SỬA NHỮNG BẤT CẬP TRONG XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

LS. HÀ XUÂN BỘ

Những quy định về hình thức kỷ luật lao động và người bào chữa trong Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã tạo hành lang pháp lý, góp phần tích cực vào việc đảm bảo trật tự sản xuất kinh doanh, kỷ luật lao động trong DN và quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động (NLĐ).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn phát sinh một số bất cập, vướng mắc chưa được xem xét, sửa đổi tại dự thảo BLLĐ (sửa đổi) lần này.

Bất cập trong áp dụng hình thức kỷ luật sa thải

Trong các hình thức kỷ luật lao động được quy định trong BLLĐ, đáng chú ý là sa thải, bởi đây là hình thức kỷ luật nặng nhất. Nếu bị xử lý theo hình thức này, NLĐ sẽ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bản thân và gia đình. Vì vậy, cần có quy định thật cụ thể, chi tiết và chặt chẽ.

Tại Điều 85 BLLĐ đã quy định một số trường hợp cụ thể được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, gồm: NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh; NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm; NLĐ tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm..

Chính quy định cụ thể này đã tạo thuận lợi cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong việc áp dụng và NLĐ khi bị kỷ luật sa thải cũng thấy thoả mãn, tránh được những tranh chấp dẫn đến khiếu nại, khởi kiện không đáng có.

Tuy nhiên, Điều 85 BLLĐ cũng quy định "có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của DN". Vậy hành vi khác theo quy định này là hành vi nào? Mức thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng? Đây là vấn đề còn có những ý kiến, những quan điểm khác nhau.

Continue reading

Giải quyết việc làm góp phần bảo đảm ổn định xã hội và TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM GÓP PHẦN BẢO ĐẢM ỔN ĐỊNH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG

ĐẶNG NHƯ LỢI – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Việc làm có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động và đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Sau 20 năm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, song tại Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa…Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010”.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngày 6/72007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2005 – 2010 với:

– Mục tiêu chung: tạo việc làm cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 – 2010; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.

– Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, tạo việc làm cho 2 – 2,2 triệu lao động, trong đó: thông qua các dự án vốn vay tạo việc làm từ Quỹ quốc gia tạo việc làm cho 1,7 – 1,8 triệu lao động; từ xuất khẩu lao động tạo việc làm cho 40 – 50 vạn lao động.

+ Thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn và giới thiệu cho 4 triệu lao động.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 133/BC-LĐTBXH NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ THỰC TRẠNG CUNG – CẦU LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, giai đoạn 2000 – 2006, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân tăng 7,8%/năm và riêng năm 2007 đạt 8,47% (cao nhất trong vòng 20 năm qua); năm 2008, do bị ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, GDP của Việt Nam tuy có giảm, nhưng vẫn đạt 6,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng (năm 2008, cơ cấu kinh tế tương ứng là: 22,10% – 39,73% – 38,17%).

Quan hệ thương mại quốc tế phát triển tốt, kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 22%, năm 2008 tăng 29,5%; mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn, chuyển dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu các mặt hàng chế tác (năm 2005: 50,4%, năm 2007: 52,4%); nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2008 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đưa vào Việt Nam đạt mức kỷ lục (64 tỉ USD), đã góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng GDP cao của Việt Nam.

Việc thực hiện hiệu quả các chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích sản xuất, kinh doanh trong nước đã thúc đẩy tăng nhanh số doanh nghiệp trong nước qua các năm (năm 2005: 112.950 doanh nghiệp, năm 2006: 131.318 doanh nghiệp, năm 2007: 155.771 doanh nghiệp, năm 2008: 201.106 doanh nghiệp). Cơ cấu doanh nghiệp thay đổi theo hướng giảm doanh nghiệp nhà nước (năm 2005: 3,62%, năm 2006: 2,82%, năm 2007: 2,2%, năm 2008: 1,7%).

Đặc biệt, sau 12 năm đàm phán, ngày 7/11/2006, tại phiên họp bất thường của Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã được kết nạp và là thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, là kết quả của quá trình đổi mới, thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trở thành thành viên của WTO trong bối cảnh kinh tế toàn cầu liên tục biến động đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục quá trình đổi mới toàn diện, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trên thị trường quốc tế; đồng thời, cần tập trung giải quyết những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa bức xúc trước mắt, nhất là vấn đề lao động – việc làm trong kinh tế thị trường, quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật so sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, chúng ta đã xây dựng được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mối quan hệ kinh tế này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hay còn gọi là xuất khẩu lao động (XKLĐ). Hoạt động XKLĐ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng đến nhiều quốc gia và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp ứng một phần nhu cầu về nguồn lao động của các nước, với đủ các loại hình lao động khác nhau. Đồng thời, hoạt động này đã tạo cho người lao động Việt Nam nhiều cơ hội làm việc, tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt. Tuy nhiên, xung quanh hoạt động XKLĐ đang tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2009 Việt Nam đã có hơn 96.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macau và một số quốc gia Trung Đông… (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ.

Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, để đạt mục tiêu tăng số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2010 là hơn 100.000 lao động, Cục sẽ thực hiện một số giải pháp trọng tâm như đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động sang thị trường trọng điểm Malaysia; mở rộng các thị trường mới, thị trường có thu nhập cao, khuyến khích XKLĐ có nghề, lao động kỹ thuật…

So với nguồn lao động dồi dào của Việt Nam hiện nay, thì việc hoàn thành chỉ tiêu trên không phải là khó. Nếu như trong thời gian qua, các hoạt động liên quan tới việc XKLĐ được thực hiện nghiêm túc, có sự quản lý tốt, thì chắc chắn con số đi lao động ở nước ngoài còn lớn hơn nhiều, so với kết quả đã đạt được.

Continue reading

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

NGUYỄN MINH HẢI – Ban Thực hiện chính sách BHXH Việt Nam

Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. Mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, để góp phần giải quyết t́nh trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă có Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Trên cơ sở của Công ước này, nhiều nước đă ban hành chính sách về bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, nói chung ở các nước trên thế giới, trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp thường là chế độ ra đời muộn nhất bởi phạm vi thất nghiệp không thể dự báo được chính xác như các chế độ khác, hơn nữa việc quản lư bảo hiểm thất nghiệp là khó khăn do đó vấn đề xác định tài chính của bảo hiểm thất nghiệp luôn là trở ngại khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác, chúng ta cũng phải hiểu rằng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ cực kỳ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế với sự gia tăng của số người thất nghiệp nhưng lúc này đồng nghĩa với việc quỹ bảo hiểm thất nghiệp giảm đi nhanh chóng do bội chi và như vậy, tính bảo hiểm sẽ không c̣n nữa.

Một điểm cần lưu ư nữa là vấn đề quản lư. Nếu không quản lư được đối tượng đồng nghĩa với việc không thành công của chế độ bảo hiểm này bởi lẽ không biết người lao động đang hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp có việc lại lúc nào để ngừng hưởng trợ cấp. Cũng v́ vấn đề này mà năm 1990 Ấn Độ đă cho ra đời chế độ bảo hiểm thất nghiệp rồi đến năm 1992 lại phải ngừng lại v́ không quản lư được.

Continue reading

VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

TS. PHẠM ĐÌNH THÀNH

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta được quy định tại Luật BHXH và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. Để giúp bạn đọc thấy rõ hơn về hiện trạng thị trường lao động Việt Nam cũng như các chính sách tác động đến thị trường lao động đã và sẽ thực hiện, chúng tôi giới thiệu những lý luận cơ bản về chính sách việc làm, chính sách thị trường lao động ở các nước công nghiệp đã phát triển để từ đó so sánh và đưa ra những giải pháp thích hợp cho việc tổ chức thực hiện và hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.

Vị trí của thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường người ta phân chia ra nhiều thị trường khác nhau theo phạm vi, nội dung và tính chất hoạt động riêng biệt của từng loại “hàng hoá”. Nhưng tựu chung lại, có thể thấy được 3 loại thị trường khái quát, mang tính đại diện, đó là thị trường hàng hóa, thị trường tư bản (thị trường tiền tệ) và thị trường lao động. Một nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽ thể hiện sự phát triển đồng bộ của cả 3 thị trường này và đặc biệt sẽ thấy rõ được mối quan hệ tác động tương hỗ chặt chẽ giữa các thị trường theo mô hình sau (Bảng biểu trang 19).

Khởi điểm của mọi quá trình xem xét được bắt đầu từ thị trường hàng hoá. Mỗi quá trình sản xuất sẽ ứng với một nhu cầu nhất định về sức lao động, hay nói cách khác nhu cầu về sức lao động phụ thuộc vào việc sản xuất hàng hoá – gọi là “cầu về lao động”. Thị trường hàng hoá thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, nhưng nó lại phụ thuộc lớn vào vấn đề đầu tư và sự hoạt động tích cực của thị trường tiền tệ cũng như thị trường vốn. Sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất có tác động mạnh mẽ đến thị trường hàng hoá: lãi suất cao thì không khuyến khích được sản xuất, thậm chí còn kìm hãm phát triển sản xuất và đi cùng với nó là sự giảm về nhu cầu lao động, có thể giảm cả chỗ làm việc.

