MỘT KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Quản lý doanh nghiệp là công việc vô cùng phức tạp – đó vừa là khoa học lại vừa là nghệ thuật. Do đó, người quản lý doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng.

Thuê quản lý doanh nghiệp – một nhu cầu tất yếu

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”.

Sẽ không có gì phải bàn khi chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. Song, thực tiễn hiện nay và trong tương lai gần, với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nước ta, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp lại không phải là người quản lý doanh nghiệp.

Những trường hợp như vậy ít nhất cũng có thể bao gồm:

Thứ nhất, chủ doanh nghiệp cần giành một khoảng thời gian dài từ 1-3 năm để học tập nâng cao năng lực quản lý ở một nơi xa doanh nghiệp, chẳng hạn ở nước ngoài. Khi đó, chủ doanh nghiệp không thể “vừa học, vừa làm”.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp không may bị qua đời và người thừa kế để làm chủ mới của doanh nghiệp lại chưa đủ năng lực cả về chuyên môn và quan hệ xã hội để trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp.

Thứ ba, do sự thay đổi của pháp luật, lĩnh vực kinh doanh đang thực hiện của chủ doanh nghiệp “bỗng nhiên” được đưa vào danh mục “kinh doanh có điều kiện” và “điều kiện kinh doanh” lại là chủ doanh nghiệp phải có một chứng chỉ. Trong khi đó, để có thể có được chứng chỉ ấy, chủ doanh nghiệp lại gặp những khó khăn không thể vượt qua, chẳng hạn, đòi hỏi phải thi, sát hạch về ngoại ngữ…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: THANH LÝ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI NGA TRƯỚC THỜI HẠN, AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG?

HẠNH LÊ

Bất đồng quan điểm trong việc bồi thường, 36 lao động (LĐ) từ Nga trở về trước thời hạn đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng là kéo nhau đến trụ sở Trung tâm Hợp tác lao động với nước ngoài (gọi tắt là Trung tâm) thuộc TCty Thép VN và Cục quản lý LĐ ngoài nước để đòi quyền lợi.

Trong khi đó, tới thời điểm này không thấy Cục quản lý lao động ngoài nước có thêm biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi cho người LĐ ngoài một công văn yêu cầu Trung tâm đẩy nhanh tiến độ thanh lý hợp đồng được ký cách đây hơn 1 tháng. Khi LĐ tập trung đòi quyền lợi tại trụ sở Cty và tại trụ sở của Cục quản lý lao động ngoài nước chiều 28/8 thì Cục cũng chưa có câu trả lời cũng như một hướng giải quyết cụ thể nào trong khi người LĐ đang đặt hết hi vọng vào cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.

5 tháng XKLĐ = 67 USD

36 LĐ – trong đó, có 34 LĐ là người Bắc Ninh, còn 2 LĐ trú tại Hà Nội ký hợp đồng với Trung tâm sang Nga làm việc cho chủ sử dụng lao động là Công ty APC từ tháng 9/2008. Chi phí cho chuyến đi là 3.000 USD/người. Tuy nhiên, khi sang Nga, NLĐ lại không làm việc cho Cty APC như hợp đồng mà được “chuyền tay” qua hết Cty này sang Cty khác như: Kamaz, Akvaxintez, Kaleri, Prophmarket… Mặt khác, thông tin trên thẻ lao động lại chỉ có vị trí “hoành tráng” như Giám đốc, Trưởng phòng, Tư vấn kinh doanh, nhân viên kinh doanh… chứ không phải thợ xây như hợp đồng lao động. “Cũng chính vì điều này mà NLĐ đã bị cơ quan chức năng Nga truy đuổi 3- 4 lần vì làm việc không đúng chức năng và không đúng địa điểm như thẻ lao động cấp!” – anh Nguyễn Hùng Vĩ – một lao động bức xúc.

Continue reading

VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA NHỮNG QUI ĐỊNH ƯU TIÊN ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

NGUYỄN TUẤN NGỌC

Bộ luật Lao động đã dành một chương về lao động nữ với nhiều quy định ưu tiên (Chương X). Tuy nhiên, qua 15 năm thực hiện, nhiều nội dung bộc lộ bất cập, khó thực thi, đòi hỏi phải sớm sửa đổi, bổ sung để bảo đảm quyền lợi của lao động nữ.

Kết quả tham vấn ý kiến tại cộng đồng cũng như các cuộc hội thảo do Ủy ban Về các vấn đề xã hội phối hợp với Văn phòng Quốc Hội và Dự án 00049114 của UNDP tổ chức đều cho rằng, những quy định về việc tuyển dụng, ký kết hợp đồng lao động, mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, mức lương, nâng lương, điều kiện, môi trường lao động, chế độ thai sản… đối với lao động nữ đã được nhiều doanh nghiệp (DN) thực hiện khá tốt, nhất là DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều lao động nữ cũng làm cho DN gặp khó khăn. Đối với DN sử dụng từ 4.000- 5.000 lao động nữ thì bình quân hàng tháng có khoảng 150 người nghỉ thai sản, khoảng 100 người nghỉ con ốm hoặc mẹ ốm; tỷ lệ bỏ việc sau khi sinh cũng khá cao (do nhà trẻ chỉ nhận trẻ trên 12 tháng tuổi). DN thường bị động về số lượng lao động, năng suất, chất lượng bị ảnh hưởng, nhất là DN sản xuất theo dây chuyền. Thực tế cho thấy, những quy định của pháp luật lao động đối với lao động nữ là rất ưu việt, nhưng việc thực hiện gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Một mặt do ý thức chủ quan của người sử dụng lao động nhưng mặt khác cũng do những yếu tố khách quan. Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động cho phù hợp yêu cầu thực tế.

