể. Nông dân chỉ có thể là người nghèo hoặc thoát nghèo chứ không bao giờ vươn lên làm giàu từ mảnh đất của mình được.           

2. “Nhà nước” có thể lấy lại đất bất cứ lúc nào và giá trị bồi thường là do “nhà nước” quyết định. Chúng tôi để “nhà nước” trong ngoặc kép là vì ở đây có thể là chính quyền cấp huyện hay thậm chí cấp xã.          

3. Ở các nước, không có ý niệm sở hữu toàn dân. Như ở Mỹ, quyền công hữu đất đai và tài nguyên thuộc về các địa chỉ rõ ràng: chính phủ liên bang hoặc chính quyền tiểu bang, hay thành phố (60% thuộc tư hữu, 40% thuộc công hữu, trong đó 28% thuộc chính phủ liên bang, 9% thuộc chính phủ bang và chính phủ cấp tương đương tỉnh hay thành phố, 2% thuộc dân da đỏ). Không có đất đai, tài nguyên nào lại thuộc huyện, xã như ở Việt Nam. Quyền sở hữu và trách nhiệm được quy định rất rõ ràng. Để bảo đảm lợi ích chung của khu vực mà lợi ích có thể mâu thuẫn nhau, đất đai bờ biển có thể thuộc khu vực rộng lớn (vượt trên bang, tỉnh, thành phố) thì có cơ quan công quyền liên tiểu bang/liên tỉnh sở hữu để giải quyết nhu cầu chung về hạ tầng cơ sở. Thí dụ, có Port Authority of New York and New Jersey sở hữu đất đai và bờ biển thuộc hai bang New York và New Jersey để quản lý chung nhằm phát triển giao thông (phi cảng, hải cảng, cầu cống, đường sá nối liền hai bang) hoặc có Tennessee Valley Authority sở hữu đất đai và tài sản khác nhằm chống lũ lụt, xây dựng giao thông, quản lý đất đai, cung cấp điện, phát triển kinh tế chung ở khu vực sông Tennessee. Đây là các công ty công không vì mục đích lợi nhuận, do các bang khu vực cử người quản lý, điều hành, không dựa vào thuế của dân mà dựa vào phí dịch vụ. Đất đai và tài nguyên công thuộc công quyền được quy định rất rõ ràng. Cách quản lý theo khu vực như trên tránh cho việc cạnh tranh xây dựng cảng, khu công nghiệp theo kiểu phong trào như ở Việt Nam.

Continue reading

THỜI HẠN VÀ HẠN ĐIỀN–NHỮNG THÚC GIỤC TỪ THỰC TẾ

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Ở các nước phát triển đều không có thời hạn và hạn điền đối với đất nông nghiệp. Nông dân được tạo điều kiện hết mức để ổn định sản xuất, khuyến khích đầu tư dài hạn theo chiều sâu, con em nông dân được tạo điều kiện học tập nghiên cứu để sau đó quay trở về nông thôn, đồng ruộng tiếp tục làm nghề nông. Con em họ thường theo truyền thống gia đình, không ly nông ly hương chạy vào đô thị.

Những nước có nền nông nghiệp phát triển đã tạo cho người nông dân sự yên tâm với nghề nông, có được thu nhập cao từ nghề nông và con em họ vẫn tiếp tục chí thú với nghề nông. Trong khi ở nước ta, con em nông dân mà giỏi giang một chút là chạy vào đô thị để tìm kiếm cơ hội thu nhập cao, không bao giờ muốn quay về đồng ruộng.

Những người làm nông nghiệp là cha là mẹ cũng khuyến khích con em họ quay lưng lại với nghề nông để tránh cuộc sống lam lũ. Chúng ta luôn luôn làm cho “tam nông” bị hẫng hụt mà cái hẫng hụt đầu tiên là về nhân lực – cái hụt khó bù đắp nhất.