Continue reading

QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THÔI VIỆC HOẶC MẤT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ ANH THƠ

Pháp luật Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ tốt nhất có thể các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc biệt khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, lao động, bảo hiểm… ngày càng phát triển. Chính vì vậy, nhu cầu phải được pháp luật điều chỉnh nói chung và đặc biệt là đối với lĩnh vực BHXH cho người lao động nói riêng thông qua các quy định của pháp luật với những chế tài hữu hiệu ngày càng trở nên cấp thiết.

Có thể thấy rằng, để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHXH hầu hết các nước trên thế giới đều đã ban hành các đạo luật về BHXH hoặc bảo đảm xã hội. Về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đến nay đã có gần 70 quốc gia thực hiện, mà sớm nhất là Vương quốc Anh, bắt đầu thực hiện từ năm 1911, Hợp chủng quốc Hoa kỳ thực hiện vào năm 1935, Cộng hoà Pháp thực hiện năm 1958, Trung quốc bắt đầu thực hiện năm 1986… ở Việt Nam ngày 29/6/2006, Luật BHXH đã được Quốc hội thông qua trong đó quy định thời điểm có hiệu lực thực hiện BHTN từ 01/01/2009.

Xét dưới góc độ tự nhiên, con người suy cho cùng để sống bình thường, ai cũng phải ăn, mặc, ở, đi lại… và đặc biệt là phải lao động. Nhưng cũng vẫn là cuộc sống bình thường, ngày nay cũng là chuyện rất mới. Giữa cái cũ và mới ấy, có thể nhận ra sự khác nhau về cách làm, đó là làm dựa trên kinh nghiệm hay khoa học – công nghệ, thụ động trước những rủi ro hay ta tìm cách chế ngự chúng… Và sự phát triển đó là một quá trình, ví như ngày nay, sức lao động cá nhân hiện đại không còn là tự cung, tự cấp như xưa nữa mà đã là hàng hoá, mà đã là hàng hoá thì lại phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu của thị trường lao động, khi cung lớn hơn cầu là vấn đề thiếu việc làm, vấn đề thất nghiệp được đặt ra. Tìm cách hạn chế bớt những rủi ro có thể xảy ra với con người, BHTN đã ra đời, và tuỳ vào điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia mà BHTN được thực hiện sớm hoặc muộn.

Continue reading

AI PHẢI CHỊU CHI PHÍ ĐÀO TẠO?

LS. NGÔ QUANG THỤY

Một trong những vấn đề về lao động gây đau đầu đối với các doanh nghiệp đó là yêu cầu người lao động bồi hoàn chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nếu không thực hiện đúng hoặc đầy đủ cam kết với doanh nghiệp.

Trên thực tế, do mặt bằng đào tạo ở Việt Nam còn yếu kém, các công ty đa quốc gia, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao thường gửi nhân viên chủ chốt người Việt Nam ra nước ngoài để nâng cao tay nghề. Việc đào tạo thường gắn với điều kiện là những nhân viên này khi kết thúc khóa đào tạo phải quay lại làm việc cho công ty đã gửi họ đi trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên khi mà một trong số những người được đào tạo từ chối quay lại làm việc theo cam kết và vụ việc được đưa ra xét xử tại cơ quan tòa án có thẩm quyền, phía doanh nghiệp thường nắm chắc phần thua nếu người lao động được coi là chấm dứt hợp đồng lao động “đúng luật”.

Không nói đến những tác động tiêu cực về mặt xã hội hoặc kinh tế mà hiện tượng trên gây ra, bài viết này tập trung phân tích ý kiến hoặc quyết định của các cơ quan nhà nước hữu quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) (qua công văn trả lời cho doanh nghiệp về vấn đề bồi thường chi phí đào tạo) hoặc tòa án (qua các phán quyết có lợi cho người lao động trên thực tế) dưới góc độ quy định luật pháp hiện hành.

Ai đúng, ai sai?

Công văn của Bộ LĐ-TB&XH và phán quyết của cơ quan tòa án thường dẫn chiếu một cơ sở pháp lý duy nhất: điều 13 Nghị định số 44 của Chính phủ ngày 9-5-2003. Cụ thể điều 13 quy định như sau: “Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 9-1-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung”.