Việc DN phải đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ theo quy định tại Điều 110 Bộ luật Lao động và Nghị định 23/NĐ/CP khó thực hiện, bởi DN không có kinh phí dành cho đào tạo nghề dự phòng, chỉ có thể đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển. Hơn nữa, công nhân nữ phải lao động 8 tiếng/ngày không thể bố trí được thời gian để học. Có ý kiến cho rằng, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tổ chức dạy nghề cho lao động nữ, DN không có chức năng này.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NGOẠI NHẬP: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI

THANH BÌNH

Canada

Thuê lao động nước ngoài có thể là một phần thiết yếu trong chiến lược kinh doanh của một công ty ở Canada. Lao động nước ngoài có thể lấp đầy những thiếu hụt lao động và mang những kỹ năng cũng như hiểu biết mới để giúp phát triển nền kinh tế nước này.

Tuy nhiên, trong hầu hết mọi trường hợp, các lao động nước ngoài bắt buộc phải có giấy phép lao động để làm việc hợp pháp tại Canada. Khi thuê một người nước ngoài làm việc ở Canada, người chủ thuê nhân công phải nộp đơn lên Trung tâm Dịch vụ Canada nêu được công việc cần thuê là chính đáng; bù lấp được sự thiếu hụt lao động ở Canada hoặc việc thuê người nước ngoài làm việc sẽ trực tiếp tạo ra những cơ hội việc làm mới hay giúp duy trì những việc làm cho người Canada. Người lao động nước ngoài đó sẽ truyền những kỹ năng mới và hiểu biết cho người Canada…

Sau khi đã xét đơn và thấy các điều kiện nêu ra đều hợp lệ, Trung tâm Dịch vụ Canada phê chuẩn và có thư thông báo đến người lao động nước ngoài để người lao động này nộp đơn xin giấy phép lao động của Bộ Di trú và Quốc tịch Canada (CIC). Sau đó, CIC sẽ quyết định liệu người lao động nước ngoài có được phép làm việc và cư trú tạm thời ở Canada hay không.

Singapore

Theo khảo sát của Hãng tư vấn Gallup, Singapore là nơi hấp dẫn lao động nước ngoài số 1 trong 29 nền kinh tế có dân số dưới 20 triệu người. Ở đất nước 4 triệu dân này có đến gần 1 triệu người lao động nước ngoài. Người lao động nước ngoài tạo ra tới 41% GDP cho Singapore. Vì vậy, Cựu Thủ tướng Goh Chok Tong xem việc thu hút nhân tài nước ngoài là một vấn đề sống còn, quyết định khả năng cạnh tranh kinh tế của Singapore. Ông Lý Quang Diệu còn cho rằng 20 năm nữa, thậm chí nếu có 5 thành viên nội các chính phủ không phải là người sinh ra từ mảnh đất này thì cũng là điều tự nhiên. Cần nhớ nội các đầu tiên gồm 10 thành viên của Chính phủ Singapore chỉ có hai người bản địa.

Continue reading

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DÂN SỐ (NĂM 2009) CHƯA CHO BIẾT TỶ LỆ THẤT NGHIỆP

NGUYỄN VĂN SƠN

Tỷ lệ tăng dân số đáng khích lệ

Rất mừng là tỷ lệ tăng dân số bình quân trong mười năm qua (1999 – 2009) đã giảm một cách đáng kể, từ 1,7%/năm của thời kỳ 1989 – 1999 còn 1,2%/năm (dù mỗi năm dân số tăng gần một triệu người). Tỷ lệ này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế có hiệu quả hơn vì GDP đầu người sẽ tăng cao hơn, gánh nặng xã hội sẽ nhẹ hơn.

Riêng về sự chênh lệch giới tính càng ngày càng cao thì “sự tranh đấu” của phái nam khi có vợ càng cao, phái nữ càng có “giá” hơn do khan hiếm. Nếu không có biện pháp hợp lý về kế hoạch hoá gia đình thì chắc trong vòng mười năm tới, thanh niên sẽ phải sang các nước khác để tìm vợ như Trung Quốc, Hàn Quốc… hiện nay.

Nông thôn không đô thị hoá kịp

Tiến về thành thị là một xu hướng tự nhiên của bất cứ nhân dân nào trên thế giới và chính quyền nào cũng lo “o bế” thành thị, đầu tư vào thành thị nhiều tiện nghi cho cuộc sống, sản xuất, kinh doanh, quyền lợi chính trị xã hội, từ đó lại dẫn đến tiếp tục thu hút dân từ nông thôn đến để để kiếm sống, hưởng tiện nghi, để có “tiếng nói” hơn…

Thành thị nào có tỷ lệ đô thị hoá càng cao thì tốc độ tăng trưởng dân số cũng càng cao, như Đông Nam bộ có tỷ lệ đô thị hoá đạt 57,1% thì tốc tăng dân số rất cao: TP.HCM 3,5%/năm, Bình Dương 7,3%/năm.