Câu chuyện một nông dân có 500ha ruộng mà 70-80% số đó phải nhờ người khác đứng tên, hay thời hạn năm 2013, tức 20 năm từ khi thực hiện giao đất nông nghiệp theo nghị định 64/1993, Nhà nước có thu hồi ruộng đất để chia lại hay không… đang cho thấy những thực tiễn nóng bỏng trong lĩnh vực nông nghiệp, thúc giục một sự quyết đáp rõ ràng.

Đất đai luôn luôn là vấn đề lớn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là ở các nước đang phát triển với kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, dân sống bằng nghề nông còn nhiều. Ngày nay, các nước phát triển cao cũng đặt mối quan tâm lớn vào khu vực nông nghiệp và nông thôn với ý nghĩa bảo đảm an ninh lương thực và giải quyết vấn đề môi trường.

Nhìn xa hơn, khi tài nguyên hóa thạch cạn kiệt, loài người sẽ phải tìm kiếm nhiên liệu, nguyên liệu từ nông sản để tiếp tục phát triển.

Continue reading

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN PHÁP LÝ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẢI

NGUYỄN THU PHƯƠNG (Sưu tầm)

Nguyên đơn: Công ty May Xuất khẩu Việt Nam ( Người mua )
Bị đơn: Công ty Hàn Quốc ( Người bán )

CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP:

– Mua hàng theo mẫu;
– Giá trị pháp lý của mẫu hàng;
– Nghĩa vụ cung cấp mẫu hàng;
– Giá trị pháp lý của chứng thư giám định.

TÓM TẮT VỤ VIỆC:

Nguyên đơn và Bị đơn ký hai Hợp đồng mua vải. Trong các điều khoản của Hợp đồng, đáng lưu ý có các điều khoản sau:
– Chất lượng của hàng hóa sẽ dựa theo mẫu LABDIP ( Điều 2 Hợp đồng );
– Giám định trước khi gửi hàng do nhà sản xuất thực hiện là cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên ( Điều 7 Hợp đồng ).
Sau khi nhận hàng của Bị đơn, Nguyên đơn đã chuyển số vải cho một đơn vị gia công hàng của Nguyên đơn để kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào gia công.Tuy nhiên, do lỗi vải quá nhiều nên đơn vị gia công đã từ chối nhận vải của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã mời đại diện của Bị đơn là ông A (Trưởng văn phòng đại diện của Bị đơn ) đến kiểm tra chất lượng vải. Sau khi kiểm tra vải đại diện Bị đơn đồng ý để Nguyên đơn mời Công ty X giám định chất lượng vải của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn nhận được kết quả giám định của Công ty X với nội dung “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt may công nhiệp hàng loạt”.
Do hai bên không giải quyết được tranh chấp về chất lượng nên Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn ra Trọng tài, yêu cầu Bị đơn hoàn trả lại cho Nguyên đơn 44.089,2USD gồm các khoản sau:

– Trị giá Hợp đồng : 31.669,2USD
– Chi phí nhận hàng : 300USD
– Lãi suất đến ngày khởi kiện : 675,61USD
– Tiền phạt mà Nguyên đơn bị khách hàng phạt do không có hàng để giao : 11.445USD.

Continue reading

CÔNG DÂN DANH DỰ CỦA HOÀNG SA HAY CÔNG DÂN HOÀNG SA ?

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

Tiếp theo các bài báo do Tuổi Trẻ phát hành, dư luận đang sôi nổi bàn về việc trở thành “công dân danh dự của Hoàng Sa”. Trong niềm vui, sự háo hức bày tỏ lòng yêu nước đối với mảnh đất ruột thịt vẫn còn đang bị tạm chiếm trái phép, thiết nghĩ cũng nên bình tĩnh bàn thêm về thuật ngữ “công dân danh dự của Hoàng Sa” để sử dụng một cách chính danh thuật ngữ đó tránh mọi cách nói xuyên tạc có thể xảy ra.