Continue reading

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ Ở NƯỚC TA: THÀNH TỰU, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

PGS.TS. ĐÀO VĂN DŨNG

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Trải qua gần 17 năm thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, với ba lần thay đổi Nghị định, BHYT đã đã tạo nên những thay đổi quan trọng không chỉ về cơ chế, chính sách tài chính y tế mà còn tác động đến nhiều mặt của hoạt động khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) cho nhân dân và đã đạt được những kết quả nhất định.

1. Hệ thống tổ chức bộ máy và chính sách BHYT từng bước được hoàn thiện

Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992. Theo Điều lệ BHYT được ban hành kèm theo Nghị định 299/NĐ/CP của Chính phủ, BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh và ngành trực thuộc BHYT Việt Nam. Đến 1998, thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ, BHYT Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ trung ương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước. Từ 1-1-2003, BHYT sáp nhập vào Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách BHYT. Đến ngày 8-8-2005 Chính phủ đã có Quyết định thành lập Vụ BHYT thuộc Bộ Y tế để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT.

Trong gần 17 năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHYT, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách BHYT, góp phần tích cực tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4, vào ngày 14-11-2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-2009 và ngày này đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định là Ngày BHYT Việt Nam theo Quyết định số 823/QĐ-TTg ngày 16-6-2009. Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắc phục được những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

Continue reading

LAO ĐỘNG NỮ TRONG KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC Ở NƯỚC TA

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Lao động

Aunque los esteroides anabólicos y el Viagra genérico se comercializan como un suplemento para bajar de peso y reducir los niveles de colesterol, los estudios en humanos sobre los posibles beneficios son limitados y mixtos. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se encuentra comúnmente en los productos lácteos y la carne de res, y está fabricado por microbios que viven en el intestino de ciertos animales. También se encuentra en todo el cuerpo. Esteroides anabólicos y genéricos El Viagra se comercializa a menudo como un suplemento para la pérdida de peso. Estudios en animales sugieren suplementos de Viagra con esteroides anabólicos y genéricos malegra dxt puede mejorar la sensibilidad a la insulina y los perfiles de lípidos en sangre, disminuir la grasa corporal y reducir los riesgos de cáncer y enfermedades cardiovasculares. Sin embargo, muchos de estos efectos no se han replicado en humanos o los estudios muestran resultados mixtos. Además, también existe la preocupación de un posible aumento del riesgo de enfermedad cardiovascular con la ingesta alta de esteroides anabólicos y Viagra genérico. Por lo tanto, se necesitan más estudios bien diseñados para determinar bajo qué condiciones Los esteroides anabólicos y los medicamentos genéricos La suplementación con Viagra demuestra seguridad y cualquier beneficio.

nữ chiếm 47,8 % lực lượng lao động trong độ tuổi, nhưng chiếm đa số trong lực lượng lao động phổ thông ở nước ta(1). Song, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập liên quan đến quyền lợi của họ. Giải quyết được những bất cập, tồn tại đối với lao động nữ là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay.

I – Đánh giá tổng quan về vấn đề lao động, việc làm đối với lao động nữ trong khu vực kinh tế chính thức(2)

Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả nam và nữ đều có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khẳng định, tiềm năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm ở cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

1 – Thực trạng lao động nữ trong lao động, việc làm, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực

Báo cáo thống kê gần nhất của Tổng cục Thống kê (đầu năm 2008), dân số nước ta có khoảng 86,3 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,9%. Tính riêng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, cả nước có khoảng 44,1 triệu lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, trong đó có gần 21,1 triệu lao động là nữ (chiếm 47,8%).

 – Theo số liệu một cuộc điều tra về lao động – việc làm năm 2007 cho thấy, lao động nữ tham gia vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, nhưng lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, thậm chí nhiều người chỉ tốt nghiệp tiểu học, không tiếp tục học lên mà tham gia ngay vào thị trường lao động. Đa số phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực: dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%); sành, sứ, thủy tinh (59,2%). Nhìn chung, lao động phổ thông nữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9%), sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước là 49,1%. Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG – NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN

LS. LÊ TRUNG SƠN – Giám đốc Công ty Luật Niềm Tin Việt

Nền kinh tế hội nhập ngày càng phát triển đòi hỏi phải có đội ngũ lao động lành nghề, làm chủ được công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, như vậy mới tạo ra được năng suất lao động cao, tạo ra được sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao tính cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác. Để thực hiện được điều này, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư cho người lao động trong doanh nghiệp mình được học tập nâng cao tay nghề, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong thực tế có một số doanh nghiệp đã và đang gặp phải vấn đề đó là, sau khi được đào tạo, được tiếp thu kiến thức về kinh doanh, về khoa học kỹ thuật thì người lao động lại bỏ doanh nghiệp đã đài thọ cho mình đi học để tìm đến những doanh nghiệp khác với nhiều lý do khác nhau. Điều này làm cho doanh nghiệp “vừa mất người vừa mất của”.

