THỰC TIỄN TỐ TỤNG DÂN SỰ: TÒA BỊ KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THỤ LÝ

VĂN ĐOÀN

Tòa không nhận đơn kiện vì đất không phải của đương sự trong khi ở quyết định kê biên thì tòa đã khẳng định đất này là của đương sự.

Tòa huyện chỉ đương sự chạy lên tòa thị xã, còn tòa thị xã bảo đã chuyển về tòa huyện.

Giữa năm 2009, do có tranh chấp về tài sản, ông A. đã kiện vợ chồng ông M. ra TAND huyện Tân Châu (tỉnh Tây Ninh). Sau đó ông A. lại tiếp tục yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên toàn bộ tài sản của ông M.

TAND huyện đã ra quyết định khẩn cấp tạm thời, phong tỏa hơn 20 ha đất mà tòa cho rằng đây là tài sản của vợ chồng bị đơn. Nhận thấy tòa kê biên sai và lố, ông M. đã khiếu nại. Ông cho rằng trong khối tài sản này có phần đất của con trai ông. Phần này không hề liên quan đến vụ án nhưng lại bị kê biên gộp vào đất ông là vô lý. Hơn nữa sau khi tìm hiểu, ông biết được tòa huyện cũng không buộc ông A. đóng tiền đảm bảo khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp kê biên. Điều này là trái với quy định.

Kiện tòa vì bị kê biên lố

Ông M. đã khởi kiện TAND huyện Tân Châu vì đã ra quyết định kê biên gây thiệt hại cho ông. Cụ thể là đất của cha con ông đang làm thủ tục thế chấp ngân hàng để lấy tiền làm ăn và trả nợ nhưng khi bị kê biên thì không thể thế chấp được…

Tháng 8-2009, TAND huyện Tân Châu đã trả lại đơn kiện của ông M. Tòa cho rằng ông M. không nói rõ số tiền bồi thường là bao nhiêu và không có tài liệu chứng minh tài sản này là của chính ông…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ĐUỔI BẮT MỆT MỎI ĐỂ … LY HÔN

HOÀNG YẾN

Phía bị đơn không có nơi cư trú cố định hay cố tình lẩn tránh thì nguyên đơn chỉ biết khóc ròng vì ly hôn không được mà vợ chồng cũng chẳng xong.

Năm 2005, vợ chồng chị V. (quận 2, TP.HCM) xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên người chồng bỏ nhà ra đi. Thấy đã cạn nghĩa, chị V. nộp đơn đến TAND quận 2 để xin ly hôn.

Khốn khổ vì cái địa chỉ

Tuy nhiên, tòa đã trả lại đơn vì không biết anh chồng hiện đang ở đâu. Dõi theo chân chồng, chị V. cứ chạy hết tòa này đến tòa khác rồi đành phải lủi thủi vác đơn về vì cứ vài ba tháng anh chồng tạm trú ở nơi quận này, vài ba tháng sau anh lại xin tạm trú nơi khác. Năm năm nay chị V. vẫn chưa thể ly hôn bởi anh chồng thay đổi xoành xoạch chỗ ở.

Tương tự, chị M. (quận Bình Thạnh, TP.HCM) cũng không thể dứt khoát được với chồng. Năm 2001, vợ chồng chị kết hôn nhưng được hơn hai năm anh chồng đã dọn đi chỗ khác. Chị gửi đơn xin ly hôn đến TAND quận Bình Thạnh và cho tòa biết rõ ràng nơi chồng đang ở. Tòa đi xác minh thì người chồng đã chuyển đi chỗ khác. Gọi điện thoại cho chồng đến tòa để làm thủ tục thì chồng trả lời “Muốn làm gì thì làm” nhưng nhất quyết giấu biệt nơi ở. Vì thế, vụ án ly hôn của chị bị tòa đình chỉ vì không có cơ sở thụ lý.

Trường hợp chị E. ở quận 12 (TP.HCM) cũng vậy. Vì mâu thuẫn gia đình, người chồng cũng đã bỏ đi. Sau đó, chị E. có người yêu mới và muốn ly hôn với chồng cũ nhưng nhiều năm nay vẫn chưa được tòa thụ lý vụ án. Nguyên do cũng bởi anh chồng rày đây mai đó nên chị không biết hiện chồng đang ở đâu. Năm 2007, chị về nơi chồng đăng ký thường trú để xin ly hôn nhưng tòa cũng không thụ lý vì lúc này người chồng vừa đi lao động ở nước ngoài… Còn gia đình chồng cũng không cung cấp địa chỉ cho chị.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KHI TÒA ÁN TRONG CUNG HƠN TRỌNG CHỨNG…

HOÀNG YẾN

Trọng chứng hay trọng cung không quan trọng bằng bản lĩnh nghề nghiệp và cái tâm sáng của người thẩm phán khi giải quyết án.