Theo quan sát thì trên thế giới vẫn tồn tại ba loại công dân danh dự. Công dân danh dự toàn cầu, công dân danh dự quốc gia và công dân danh dự của thành phố. Thứ nhất, “công dân danh dự toàn cầu” phải là người đặt quyền lợi quốc tế lên trên quyền lợi quốc gia. Thứ hai, “công dân danh dự của quốc gia”, ở các nước phương Tây, việc phong tặng danh hiệu vẫn thường xảy ra để vinh danh hay bày tỏ lòng tri ân với những người có những hoạt động vì lợi ích của xã hội nói chung. Ở Hoa Kỳ, theo yêu cầu của Nghị viện, Tổng thống có thể trao danh hiệu Công dân danh dự của Hoa Kỳ cho một người không phải là công dân của Hoa Kỳ. Đây là một đặc ân cho đến nay chỉ được Hoa Kỳ thực hiện 7 lần trong đó 5 lần là truy tặng. Còn ở Canada Thống đốc bang, với sự cho phép của Nghị viện, có quyền trao tặng danh hiệu công dân danh dự cho người có phẩm chất xứng đáng. Tính đến năm 2009 Canada chỉ có 5 công dân danh dự quốc gia.

Về “công dân danh dự của thành phố”, trên thực tế chưa có một định nghĩa chính thức mang tính hàn lâm đủ rõ ràng và cụ thể về thuật ngữ “công dân danh dự”. Do vậy, công dân danh dự của thành phố thông thường theo các tiêu chí riêng của từng thành phố. Tuy nhiên, những chuẩn mực chung thường thấy là công dân đó có thể cư trú hoặc không tại thành phố đó, phải có những phẩm chất đạo đức hoặc có những thành tích thể thao nổi bậc, hoặc can đảm hiếm có hoặc có sự cống hiến tận tuỵ nhất định cho thành phố, v.v… Nói một cách khác, danh hiệu công dân danh dự của thành phố được trao cho người đạt một mức độ phẩm chất nhất định và được cộng đồng ghi nhận, tri ân. Việc công nhận phẩm chất phải ở phạm vi rộng tức là có sự công nhận của cư dân của thành phố và cư dân khác ngoài thành phố đó.

Continue reading

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ DI SẢN THỪA KẾ?

NGUYỄN THANH HẢI – Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội

Một trong những di sản là đối tượng tranh chấp nhiều về thừa kế đó là “quyền sử dụng đất”. Vì quyền sử dụng đất được xem là loại di sản mới và đặc biệt hơn so với các loại di sản khác, nên kéo theo đó là cách giải quyết cũng theo một cơ chế riêng. Gần đây, một số văn bản pháp luật, cụ thể là Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (sau đây xin gọi tắt là Nghị quyết số 02) đã khẳng định rõ và ghi nhận “quyền sử dụng đất” là di sản thừa kế. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các vụ kiện đòi chia thừa kế về quyền sử dụng đất đã nảy sinh các ý kiến khác nhau về nhận thức quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Trong phạm vi bài viết này, xin bàn thêm cùng bạn đọc về vấn đề nêu trên thông qua một số ví dụ cụ thể sau:

Ví dụ 1: Ông bà A – B sinh được 2 người con là C và D. Sinh thời ông bà A – B có tạo lập được 1 mảnh đất có diện tích là 500m2. Năm 1989, anh C đứng tên kê khai mang tên anh. Năm 2000, ông bà A – B đều qua đời. Tháng 6/2005, anh D có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án chia thừa kế quyền sử dụng 500m2 đất trên do bố mẹ để lại.

Về việc giải quyết vụ việc nêu trên còn có các ý kiến khác nhau:

* ý kiến thứ nhất cho rằng, việc ông D khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng 500m2 đất do bố mẹ để lại là không được chấp nhận vì 500m2 đất không phải di sản thừa kế, bởi lẽ:

– Tại tiểu mục 1.1 và 1.2 Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, hướng dẫn về việc xác định quyền sử dụng đất là di sản như sau:

+ Tiểu mục 1.1: “Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản”.