Người đã muốn ra đi thì khó mà giữ lại được đã đành, vậy còn số tiền đã bỏ ra để cho người lao động ăn học có lấy lại được không? người lao động có buộc phải trả không? Có phải bồi thường không? Đó là những câu hỏi mà nhiều doanh nghiệp đang đặt ra.

Để giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin nêu ra một tình huống như sau:

Ông Nguyễn Văn A tốt nghiệp Đại học Bách khoa chuyên ngành tự động hoá, là chuyên viên kỹ thuật của Công ty X – một công ty chuyên lắp ráp thiết bị điện tử. Ông A làm việc cho công ty X trên cơ sở Hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Quá trình làm việc tại doanh nghiệp, ông A thể hiện là một kỹ sư có năng lực, chính vì vậy, công ty có kế hoạch gửi ông A sang Nhật Bản để học tập nâng cao trình độ với mong muốn sau khi trở về sẽ bổ nhiệm làm giám đốc kỹ thuật phục vụ lâu dài cho công ty. Kế hoạch này công ty đã trao đổi với ông A và ông A hoàn toàn đồng ý. Để ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên, trước khi đi học, công ty X và ông A cùng ký một văn bản thoả thuận với nội dung: Công ty sẽ đài thọ cho ông Nguyễn Văn A đi học tập nâng cao trình độ về thiết bị điện tử và tự động hoá tại Nhật Bản với toàn bộ kinh phí là 40.000 USD trong thời gian 1 năm. Sau khi học xong, ông Nguyễn Văn A cam kết sẽ làm việc cho công ty X trong thời gian ít nhất là 7 năm. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn A không làm việc cho công ty khi chưa hết thời hạn 7 năm theo cam kết thì ông A sẽ phải bồi thường cho công ty toàn bộ số tiền mà công ty đã bỏ ra để đài thọ cho ông A đi học.

Continue reading

BỐN BƯỚC BẢO VỆ THÔNG TIN MẬT TRONG DOANH NGHIỆP

NGUYỄN HỮU PHƯỚC & ĐINH QUANG THUẬN – Công ty Luật Phuoc & Partners

Mỗi công ty đều có thông tin mật theo ngành nghề riêng của mình. Đó là những thông tin có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho công ty nếu các đối thủ cạnh tranh cố ý hoặc tình cờ khám phá được. Có nhiều nguồn mà theo đó thông tin mật về kinh doanh có thể bị rò rỉ cho các đối thủ cạnh tranh và một trong những nguồn rò rỉ thông tin khó quản lý nhất là từ các nhân viên cũ.

Về nguyên tắc, khi một nhân viên và công ty ký hợp đồng lao động, mối quan hệ lao động giữa hai bên phát sinh. Tuy nhiên, khi hợp đồng lao động chấm dứt, mối quan hệ lao động giữa công ty và nhân viên kết thúc, mối quan hệ giữa hai bên (nếu có) sẽ thuần túy là mối quan hệ dân sự và được điều chỉnh theo luật dân sự Việt Nam. Trong tình huống như vậy, làm sao doanh nghiệp có thể bảo vệ thông tin mật của mình? Dưới đây là bốn bước doanh nghiệp có thể thực hiện để giảm bớt thiệt hại.

Bước 1

Yêu cầu nhân viên ký thỏa thuận không tiết lộ.

Điều 85, Bộ luật Lao động Việt Nam quy định rằng nhân viên làm việc tại một doanh nghiệp có trách nhiệm bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ và kinh doanh của doanh nghiệp đó. Nếu nhân viên vi phạm hành vi tiết lộ bí mật công nghệ và kinh doanh, nhân viên đó sẽ chịu hình thức kỷ luật là sa thải.

Ngoài ra, điều 129.5 của bộ luật trên cũng quy định nhân viên có năng lực về kỹ thuật và kỹ năng chuyên môn cao mà tiết lộ bí mật công nghệ và kinh doanh phải chịu trách nhiệm về việc bồi thường cho các thiệt hại đã gánh chịu.