Sự tập trung dân số cao vào đô thị, đầu tiên sẽ dẫn đến sự “ô nhiễm do mật độ” mà chúng ta đã thấy hiện nay tại các đô thị lớn của Việt Nam như TP.HCM, TP Hà Nội, và một số đô thị loại 1, loại 2, thậm chí loại 3, trong mọi lĩnh vực: kiến trúc, giao thông, thoát nước, thải rác, giáo dục, y tế, các tệ nạn xã hội, giá cả tăng vọt, đời sống khó khăn… Nhà nước sẽ phải tiếp tục đầu tư chỉnh trang, nâng tầng cao, mở rộng đô thị, phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật – xã hội. Sự đổ xô về thành thị trong mười năm gần đây đã khiến nông thôn thiếu lao động, mặc dù giá công lao động tại nông thôn hiện nay nhiều nơi còn cao hơn giá lao động tại thành thị.

Continue reading

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở THỤY ĐIỂN

THS. NGUYỄN BÍCH NGỌC – Viện Khoa học BHXH

Có lẽ trên thế giới từ "thất nghiệp" không còn là xa lạ với phần lớn các quốc gia – kể cả những nước giàu có như Thụy Điển. Việc đảm bảo chi tiêu mỗi khi lâm vào cảnh thất nghiệp luôn là những thách thức đối với người lao động, tuy nhiên trên một bình diện nào đó thì các công dân Thụy điển "dễ thở" hơn rất nhiều công dân của các nước châu Âu khác vì có hệ thống phúc lợi khá "hào phóng" của chính phủ. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của đất nước này đảm bảo những người có thu nhập trung bình vẫn có khả năng chi trả cho cuôc sống bình thường của mình trong suốt thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp và tìm kiếm công việc mới.

Phần lớn những người làm việc ở Thụy điển đều tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trong 200 ngày đầu tiên sau khi thất nghiệp, mức quyền lợi được hưởng tối đa là 80% theo mức lương trước khi thất nghiệp, nhưng không quá 680 cu-ron/ngày; 100 ngày tiếp theo (có thể được kéo dài tới 1 năm sau đó) mức hưởng trợ cấp còn 70%. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng đều được hưởng mức tối đa mà chỉ có những người có mức thu nhập thấp thì mới được nhận 80% tiền trợ cấp.

Tại Thụy điển, phần lớn tiền đảm bảo cho trợ cấp thất nghiệp lấy từ tiền thuế, nhưng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở quốc gia này được quản lý bởi những tổ chức tư nhân – chủ yếu là các nghiệp đoàn. Người lao động không nhất thiết phải là công dân Thụy điển – người lao động chỉ cần có giấy phép nhập cư và có thẻ cư trú là đủ điều kiện để tham gia Bảo hiểm thất nghiệp.

Hệ thống nghiệp đoàn ở Thuy điển hết sức linh hoạt đối với những người liên quan đến các ngành nghề khác nhau. (Ví dụ: Tổ chức nghiệp đoàn cơ khí thì dành cho những người làm việc trong ngành công nghiệp nặng, tổ chức nghiệp đoàn giáo viên – có tên là Läraförbundets Arbetstöshetskassa – dành cho những người làm công tác giảng dạy. Người lao động không nhất thiết phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo nghiệp đoàn nghề nghiệp mà có thể tham gia các quỹ bảo hiểm thất nghiệp khác, tuy nhiên có một số nghiệp đoàn giảm mức đóng cho người trong nghiệp đoàn.

Continue reading

KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ MẤT SỨC LAO ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. MẠC VĂN TIẾN

Kinh nghiệm quốc tế

Trong Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thông qua ngày 28/6/1952 có quy định các tiêu chuẩn tối thiểu các trợ cấp BHXH. Theo Công ước này có 9 nhánh chế độ BHXH là: chế độ chăm sóc y tế (BHYT); chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ bảo hiểm thất nghiệp; chế độ hưu (bảo hiểm tuổi già); chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ & BNN); trợ cấp gia đình; chế độ tàn tật (MSLĐ) và chế độ tử tuất.

Theo quy định, mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này phải áp dụng ít nhất 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên và một trong 3 nhánh ít nhất phải có các chế độ hoặc bảo hiểm thất nghiệp, hoặc là bảo hiểm tuổi già, hoặc là chế độ TNLĐ & BNN, hoặc chế độ mất sức lao động (MSLĐ) (tàn tật), hoặc chế độ tuất. Nói cách khác một nước được coi là có hệ thống BHXH phải hội đủ tối thiểu 3 trong 9 nhánh chế độ nêu trên. Theo quy định này, chế độ MSLĐ được coi là một trong những nhánh chế độ thuộc diện “ưu tiên”.

Theo quy định của ILO, mất sức lao động vĩnh viễn thường là đối với những người mất từ 2/3 trở lên khả năng kiếm thu nhập.