Continue reading

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VIỆN CÔNG TỐ HOA KỲ, VIỆN CÔNG TỐ NHẬT BẢN, VIỆN CÔNG TỐ CỘNG HÒA INDONESIA TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN NGỌC KHÁNH – Viện Kiểm sát nhân dân tối cáo

1. Vị trí, vai trò cơ quan Công tố Hoa Kỳ trong tố tụng dân sự   

Tại Hoa Kỳ, hai hệ thống cơ quan Công tố liên bang và các tiểu bang gần như độc lập tách rời nhau trong đó có sự phân định các lĩnh vực (bao gồm cả hình sự và dân sự) thuộc thẩm quyền liên bang và thuộc thẩm quyền tiểu bang. Thông thường, thẩm quyền tiểu bang chỉ giới hạn đối với các vụ việc dân sự xảy ra trên địa bàn lãnh thổ của bang (nếu xảy ra trên lãnh thổ nhiều bang thì phải có sự phối hợp hoạt động giữa các Văn phòng Tổng Chưởng lý tiểu bang). Thẩm quyền liên bang thì mở rộng đối với các vụ việc dân sự xảy ra trên bình diện rộng hoặc trên phạm vi toàn liên bang. Sự kết hợp cả hai thẩm quyền này tạo nên vị trí, vai trò tổng thể của cơ quan Công tố Hoa Kỳ trong tố tụng dân sự. Vị trí, vai trò tổng thể của cơ quan Công tố Hoa Kỳ trong tố tụng dân sự được thể hiện tập trung và rõ nét thông qua chức năng đại diện cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hay Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như cho các cơ quan hành pháp liên bang, các cơ quan hành pháp tiểu bang trong các khiếu kiện dân sự nếu các đối tượng này là một bên tham gia tranh chấp (với tư cách là nguyên đơn hoặc với tư cách là bị đơn); và trong những trường hợp này, các Công tố viên tham gia tố tụng có vị trí như một bên đương sự. Các loại khiếu kiện dân sự mà cơ quan Công tố Hoa Kỳ có thể tham gia tương đối đa dạng và phong phú, chủ yếu bao gồm:     

Thứ nhất, đại diện và trực tiếp bảo vệ lợi ích cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hay Chính phủ Hoa Kỳ, cũng như cho các cơ quan hành pháp khác trong các vụ kiện dân sự mà các đối tượng này là một bên tham gia tranh chấp (cả trong nước cũng như tại Toà án nước ngoài).

Trong vụ United States chống HCA (Tổ hợp dịch vụ y tế), Văn phòng Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ cáo buộc và khởi kiện dân sự HCA vì đã lừa dối Chính phủ thông qua việc ghi hoá đơn gian dối và ghi tăng các chi phí bệnh viện đối với các hợp đồng ký với Chính phủ về bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khoẻ tại các phòng điều trị nội, ngoại trú và về các dịch vụ chăm sóc tại nhà, qua đó đòi được hàng trăm triệu đô la cho Chính phủ.

Continue reading

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ GÓC ĐỘ VỤ CƯỠNG CHẾ THU HỒI ĐẤT Ở TIÊN LÃNG, HẢI PHÒNG

Civillawinfor lược trích từ bài viết của tác giả Nam Phong và đặt tiêu đề, thay đổi kết cấu bài viết. Hy vọng nhận được sự thông cảm từ tác giả và Báo Giáo dục Việt Nam