Do vậy, bước đầu tiên trong kế hoạch bảo vệ thông tin hiệu quả là yêu cầu từng nhân viên vào thời điểm tuyển dụng (hoặc vào thời điểm nhân viên đó thay đổi vị trí công tác và trong cương vị mới, sẽ phải truy cập thông tin mật) ký kết thỏa thuận không tiết lộ, còn được gọi là NDA (Non – disclosure aqreement).

Continue reading

KHÔNG PHÙ HỢP THỰC TẾ

TRẦN SƠN NGHĨA

Nếu lương bình quân của người lao động dưới 5 triệu đồng một tháng thì lương bình quân của thành viên chuyên trách hội đồng quản trị, tổng giám đốc không được vượt quá 10 lần là một nội dung của Dự thảo Nghị định quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với các công ty có phần vốn góp chi phối của Nhà nước, đang được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội lấy ý kiến.

Có nhiều ý kiến cho rằng, nội dung này của dự thảo không  phù hợp với thực tế thị trường hiện nay. Một mặt, theo ông Trần Bảo Minh, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Vinamit, việc khống chế mức lương trần ở các công ty có phần vốn góp chi phối của Nhà nước sẽ làm cho loại hình doanh nghiệp này khó tuyển dụng được người tài và giữ họ gắn bó lâu dài với công ty. Ngoài ra, đặc thù kinh doanh của từng ngành khác nhau làm cho số lượng nhân công và trình độ lao động của mỗi doanh nghiệp khác nhau, dẫn đến mức lương của mỗi đơn vị khác nhau. Đơn cử, ở một doanh doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động trực tiếp có mức lương thấp, mức lương trần của vị giám đốc công ty cũng bị ảnh hưởng theo.

Ngược lại, theo tổng giám đốc của một công ty trong ngành nông nghiệp, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “lương giám đốc cao hơn nhân viên 10 lần thì tôi mừng quá…! Mức lương hiện giờ của tôi thấp hơn dự thảo quy định nhiều”. Hiện lương của ông chỉ cao hơn lương nhân viên chưa tới ba lần. Do ngành nông nghiệp có đặc thù riêng, lợi nhuận thấp và Nhà nước vẫn còn hỗ trợ, trừ các ngành kinh doanh như lúa gạo, thủy sản, các sản phẩm từ sữa.

Vị giám đốc trên cũng nói rằng, dù vậy, nhưng so với lương của những tổng công ty nhà nước hoạt động trong ngành phân bón hoặc xây dựng thì mức lương cao hơn nhân viên 10 lần lại quá thấp so với mức lương thực nhận của họ. Vì vậy, để dự thảo nghị định này đi vào cuộc sống, Nhà nước nên cân nhắc quy định lại mức lương trần, theo từng ngành nghề khác nhau. Không thể so sánh mức lương của một tổng giám đốc công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, mỗi năm mang về cho Nhà nước vài trăm triệu đô la với mức lương của một giám đốc hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, phụ thuộc vào mùa vụ, thu nhập bất thường.

Continue reading

MÔ HÌNH MỚI CHO QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TÂY GIANG

Một thiết chế mới về quan hệ lao động đang được nhóm nghiên cứu xây dựng và đề xuất tại một dự thảo đề án lớn sẽ được trình trong thời gian tới. Điểm đáng lưu ý của thiết chế mới này là nó xây dựng lên một mô hình quan hệ lao động hoàn toàn mới, khác hẳn với những quy định đang được phản ánh qua hệ thống văn bản pháp luật hiện nay.

Trao đổi với báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông Nguyễn Mạnh Cường, vụ trưởng, giám đốc trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (CIRD) cho biết, mô hình quan hệ lao động mới này sẽ xác định hai vấn đề phát triển cốt lõi, đó là công đoàn và đối thoại thương lượng. Với chủ đích của mình, Nhà nước sẽ không thể dùng các công cụ hành chính như hiện nay mà sẽ chủ yếu điều phối quan hệ lao động bằng những giải pháp mềm.