Trên thực tế, xử án dân sự, các tòa thường dựa trên nguyên tắc trọng chứng hơn trọng cung. Tuy nhiên, mới đây Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã dựa trên các lời khai của đương sự để sửa một bản án sơ thẩm. Phán quyết của tòa rất thuyết phục, nhận được đồng tình cao từ phía VKS.

Sơ thẩm: Trọng chứng

Theo hồ sơ, tháng 5-2008, bà NTTT kiện ông Y. (anh chồng) ra TAND TP.HCM đòi chia 1/2 căn nhà ở đường Cô Giang (phường 2, quận Phú Nhuận). Theo bà T., căn nhà trên do cha mẹ chồng cho tiền chồng bà và ông Y. mua năm 1987. Sau đó, anh em họ đã đưa cả gia đình bên chồng về ở chung. Cha mẹ chồng bà bán nhà cũ, anh chị em nào có gia đình thì cho tiền ra ở riêng. Nay chồng bà đã mất, bà làm ăn thất bại, không có nhà ở nên yêu cầu ông Y. chia 1/2 căn nhà cho bà. Kèm đơn kiện, bà T. nộp bản sao giấy tờ nhà đứng tên chồng bà cùng ông Y.

Ngược lại, ông Y. khẳng định cha mẹ ông mua căn nhà trên để hai anh em ông đứng tên giùm. Ý của các cụ là muốn để căn nhà này làm nhà thờ dòng họ lâu dài. Trước đây, tám anh em ông cùng ở chung với cha mẹ tại đây, sau trưởng thành, có gia đình đều được cha mẹ cho tiền ra riêng. Bản thân ông và chồng bà T. cũng không còn ở trong nhà này. Nhà hiện do hai người em ở đó quản lý di sản, thờ cúng cha mẹ. Vì vậy, ông không đồng ý chia một nửa căn nhà cho bà T.

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2009, TAND TP.HCM đã dựa vào giấy tờ nhà để chấp nhận yêu cầu của bà T., bác toàn bộ lời khai của ông Y., của các anh chị em ông (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và các nhân chứng về nguồn gốc căn nhà. Theo tòa, các nhân chứng chỉ nghe lời cha chồng bà T. nói mua nhà, còn cụ thể hơn thì không ai nắm. Ngoài những lời khai thì không có chứng cứ nào khác xác định căn nhà này là do cha mẹ ông Y. để lại cho tất cả anh chị em.

Continue reading

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…

Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN CHA – TÒA HAY SỞ GIẢI QUYẾT

TIẾN HIỂU

Người mẹ nói không hề có chuyện tranh chấp con nên việc xác nhận cha thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở Tư pháp.

TAND TP.HCM đã thụ lý đơn kiện của ông S. (quốc tịch Canada) đòi xác nhận cha cho con. Mẹ của đứa bé đã phản đối vì cho rằng việc công nhận này thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp chứ không phải của tòa.

Muốn kết hôn để con có cha

Người mẹ cho biết bà và ông S. quen nhau khi đi du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2003. Sau chuyến đi, hai người thường liên lạc rồi về sống chung. Được ít lâu, bà có thai.

Lúc này, cả hai chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục kết hôn. Thế nhưng thủ tục sắp hoàn thành thì ông S. đột nhiên từ chối, không muốn kết hôn nữa. Bị từ hôn, bà chịu nhiều áp lực về kinh tế cũng như những lời gièm pha từ gia đình, dòng họ khi phải sinh con một mình.

Tuy chịu nhiều sóng gió, bà vẫn cố níu kéo tình cảm của ông. Có bận bà đã lặn lội đưa con trai sang Canada thuyết phục ông kết hôn để trong giấy khai sinh của con không khuyết tên cha. Những tưởng khi đưa con sang, ông S. sẽ đồng ý nhưng bà chỉ nhận được sự hững hờ.

Nhận thấy mọi cố gắng của mình không thành, bà đưa con trai quay về nước và coi như chưa từng quen biết ông. Kể từ đó, bà đã một mình gồng gánh nuôi con học hành mà không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông. Thỉnh thoảng ông S. quay lại Việt Nam và xin phép bà cho đưa con đi chơi mấy ngày, bà vui vẻ đồng ý…

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THU HỒI QUYẾT ĐỊNH KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ CÓ CƠ SỞ

HÀ TUẤN PHƯƠNG

Nguyễn Thị Oanh, là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên, có 01 chồng và 02 con. Lợi dụng chức vụ được giao, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2005, Oanh đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên số tiền 1.441.158.900đ. Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2006/HSST ngày 12/12/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963, trú tại tổ 01, phường Tân Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ( nguyên là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên ) mức án 15 năm tù giam về tội Tham ô tài sản theo điều 278 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Oanh phải bồi thường 1.441.158.000đ, đã bồi thường 100.000.000đ, phải bồi thường tiếp số tiền 1.341.158.000đ cho Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên. Việc thi hành án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC. Áp dụng điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự: Kê biên ½  giá trị ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên diện tích 130m2 của bị cáo Nguyễn Thị Oanh.