Để được hưởng trợ cấp MSLĐ thì người bị MSLĐ phải được hội đồng giám định y khoa xác định tỷ lệ mất khả năng lao động.

Phải có thời gian đóng BHXH nhất định. Thời gian định lượng có thể chỉ là 5 năm bảo hiểm hoặc có thể là 5 năm trong đó 3 năm bảo hiểm của 5 năm cuối cùng.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

THS.  NGUYỄN TIẾN DŨNG

Việt Nam là nước đang phát triển, có dân số hơn 86 triệu người, đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 7 tại châu Á, hàng năm với mức tăng dân số trung bình hơn 1 triệu, là nước có nhiều lợi thế về sức lao động. Sau hơn 20 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập và phát triển theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, do tình trạng gia tăng nhanh về dân số và lao động, dẫn đến nhu cầu việc làm luôn là vấn đề gay gắt, bức xúc đối với Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Chương trình giải quyết việc làm quốc gia hàng năm vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu việc làm của người lao động.Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, VN đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế về nguồn nhân lực, trao đổi hàng hoá “sức lao động”. Mặt khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay, gần 75% lao động sống ở nông thôn, trình độ chuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗi năm có gần 1,7 triệu người cần việc làm mới. Chính vì vậy, xuất khẩu lao động (XKLĐ) không những là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mà còn là một chiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động, tăng trưởng kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện tăng trưởng và phát triển bền vững gắn liền với công bằng xã hội.

1. Tình hình quản lý người lao động VN làm việc ở nước ngoài

Hoạt động XKLĐ của nước ta đã bắt đầu từ những năm 1980 thông qua việc đưa lao động sang các nước XHCN làm việc theo các hiệp định hợp tác quốc tế về lao động. Từ năm 1991 đến nay, hoạt động này đã được chuyển dần sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.  Gần 30 năm đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, XKLĐ đã đạt được một số thành tựu nhất định. Trong giai đoạn 1991-2008, tổng số lao động đưa đi là 673.304 người, bình quân hàng năm đưa đi 37.406 người, giai đoạn 2001 – 2008 là 546.196 người, bình quân hàng năm đạt 68.275 người, đặc biệt giai đoạn 2006-2008 là 250.865 người, bình quân hàng năm là 83.622 người chiếm hơn 5% số lao động có việc làm mới.[1]

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC BẰNG EMAIL

HOÀNG YẾN

Người lao động kiện đòi bồi thường hơn 2,5 tỷ đồng bị tòa bác. Theo tòa, việc bà K. chỉ căn cứ vào hai thư điện tử để cho rằng công ty cho bà nghỉ việc trái luật là không đủ căn cứ. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa bác kháng cáo của hai bên đương sự trong một vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vụ án khá phức tạp bởi tranh chấp xoay quanh việc cho nghỉ việc bằng thư điện tử (email) và mức đòi bồi thường lên đến tiền tỷ.

Rắc rối từ email

Cuối tháng 9-2008, bà K. (ngụ ở Hong Kong) đã nộp đơn đến TAND TP.HCM kiện Công ty liên doanh U. Việt Nam vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà. Bà K. yêu cầu công ty bồi thường toàn bộ tổn thất hơn 2,5 tỷ đồng bao gồm tiền lương, phụ cấp, tiền phép năm cũng như bồi thường vì chấm dứt hợp đồng trái luật.

Theo bà K., tháng 9-2007, bà ký hợp đồng lao động làm trưởng phòng Dịch vụ khách hàng và thị trường của công ty đến năm 2010. Cuối tháng 3-2008, dù bà không hề có ý định bỏ việc nhưng lại nhận được hai email từ phía công ty nói là cho bà nghỉ việc.

Email đầu tiên bà nhận được vào ngày 26-3-2008, nội dung là người phụ trách về nhân sự đã cố gắng liên lạc với bà trong ngày nhưng không được. Do phải đi công tác lâu mới quay về nên người này đưa ra các đề nghị với bà. Cụ thể vào thứ Hai 31-3-2008, công ty sẽ thông báo với đội của bà rằng bà sẽ rời chức trách vì quyết định về Hong Kong. Hôm sau, quản lý nhân sự sẽ gặp bà để sắp xếp.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

MINH CHÂU

Qua số liệu báo cáo của các sở lao động, thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc qua các năm tăng đáng kể, đặc biệt là hai năm gần đây.

Năm 2005, số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng 8615 người (68,4%) so với năm 2004; năm 2006, tăng 12.900 người (61%) so với năm 2005. Tính đến năm 2007, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là trên 43.000 người, và đến năm 2008 là 52.633 người, tăng 20,26% so với năm 2007. Trong đó, tỷ lệ người lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động là rất thấp; năm 2008 chỉ đạt 43,87% (18.066 người), tăng 8,3% so với năm 2007.

Trên đây là số lao động nước ngoài được các địa phương báo cáo là những lao động có đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam và đã đến Sở Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất để xin giấy phép lao động. Còn những đối tượng lao động nước ngoài phổ thông không đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam, vào Việt Nam làm việc bằng nhiều con đường và hình thức khác nhau, thì chưa được các địa phương tổng hợp và báo cáo. Vấn đề tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã và đang được Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm, nhất là trong thời gian gần đây.

Trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, có một số vấn đề nảy sinh như sau:

Đối với các địa phương

1. Thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nước ngoài chưa nghiêm: Một số địa phương xác nhận đối tượng không phải cấp giấy phép lao động sai quy định; hoặc áp dụng “linh hoạt” khi cấp giấy phép lao động, như cho nợ phiếu lý lịch tư pháp hay các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động; hoặc khi gia hạn giấy phép lao động, không kiểm tra kỹ việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo người lao động Việt Nam để thay thế.

2. Theo dõi và quản lý lao động nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và thiếu sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các đơn vị ở địa phương: Có những trường hợp các nhà thầu phụ của nước ngoài chưa được cấp giấy phép thầu nhưng vẫn hoạt động như bình thường. Đặc biệt, có những trường hợp chủ đầu tư khoán trắng cho nhà thầu chính; nhà thầu chính thuê nhà thầu phụ và mọi hoạt động liên quan đến tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài do nhà thầu phụ tự quyết định, chính quyền địa phương không có ý kiến, dẫn đến tình trạng các nhà thầu phụ này sử dụng bao nhiêu lao động nước ngoài thì chủ đầu tư và nhà thầu chính cũng không biết. Đây là sự buông lỏng trong quản lý của địa phương và chủ đầu tư.

Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam thông qua nhiều cửa khẩu và do nhiều cơ quan quản lý. Chẳng hạn, qua các cửa khẩu hàng không quốc tế Nội Bài, Thống Nhất, Đà Nẵng… do Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an quản lý; qua các cửa khẩu biên giới do Bộ đội Biên phòng quản lý; và có không ít trường hợp qua đường biên vào Việt Nam làm việc. Khi người nước ngoài vào Việt Nam, họ có quyền đi lại, tạm trú ở bất cứ đâu mà pháp luật không cấm, do đó, nếu không có sự phối hợp giữa các cơ quan, sự theo dõi sát sao của các địa phương, cơ sở thì rất khó cho việc quản lý họ.

3. Thực hiện chế độ báo cáo không đầy đủ, không đúng quy định: Theo quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP, ngày 25-3-2008, của Chính phủ và Thông tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH, ngày 10-6-2008, của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và gửi báo cáo định kỳ 6 tháng và cả năm tình hình lao động nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn quản lý về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, số lượng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội gửi báo cáo là không nhiều.

4. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm còn rất hạn chế: Nhiều địa phương thiếu chủ động trong thanh tra, kiểm tra về lao động nước ngoài, mà chỉ tham gia với các đoàn thanh tra cấp bộ; việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động về lao động nước ngoài chưa nhiều.

5. Chưa có nhiều đề xuất với Uỷ ban nhân dân, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để có những giải pháp quản lý lao động nước ngoài.

Đối với người sử dụng lao động

– Nhiều doanh nghiệp, tổ chức tuyển lao động nước ngoài chưa thực hiện đúng pháp luật Việt Nam: Không thông báo nhu cầu tuyển lao động trên các báo; không cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động cho lao động nước ngoài biết và thực hiện; tuyển cả lao động nước ngoài không có các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; không thực hiện đúng trình tự thủ tục tuyển lao động, trong đó đặc biệt là đối với các nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam.

– Không làm thủ tục đề nghị cấp, gia hạn giấy phép lao động kịp thời cho lao động nước ngoài. Khi được cơ quan chức năng yêu cầu thì đưa ra nhiều lý do để trì hoãn và thiếu tích cực thực hiện.

– Người sử dụng lao động không báo cáo đầy đủ, kịp thời việc sử dụng lao động nước ngoài theo quy định.

Đối với người lao động nước ngoài

Người lao động nước ngoài chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật lao động Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp; chưa chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để làm các thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động; đối với những người nước ngoài đã vào Việt Nam, nay có nhu cầu làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam thì cũng không chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và làm thủ tục để đề nghị cấp giấy phép lao động theo quy định.

Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Về lâu dài, cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong đó có quy định quyền, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan có liên quan; các loại công việc được sử dụng lao động nước ngoài… Trước mắt, các địa phương cần thực hiện đúng các quy định hiện hành, tăng cường các biện pháp để giải quyết đúng thời hạn các thủ tục liện quan đến lao động phổ thông đến Việt Nam làm việc, kiên quyết không cho nợ các giấy tờ khi cấp giấy phép lao động.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Các địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật lao động Việt Nam với các hình thức phong phú, phù hợp để người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Thanh tra nhà nước ở các địa phương cần chủ động thanh tra, kiểm tra đối với người sử dụng lao động có sử dụng lao động nước ngoài trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, cần lập biên bản ghi rõ các vi phạm và cam kết thực hiện có thời hạn của doanh nghiệp, tổ chức; kịp thời phát hiện những sai phạm để hướng dẫn khắc phục; đối với các trường hợp cố tình hoặc không chịu thực hiện, phải xử lý thật nghiêm.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành để quản lý lao động nước ngoài.