imageLS. NGÔ NGỌC TRAI

Quay trở lại vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn

Thực chất của sự việc này chính là việc chính quyền huyện Tiên Lãng tiến hành cưỡng chế thu hồi đất trong khi ông Vươn đang chờ đợi quyết định giải quyết công tâm khách quan của cơ quan thứ ba là tòa án. Có thông tin cho thấy phía chính quyền địa phương đã tiến hành thương lượng với gia đình anh Vươn để anh Vươn rút đơn kiện thì sẽ tiếp tục cho thuê đất nhưng sau đó lại tiến hành cưỡng chế, thu hồi diện tích hồ ao chưa hết hợp đồng. Đây chính là sự cộng hưởng của việc áp dụng các quy định chứa đựng sự bất bình đẳng giữa người bị thu hồi đất và cơ quan thu hồi và sự thiếu công tâm trách nhiệm của cán bộ chính quyền.

Có thông tin cho rằng căn nhà hai tầng của ông Vươn bị cưỡng chế nằm ngoài diện tích đất thu hồi, nhưng vẫn bị san phẳng với lý do là nơi ẩn nấp của người chống đối. Đây là luận điểm bao biện của chính quyền huyện Tiên Lãng bởi nếu xác định căn nhà đó nằm ngoài diện tích đất thu hồi thì đó là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của công dân, được bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm.

Trong trường hợp khác, nếu anh Đoàn Văn Vươn cố thủ trong tòa nhà Keangnam và dùng súng bắn ra ngoài thì chính quyền cũng cho san phẳng tòa nhà hay sao?

Từ những nội dung trên thấy rằng Bộ tài nguyên môi trường cần có trách nhiệm hơn nữa đối với các văn bản soạn thảo trình chính phủ ban hành. Cần soạn thảo ra những văn bản đảm bảo yếu tố khoa học, khách quan, chuẩn xác để giữ được sự công minh, nghiêm minh của luật pháp. Nội dung văn bản soạn thảo cần lường trước điều kiện thực tế áp dụng, nếu thấy cuộc sống phản ánh không phù hợp thì cần tiếp thu sửa đổi ngay. Từ đó các cấp chính quyền như UBND huyện Tiên Lãng sẽ thấy rõ được phạm vi quyền hạn của mình để hành xử có trách nhiệm hơn.

Continue reading

TỔNG HỢP MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Trong khuôn khổ Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật dân sự, phần các biện pháp bảo đảm, do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức các ngày 11 và 12 tháng 1 năm 2012, Giáo sư Michel Grimaldi đến từ Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp đã có bài trình bày tổng quát về pháp luật thực định của Pháp về các biện pháp bảo đảm. Nhà Pháp luật đang tiến hành bóc băng làm kỷ yếu hội thảo. Dưới đây là tổng hợp một số nội dung chính trong bài trình bày của Giáo sư.

I. Một số vấn đề chung

Triết lý trái quyền và vật quyền trong Bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự Pháp được thiết kế dựa trên hai chế định cơ bản là trái quyền và vật quyền. Trái quyền hay còn gọi là quyền đối nhân được hiểu là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác. Vật quyền hay còn gọi là quyền đối vật là quyền của chủ thể tác động lên một vật.

Các biện pháp bảo đảm cũng được thiết kế theo triết lý trái quyền và vật quyền và được chia thành hai loại là vật quyền bảo đảm và trái quyền bảo đảm. Vật quyền bảo đảm có sức mạnh đặc biệt vì nó tạo ra quyền trực tiếp của chủ nợ có bảo đảm đối với giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm, thể hiện ở quyền theo đuổi và quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm. Quyền theo đuổi là quyền truy đòi tài sản bảo đảm dù tài sản đó không còn được con nợ nắm giữ. Quyền ưu tiên là quyền của chủ nợ có bảo đảm được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ không có bảo đảm.

Pháp luật về các biện pháp bảo đảm của Pháp được cải cách căn bản vào năm 2006 và được pháp điển hóa thành quyển IV của Bộ luật dân sự. Tài liệu này đã Nhà Pháp luật dịch và gửi cho Ban soạn thảo, Tổ biên tập Bộ luật dân sự. Tinh thần cơ bản của cải cách này là bảo vệ một cách cân bằng quyền lợi của người có quyền và người có nghĩa vụ.