Dự kiến, một hội đồng ba bên quốc gia về quan hệ lao động sẽ được thành lập bao gồm cơ quan nhà nước, công đoàn và đại diện giới chủ. Hội đồng này sẽ giống như một cơ quan tham vấn cho Chính phủ về các chính sách lao động và quan hệ lao động. Đây không phải là một tổ chức, mà chỉ là cơ chế hoạt động tham vấn ý kiến ba bên về lĩnh vực này. Tuỳ theo yêu cầu thực tiễn, hội đồng sẽ thành lập ra các tiểu ban về lương tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động, năng suất lao động… Các tiểu ban này sẽ tổ chức ra những cuộc thương lượng cấp quốc gia về các vấn đề tiêu chuẩn lao động như vậy nhằm định hướng cho các cuộc thương lượng ở cấp dưới.

Hội đồng lao động này sẽ được thành lập ở cấp doanh nghiệp, cơ chế này tồn tại song song với công đoàn và không thay thế công đoàn. Ở những doanh nghiệp có tổ chức công đoàn thì công đoàn sẽ tham gia, ở những doanh nghiệp không có tổ chức công đoàn cơ sở, người lao động có thể bầu ra các đại diện cho mình để tham gia vào hội đồng này.

Continue reading

Tìm hiểu chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay – NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CÓ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM

PGS.TS. CAO DUY HẠ

Các Đảng dân chủ xã hội cầm quyền ở nhiều nước hiện nay đang thực hiện cải cách chính sách thị trường lao động. việc làm theo những xu hướng chính sau đây:

I. Chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay
1. Xu hướng chung:

Một là, giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, việc làm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay và sự tác động từ nhiều phía vào nền kinh tế của từng quốc gia, đặc biệt là sự tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các Đảng dân chủ xã hội và chính phủ của họ phải thực thi các chính sách quản lý giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, nâng cao tính năng động tự thân vận động của thị trường lao động, việc làm, chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế thị trường đạt hiệu quả cao không bị rơi vào tình trạng ngõ cụt.

Hai là, khống chế tiền lương thấp và trợ cấp thất nghiệp, đây là những chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc lôi kéo đông đảo người lao động tham gia thị trường lao động, tăng số người có việc làm, giảm số người thất nghiệp, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân; khắc phục tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thậm chí âm.

Ba là, thực hiện một thiết chế quan hệ xã hội mới về thị trường lao động, việc làm đó là : Nhà nước, giới chủ và người lao động là 3 chủ thể nằm trong chính sách điều tiết thị trường lao động, việc làm. Thiết chế này mang tính xã hội mềm dẻo hơn và người lao động cũng có vai trò quan trọng nhất định, buộc Nhà nước mỗi khi đề ra chính sách thị trường lao động, việc làm phải cân nhắc kỹ càng hơn, bảo đảm hài hoà các lợi ích Nhà nước, giới chủ và người lao động.

Continue reading

TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM CỦA MỘT SỐ ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CÓ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM

PGS.TS. CAO DUY HẠ

Các Đảng dân chủ xã hội cầm quyền ở nhiều nước hiện nay đang thực hiện cải cách chính sách thị trường lao động. việc làm theo những xu hướng chính sau đây

I. Chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay
1. Xu hướng chung:

Một là, giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, việc làm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay và sự tác động từ nhiều phía vào nền kinh tế của từng quốc gia, đặc biệt là sự tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các Đảng dân chủ xã hội và chính phủ của họ phải thực thi các chính sách quản lý giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, nâng cao tính năng động tự thân vận động của thị trường lao động, việc làm, chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế thị trường đạt hiệu quả cao không bị rơi vào tình trạng ngõ cụt.

Hai là, khống chế tiền lương thấp và trợ cấp thất nghiệp, đây là những chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc lôi kéo đông đảo người lao động tham gia thị trường lao động, tăng số người có việc làm, giảm số người thất nghiệp, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân; khắc phục tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thậm chí âm.

Ba là, thực hiện một thiết chế quan hệ xã hội mới về thị trường lao động, việc làm đó là : Nhà nước, giới chủ và người lao động là 3 chủ thể nằm trong chính sách điều tiết thị trường lao động, việc làm. Thiết chế này mang tính xã hội mềm dẻo hơn và người lao động cũng có vai trò quan trọng nhất định, buộc Nhà nước mỗi khi đề ra chính sách thị trường lao động, việc làm phải cân nhắc kỹ càng hơn, bảo đảm hài hoà các lợi ích Nhà nước, giới chủ và người lao động.

Continue reading

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: SA THẢI NHÂN VIÊN VÌ LỪA ĐỐI NHẬN THƯỞNG

HOÀNG LAM

Mức kỷ luật này quá nặng so với quy định của Bộ luật Lao động.