Thứ năm, thực hiện đúng chế độ báo cáo tình hình sử dụng lao động nước ngoài: Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc người sử dụng lao động nước ngoài báo cáo để tổng hợp báo cáo định kỳ theo quy định./.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ SỐ 16 (184) NĂM 2009

Trích dẫn từ: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_ID=20881723

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

TS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật – ĐHQGHN

Nếu như trước đây, quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động chủ yếu do Nhà nước quyết định thì nay, quan hệ này lại chủ yếu do các bên tự thương lượng, thoả thuận để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tính chất của quan hệ lao động có sự thay đổi về chất.

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động. Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Những lợi ích đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau. Do vậy, tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy. Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Tuỳ theo từng loại tranh chấp mà hệ thống cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết được qui định khác nhau.

Theo qui định tại Điều 165 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2006 (BLLĐ đã SĐBS 2006) cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

– Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động

– Toà án nhân dân.

Theo quy định tại điều 166 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) và điểm c khoản 1, Điều 33, khoản 1 Điều 31 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn luật định, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp. Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở, có thể yêu cầu Toà án nhân cấp huyện giải quyết (khoản 2 Điều 166 BLLĐSĐBS 2006):

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 2156 BC/UBXH NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006 CỦA ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUỐC HỘI KHÓA XI VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Theo Nghị quyết số 50/2005/QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.

Ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hành, Uỷ ban đã tổ chức khảo sát, đánh giá nhanh tình hình triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về dân số, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về dân số; khảo sát, giám sát tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Ninh Thuận, Bình Phước, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Kon Tum, Khánh Hòa, Nam Định, Hải Phòng, Hà Tây, Tuyên Quang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh; hội thảo về thực hiện chính sách, pháp luật về dân số tại Tuyên Quang, Thái Bình, Nghệ An, Long An, Nam Định, Hải Phòng; phối hợp với chuyên gia nghiên cứu đánh giá độc lập về vấn đề dân số ở cộng đồng và tổ chức nhiều hội nghị chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi kết quả giám sát về tình hình dân số.

Ngày 25/3/2006, Uỷ ban đã họp để nghe đại diện Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DS, GĐ & TE) báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, khảo sát, giám sát và trên cơ sở ý kiến thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin báo cáo Quốc hội một số vấn đề như sau:

I. KẾT QUẢ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỐ

1.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp lệnh Dân số đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 9/1/2003, có hiệu lực thi hành từ 01/5/2003. Nội dung Pháp lệnh đã đề cập toàn diện cả 4 yếu tố của vấn đề dân số, đó là quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư; do đó đã khắc phục được sự tản mạn, không thống nhất của văn bản pháp luật về dân số giai đoạn trước (trước đây, các quy định điều chỉnh các khía cạnh của vấn đề dân số được quy định rải rác ở Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình…).

Continue reading

DÂN SỐ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

DƯƠNG NGỌC

Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người so với năm 1921 hay cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người, tương đương mức tăng 1,98%/năm.

Trong đó:

– Thời kỳ 1921 – 1943 tăng 319,5 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,71%/năm;

– Thời kỳ 1943 – 1951 tăng 56,1 nghìn người/năm hay tăng 0,25%/năm, với nguyên nhân chủ yếu do hơn 2 triệu người bị chết đói năm 1945 và số người bị chết trong chiến tranh.

– Thời kỳ 1951 – 1957 tăng 753 nghìn người/năm hay tăng 3,03%/năm;

– Thời kỳ 1957 – 1976 tăng 1.135,8 nghìn người/năm hay tăng 3,08%/năm;

– Thời kỳ 1976 – 1985 tăng 1.190,2 nghìn người/năm hay tăng 2,21%/năm;

– Thời kỳ 1985 – 2008 tăng 1.142,9 nghìn người/năm hay tăng 1,60%/năm;

riêng thời kỳ 2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người/năm, tương đương mức tăng 1,31%/năm.

Như vậy, mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.

Continue reading

TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

TS. LƯU BÌNH NHƯỠNG

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

1. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động và vị trí pháp lý của nó

Trong hệ thống chủ thể của quan hệ lao động (hay còn gọi là quan hệ công nghiệp (industrial relations)), người sử dụng hoặc đại diện của họ có một vị trí, vai trò rất quan trọng.

Luật lao động theo trường phái cổ điển thường chú trọng đến việc bảo vệ người lao động bởi lẽ người lao động là chủ thể yếu thế trên thị trường lao động và thường lép vế trong mối quan hệ lao động. Quan niệm về một thứ luật lao động với những quy phạm dày đặc nhằm tạo ra một “tấm áo giáp” pháp luật cho người lao động đã vô tình làm lu mờ vai trò của người sử dụng lao động – một đối tác cần thiết trong mối quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của sự xuất hiện và phát triển của pháp luật lao động thì điều đó là cần thiết và dễ hiểu.

Đến một giai đoạn phát triển nhất định của quan hệ lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động dần được khẳng định vị trí trong môi trường lao động và trong xã hội. Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động là một chủ thể không thể thiếu trong các quy định của luật lao động.

Theo cách hiểu chung nhất, tổ chức đại diện người sử dụng lao động lao động là thiết chế được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Việc xác lập các tổ chức đại diện người sử dụng lao động đề dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do liên kết.