Continue reading

THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

imageTS. TRẦN VĂN HẢI & CN. HOÀNG LAN PHƯƠNG – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việt Nam gia nhập WTO là một điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào một “sân chơi chung” của thương mại toàn cầu. Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất mà còn cần khẳng định được uy tín và giá trị của doanh nghiệp mình. Nhãn hiệu đóng góp một phần không nhỏ vào giá trị thương hiệu của chính các doanh nghiệp. Do đó để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải chú trọng vào việc xây dựng, bảo hộ và phát triển các nhãn hiệu của mình. Để nắm bắt được xu thế chung, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu (sau đây gọi là “doanh nghiệp Bạc Liêu”) cũng cần phải xây dựng, bảo hộ và phát triển nhãn hiệu của doanh nghiệp để khẳng định được năng lực và vị thế của mình.

1. Tổng quan về việc bảo hộ nhãn hiệu của các doanh nghiệp Bạc Liêu

Theo số liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý cập nhật đến ngày 23.09.2011, các doanh nghiệp Bạc Liêu đã có 150 đơn yêu cầu được bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có 73 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp. Như vậy, tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu là 48,7%. Với tỷ lệ này có thể thấy rằng Bạc Liêu – một tỉnh thuộc miền Nam có tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu được bảo hộ/số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu chỉ ở mức trung bình so với các địa phương khác trong cả nước. Chúng tôi chứng minh cho nhận định này bằng việc so sánh tỷ lệ của Bạc Liêu với tỉnh Nghệ An (thuộc miền Trung) và tỉnh Bắc Ninh (thuộc miền Bắc) qua bảng số liệu sau:

 

Bạc Liêu

Nghệ An

Bắc Ninh

Số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu

150

480

1358

Số Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

73

221

712

Tỷ lệ

48,7%

46%

52,4%

Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu ở Bạc Liêu ở mức trung bình nhưng số lượng đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu và nhãn hiệu được bảo hộ của Bạc Liêu còn quá thấp so với 2 tỉnh Nghệ An và Bắc Ninh. Ngay đối với Nghệ An, tuy tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu chỉ là 46% thấp hơn so với tỷ lệ này ở Bạc Liêu (48,7%) nhưng về số đơn yêu cầu bảo hộ và số nhãn hiệu được bảo hộ ở Nghệ An thì chiếm ưu thế hơn về mặt số lượng. Điều này được minh chứng qua bảng số liệu sau:

Continue reading

ĐỂ THỰC THI NGHIÊM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Vụ cưỡng chế, thu hồi đất đai ở Tiên Lãng, Hải Phòng vừa qua làm chúng ta đau lòng. Các hành vi sai trái đều phải bị xử nghiêm theo pháp luật. Việc giải quyết phải đúng với tinh thần của một nhà nước pháp quyền. Nhưng những sai trái về thực thi pháp luật đất đai ở địa phương, cách phản ứng trái pháp luật của người dân ở địa phương đang làm đau đầu chúng ta. Làm gì để hoàn thiện pháp luật đất đai và thực thi nghiêm pháp luật trong thực tế là một việc lớn, nhất là vào thời điểm Quốc hội đang chuẩn bị xem xét thông qua Luật Đất đai mới.

Thời hạn 20 năm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được quy định tại Luật Đất đai 1993. Luật này cũng có quy định về việc được gia hạn khi sử dụng đất có hiệu quả. Khi Bộ Chính trị tổ chức tổng kết 10 năm thi hành chính sách, pháp luật đất đai vào năm 2001-2002, vấn đề thời hạn sử dụng đất nông nghiệp được đưa ra xem xét như một trọng điểm do tính phức tạp của vấn đề đất đai. Khi hết thời hạn mà quy định là sẽ được gia hạn nếu sử dụng đất “có hiệu quả” thì ai là người kết luận về hiệu quả. Như vậy, để được kết luận đất của mình sử dụng có hiệu quả thì người nông dân lại phải “cầu cạnh” tới chính quyền huyện và xã. Nguy cơ tham nhũng sẽ nảy sinh, làm cho người nông dân không yên tâm. Hầu hết ý kiến đều cho rằng pháp luật phải có quy định cụ thể là hết thời hạn thì làm gì.