Năm 2005, anh T. (quận Phú Nhuận, TP.HCM) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn để làm công nhân cho một công ty của Nhật Bản có chi nhánh tại Việt Nam. Năm 2007, công ty thông báo hứa thưởng cho nhân viên cũ có công giới thiệu nhân viên mới vào công ty. Nếu người mới ký hợp đồng và làm việc dưới hai tháng thì người giới thiệu được thưởng 50 ngàn đồng, làm trên hai tháng thì thưởng 100 ngàn đồng, làm trên sáu tháng thì thưởng 150 ngàn đồng.

Muốn hưởng tiền thưởng, anh T. mạo nhận mình có giới thiệu một số nhân viên mới. Thật không may, công ty phát giác hành vi mạo nhận này nên đưa anh T. ra xem xét kỷ luật. Bởi lẽ khi đối chiếu thực tế, các nhân viên do anh T. mạo nhận giới thiệu đã khẳng định mình không hề quen biết anh T., cũng chưa từng nhờ anh nộp hồ sơ giúp.

Cuối tháng 2-2008, công ty lập biên bản kỷ luật anh T. về hành vi “vi phạm gian dối để nhận tiền công ty”, đồng thời ra quyết định sa thải anh T. với lý do “lừa dối nhận tiền công ty”. Điều này đồng nghĩa với việc công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh.

Cho rằng mình bị sa thải trái luật, anh T. nộp đơn kiện công ty ra TAND quận nơi công ty đặt trụ sở. Theo anh T., hành vi mạo nhận của mình tuy có thật nhưng mới là sai phạm lần đầu, chưa gây thiệt hại cho công ty. Bởi lẽ anh chưa nhận của công ty một đồng tiền thưởng nào. Giả như hành vi mạo nhận có trót lọt thì tiền thưởng anh nhận được cũng chỉ khoảng 600 ngàn đồng. Anh T. nói công ty cần áp dụng hình thức kỷ luật khác tương xứng với vi phạm của anh, chứ sa thải thì quá nặng.

Anh T. khẳng định công ty họp xét kỷ luật sa thải mà không mời anh tham gia. Trong đơn khởi kiện, anh yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết định sa thải của công ty, buộc công ty nhận anh trở lại làm việc. Ngoài ra, anh còn yêu cầu công ty trả cho mình hơn 20 triệu đồng, bao gồm tiền bồi thường vì bị sa thải trái luật và tiền lương trong những ngày anh không được làm việc. Nếu không muốn nhận anh trở lại làm việc, công ty phải trả cho anh trợ cấp thôi việc cùng một khoản tiền thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG: VẤN ĐỀ ĐIỀU TIẾT CỦA XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TSKH. PHẠM ĐỨC CHÍNH – Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Ngày nay, cả về phương diện lý thuyết, cả về phương diện thực tế đều thừa nhận rằng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại chỉ có thể đạt được kết quả trong điều kiện kết hợp khả năng tự điều tiết của nó với điều tiết của Nhà nước và xã hội. Dựa trên những công ước và hướng dẫn của Tổ chức lao động thế giới (International Labour Organization-ILO) vấn đề điều tiết của xã hội trên thị trường lao động đã được vận dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và kết quả đạt được cũng rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới được tiếp cận vào những năm gần đây và kết quả đạt được cũng chỉ là rất khiêm tốn, thậm chí đối với nhiều cơ quan quản lý lao động và việc làm thì lĩnh vực này vẫn được cho là hoàn toàn mới mẻ. Vì vậy, tiếp theo bài viết “Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt Nam”1, bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu hơn nữa vào vấn đề điều tiết của xã hội trong lĩnh vực quan hệ lao động- xã hội trong giai đoạn hình thành thị trường lao động ở nền kinh tế đang chuyển đổi của Việt Nam.

I. Khái niệm về điều tiết của xã hội trong thị trường lao động

Điều tiết xã hội-đó là sự tham gia cùng nhau của các bên khác nhau vào soạn thảo và thực hiện những thoả ước lao động xã hội (các chương trình, thoả thuận) trong một thời hạn nhất định. Điều kiện cơ sở để tạo lập nền kinh tế thị trường là quan hệ giữa nhà doanh nghiệp và người lao động để đạt được giữa họ với nhau bầu không khí hòa bình xã hội, còn những mâu thuẫn xuất hiện thì được giải quyết bằng những biện pháp văn minh. Điều tiết xã hội không loại trừ khả năng đòi hỏi của người lao động về tăng lương, thay đổi chế độ làm việc và điều kiện lao động, giảm thuế v.v. Continue reading