Continue reading

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN: VẤN ĐỀ BỨC XÚC CỦA HẬU GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

NGUYỄN MINH PHONG – PHẠM THỊ MINH UYÊN

Trong những năm gần đây, đô thị hóa kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu đất cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Từ năm 2001-2008, Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất, bình quân 1 năm Thành phố giải phóng mặt bằng gần 1000 ha, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân, trong 8 năm đã có khoảng 197.000 người bị mất việc do bị thu hồi đất, con số này tiếp tục tăng qua các năm.

Vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất canh tác đang ngày càng nóng bỏng, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của đất nước. Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có những chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề và việc làm cho người nông dân, nhưng các chính sách đó vẫn còn một số mặt bất cập cần nghiên cứu và tháo gỡ.

Những bất cập về chính sách

Trong các chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất canh tác về đào tạo nghề và việc làm, có những vấn đề bất cập về chính sách nổi bật hiện nay là: Chi NSNN cho đào tạo nghề và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất canh tác trong giai đoạn từ 2001-8/2008 không ngừng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Chi NSNN cho đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố tăng dần qua các năm, giai đoạn 2001-2005 tổng chi NSNN cho đào tạo nghề là 1608,8 tỷ đồng, từ 2006-2008 là 1167,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ trọng chi NSNN cho đào tạo nghề trong tổng chi NSNN cho lĩnh vực GD-ĐT lại có xu hướng giảm đi. Tổng chi NSNN cho những hoạt động trực tiếp đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành là 422,591 tỷ đồng. Trong cơ cấu chi NSNN đào tạo nghề trực tiếp cho nông thôn ngoại thành, chi đầu tư nâng cấp, củng cố, mở rộng cơ sở đào tạo nghề cho nông thôn ngoại thành và chi hoạt động cho các cơ sở đào tạo nghề chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 38-44%. Cơ cấu nguồn chi thường xuyên cho công tác đào tạo nghề các năm trên toàn thành phố, tỷ lệ đóng góp của người học là 85,8% và tỷ lệ đóng góp từ NSNN chiếm 87,7%.

Continue reading

ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI CHỖ – HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM QUAN TRỌNG TRONG HỘI NHẬP

TS. BÙI THỊ LÝ – Trưởng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức kết hợp giữa lao động trong nước với vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, nên xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức tạo việc làm đang có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, để hoạt động này đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội cao, đòi hỏi phải chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, nhất là cần có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, kể cả các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và bản thân người lao động…

1 – Lợi ích của hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) nói chung thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là XKLĐ trực tiếp và XKLĐ tại chỗ. XKLĐ trực tiếp là hình thức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc có thời hạn theo các hợp đồng hay các thỏa thuận hợp tác lao động giữa các tổ chức và các quốc gia. XKLĐ tại chỗ là hình thức người lao động được tuyển dụng vào làm việc cho các doanh nghiệp hay tổ chức nước ngoài hoạt động ngay trên đất nước của người lao động, trong đó chủ yếu là sản xuất, kinh doanh.

Hoạt động XKLĐ trực tiếp của Việt Nam đã thu được những lợi ích to lớn về mặt kinh tế – xã hội, góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong nước. Thực tế nhiều năm thực hiện XKLĐ trực tiếp cho thấy, bên cạnh những mặt lợi, việc đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cũng nảy sinh nhiều tồn tại và bộc lộ nhiều hạn chế, như: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ ra ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm luật pháp của nước sở tại, xung đột về văn hóa và nhiều tác động tiêu cực khác…. Việc quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn. Do công tác chuẩn bị chưa chu đáo, chặt chẽ, nên rất nhiều trường hợp, trước khi đi XKLĐ, người lao động không được biết rõ công việc mình sẽ làm, không được nghiên cứu kỹ hợp đồng, bị lừa gạt, phải làm những công việc không đúng như các công ty môi giới đã cam kết. Hậu quả là xẩy ra nhiều vụ tranh chấp, kiện tụng ở nước sở tại, gây nên những thiệt hại không chỉ đối với Nhà nước, các doanh nghiệp XKLĐ mà cả người lao động Việt Nam…

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VỚI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TRUNG ĐỨC

Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm đảo lộn nhiều hoạt động kinh tế – xã hội; lao động, việc làm, thu nhập và ổn định đời sống đã trở thành mối quan tâm, lo lắng hàng đầu của toàn nhân loại. Trong bối cảnh này, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm ở Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp sau chịu những sức ép, chứa đựng nhiều rủi ro, đòi hỏi phải có cách nhìn toàn diện để vượt qua trở ngại nhằm đạt được mục tiêu mong muốn…

Thách thức và vấn đề đặt ra

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, tổ chức Lao động Thế giới (ILO) dự báo, khoảng 51 triệu lao động sẽ mất việc làm. Tại Mỹ, số người thất nghiệp tháng 3/2009 vượt qua 80 vạn; tính đến đầu tháng 5, nước này đã có 6,56 triệu người thất nghiệp. Ở châu Âu, những quốc gia sử dụng đồng euro, tháng 1/2009 có 25 vạn người mất việc. Theo Eurostat, cuối tháng 2/2009, EU có trên 13,3 triệu người thất nghiệp và dự báo thất nghiệp còn tiếp tục gia tăng nếu đà suy thoái kinh tế không dừng. Tình trạng sa thải lao động, ngay cả lao động trình độ cao cũng đứng trước nguy cơ mất việc gia tăng chưa từng có, đã đặt châu Âu ở tình trạng báo động nghiêm trọng nhất so với những lần khủng hoảng trước đây. Tại châu Á, Ấn Độ, nước có tốc độ tăng trưởng hàng đầu, quý IV năm 2008 đã mất đi trên 50 vạn việc làm. Với việc đóng cửa nhiều nhà máy, đến tháng 3 năm 2009, số người thất nghiệp tại Trung Quốc đã vượt qua con số 23 triệu.