Lúc đó có hai luồng ý kiến trái chiều nhau. Một luồng là khi hết thời hạn thì chia lại ruộng đất, tức là làm lại cải cách ruộng đất vì lý do có người mới sinh ra, có người đã chết đi, có người không làm nông nghiệp nữa, có người quyết định về quê làm ruộng. Luồng ý kiến thứ hai là kéo dài thời hạn, thậm chí là kéo tới vô hạn để thị trường điều tiết mọi việc tiếp theo. Luồng ý kiến nào cũng có mặt hợp lý và có mặt không hợp lý. Điều khó xử là tỷ lệ hai luồng ý kiến này ngang nhau 50/50. Vấn đề lớn này không quyết định được tại Hội nghị Ban Chấp hàng Trung ương lần thứ 7, Khóa IX khi thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TƯ (2002) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trên thực tế, các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa khá nhiều ý kiến về bất cập của thời hạn sử dụng đất nông nghiệp hiện nay. Người muốn đầu tư lớn cho nghề nông không dám bỏ tiền ra tích tụ đất đai, đầu tư hạ tầng. Làm lớn mà lâm vào cảnh như gia đình ông Vươn ở Tiên Lãng thì tan nát hết. Sự đau lòng ở Tiên Lãng đã chỉ ra rằng nếu không giải quyết thấu đáo về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp thì không có động lực để giải quyết vấn đề Tam nông.

Continue reading

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ NỢ BẰNG PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẠI NGÂN HÀNG

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ[1]. Đổi lại việc góp vốn, thành viên góp vốn công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền tham gia vào đời sống của doanh nghiệp và được chia lợi nhuận của doanh nghiệp. Tại nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp…) phần vốn góp được sử dụng phổ biến như một loại tài sản bảo đảm trong khi đó tại Việt Nam, bên nhận bảo đảm trong đó có các ngân hàng thường không chấp nhận giao dịch bảo đảm này. Phải chăng pháp luật Việt Nam còn chưa quy định về biện pháp bảo đảm này ? Bài viết này sẽ đưa lại một góc nhìn về vấn đề này và đưa ra một số gợi ý cho việc hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam.

1. Đối tượng của giao dịch bảo đảm

Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Bộ luật dân sự: điều 322 của Bộ luật dân sự công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp là một loại quyền tài sản được phép dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định chung của pháp luật thực định, thế chấp là giao dịch bảo đảm được áp dụng đối với các quyền tài sản bởi hai lý do chính. Một là, quyền tài sản nói chung là các tài sản vô hình và do đó không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận bảo đảm nên không thể là đối tượng của cầm cố. Hai là, trong giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản, bên thế chấp chỉ giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản cho bên nhận thế chấp và trong quá trình thế chấp, bên thế chấp vẫn « nắm giữ » tài sản thế chấp[2] và được thực hiện một số quyền của chủ sở hữu đối với quyền tài sản[3]. Tuy vậy chính việc điều 322 của Bộ luật dân sự quy định về giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này bởi tính chất khá chung chung của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty, quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn,…). Tuy nhiên khi nhận thế chấp, sẽ chắc chắn hơn đối với ngân hàng khi nhận phần vốn góp tức là nhận thế chấp tài sản góp vốn của một thành viên góp vốn nhất định như tiền Việt Nam, quyền sử dụng đất, ngoại tệ tự do chuyển đổi[4]…hơn là nhận các quyền của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn góp.

Continue reading