Trong xu thế cắt giảm việc làm đang lớn cả về quy mô và địa bàn thì lĩnh vực chịu tác động lớn là xây dựng, sản xuất chế biến và dịch vụ là những ngành được coi là thế mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam. Thực tế ở nhiều nước nguy cơ mất việc khiến người lao động phải trở về nước trước thời hạn là điều khó tránh. Đầu năm 2009, Hàn Quốc, Đài Loan, Malayxia, Quata, Singapore, CH Sec… đã không chỉ ngừng tiếp nhận mà còn tìm mọi lý do để đưa lao động Việt Nam trở về trước hạn.

Continue reading

LAO ĐỘNG CHUI VÀ CẠNH TRANH

HUY ĐỨC

Con số lao động “chui” người Trung Quốc không chỉ là hàng trăm như báo chí rụt rè lên tiếng mấy tháng trước đây mà lên tới 35.000, theo công bố của bộ Công an. Tuy rằng, đây vẫn là một “thống kê chưa đầy đủ”. Một quan chức của bộ, thiếu tướng Đặng Thái Giáp, cho biết: “một số doanh nghiệp Trung Quốc đưa người lao động vào cả khu vực biên giới…” Theo ông Giáp, tình trạng này “tiềm ẩn các phức tạp về an ninh trật tự”.

Mặc dù những thông tin mà bộ Công an công bố là rất đáng lo ngại nhưng, liền sau đó, bà bộ trưởng bộ Lao động thương binh và xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhanh chóng trấn an: “Chúng tôi chưa thể đưa số lao động này về nước trong ngày một, ngày hai. Chúng tôi phải làm việc với các doanh nghiệp… giải thích cho họ biết”. Hồi tháng 6.2009, bà Kim Ngân đã tránh các chất vấn ở Quốc hội bằng những câu trả lời khéo léo của mình. Tuy nhiên, trước những cảnh báo của bộ Công an về tình trạng lao động chui, pháp luật cần phải được thực thi ngay chứ không chỉ là ăn nói sao cho mềm mỏng.

Trong năm 2008, Trung Quốc có đội quân thất nghiệp lên tới hơn 20 triệu người. Không có gì ngạc nhiên khi “đội quân” này được tạo điều kiện tối đa đi sang Việt Nam. Theo thiếu tướng Đặng Thái Giáp: “Nhiều người không đủ tiêu chuẩn lao động, có người chỉ là lao động phổ thông nhưng phía Trung Quốc vẫn cấp hộ chiếu công vụ”. Khi đã nhập cảnh Việt Nam bằng visa ba tháng thì, đúng như lời bà Ngân, những người này có thể đi vào bất kỳ nơi đâu.

Bà Ngân nói điều đó để giải thích với Quốc hội rằng, vấn đề “lao động chui người nước ngoài” không chỉ có bộ Lao động thương binh và xã hội chịu trách nhiệm mà phải cả Công an, Ngoại giao, Biên phòng. Đúng là trách nhiệm không chỉ “đổ” cho bộ Lao động thương binh và xã hội. Nhưng, việc Công an, Biên phòng cho phép một người có visa hợp pháp nhập cảnh và đi lại trên lãnh thổ Việt Nam và việc những người ấy sử dụng visa du lịch rồi ở lại làm việc là hai vấn đề hoàn toàn khác.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG ĐIỀU 17 CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty luật Phước & Partners

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình trạng khó khăn. Vì vậy, việc cắt giảm chi phí hoạt động nói chung và chi phí lao động nói riêng là một trong những việc cấp thiết phải làm của các doanh nghiệp để có thể duy trì hoạt động. Việc cắt giảm chi phí lao động có nhiều cách, như không ký lại hợp đồng lao động sắp hết hạn, không tăng lương và trợ cấp, không thưởng thành tích, cắt giảm các khoản vui chơi, giải trí cho người lao động, cắt giảm các khoản phúc lợi không cam kết trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể.

Tuy nhiên, những cắt giảm này thường không thể triển khai nhanh, nhiều và đồng bộ được. Cái có thể đạt mục đích nhanh nhất mà người sử dụng lao động thường nhắm tới là chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động và chấp nhận trả trợ cấp mất việc theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007).

Bộ luật Lao động (BLLĐ) hiện hành – văn bản luật được ban hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như người sử dụng lao động đã quy định về chấm dứt hợp đồng với người lao động và trả trợ cấp mất việc tại Điều 17 như sau: “Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trợ cấp mất việc làm…”. Cụm từ do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ được Chính phủ giải thích thêm tại Điều 11 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm bao gồm một trong các trường hợp sau:

Continue reading