Sau khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh T đã thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc trên. Chấp hành viên  đã tiến hành đầy đủ các biện pháp, trình tự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngôi nhà của gia đình bà Oanh là một thể thống nhất, nếu chia tách sẽ làm giảm trị giá tài sản nên Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; bán đấu giá thành toàn bộ tài sản được 780.300.000đ; đã xử lý ½ số tiền này thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo đúng bản án của Toà án, cụ thể là số tiền 390.150.000đ. Số tiền còn lại là 390.150.000đ lẽ ra trả lại cho ông Lê Quyết Thắng – chồng của Nguyễn Thị Oanh nhưng do chồng bà Oanh đã chết nên Chấp hành viên xác định bà Oanh được hưởng 1/3 di sản thừa kế của chồng, ước tính số tiền là 130.050.000đ và tiến hành kê biên để thi hành án, phần còn lại trả cho gia đình bà Oanh.

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh đã ra quyết định thu hồi Quyết định kê biên tài sản, khoản phải thu hồi là số tiền ước tính hưởng di sản thừa kế 130.050.000đ với lý do bản án đã xác định bị cáo Oanh chỉ có quyền sở hữu giá trị ½ ngôi nhà và quyền sử dụng đất nên cơ quan thi hành án kê biên, bán đấu giá toàn bộ ngôi nhà và đất nhưng chỉ xử lý ½ gía trị ngôi nhà là phù hợp. Hơn nữa, người phải thi hành án là Nguyễn Thị Oanh đang chấp hành án phạt tù, chồng bà Oanh đã chết, 02 con của bà Oanh đều đang ở độ tuổi vị thành niên. Vì vậy, trả lại cho gia đình bà Oanh ½ trị giá ngôi nhà và quyền sử dụng đất, chỉ xử lý tài sản kê biên theo đúng quyết định của Toà án đã kê biên.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CHUYỆN LẠ Ở AN GIANG – XỬ LƯU ĐỘNG … ÁN DÂN SỰ

VĂN ĐOÀN – DƯƠNG HẰNG

Trong thực tiễn xét xử, ngành tòa án chỉ xử lưu động án hình sự để tuyên truyền, giáo dục pháp luật và răn đe tội phạm. Vì vậy, việc thời gian qua ngành tòa án An Giang đem án dân sự ra xử lưu động đang gây băn khoăn về căn cứ pháp lý cũng như danh dự, uy tín, bí mật đời tư của đương sự…

Tháng 9-2009, TAND TP Long Xuyên đã đưa hai vụ tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng góp hụi mà bị đơn là bốn mẹ con bà H. ra xử lưu động tại trụ sở văn phòng khóm nơi bà H. đang sinh sống. Tuyên án, TAND TP Long Xuyên đã buộc bốn mẹ con bà H. phải trả tổng cộng cho các nguyên đơn gần 3 tỉ đồng.

Thành phố: Để tuyên truyền, giáo dục

Tại phiên xử lưu động công khai này, bốn mẹ con bà H. đều vắng mặt. Bà H. cho biết chưa nói đến nội dung bản án đúng hay sai, việc tòa đưa ra xử lưu động kiểu này khiến mẹ con bà cảm thấy rất xấu hổ và rất ngại với hàng xóm, thậm chí còn mất mối làm ăn sau này vì mất uy tín.

Trong thực tiễn xét xử, những vụ án bị đưa ra xét xử lưu động đều là những vụ án hình sự. Việc đưa tranh chấp dân sự ra xử lưu động như trên liệu đã đúng?

Lý giải, thẩm phán Trần Văn Nghĩa, Chánh án TAND TP Long Xuyên, nói: “Chúng tôi từng đưa nhiều vụ án dân sự ra xét xử lưu động nên việc này không có gì lạ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đưa những vụ dân sự điển hình, có tính giáo dục, răn đe cao ra xử lưu động mà thôi”.

Ông Nghĩa cho biết thêm: “Trong tài liệu hội nghị triển khai công tác năm của TAND Tối cao cũng có ghi “tăng cường xét xử lưu động” mà không nói rõ là chỉ được xử lưu động án hình sự hay dân sự. Điều đó có nghĩa là cả án hình sự và dân sự đều có thể đưa ra xử lưu động bởi không chỉ riêng án hình sự mà cả dân sự cũng cần phải tuyên truyền. Hơn nữa, việc đưa án dân sự ra xử lưu động mang tính giáo dục, răn đe và tuyên truyền pháp luật cao. Thế nên chúng tôi được lãnh đạo TAND tỉnh đồng thuận, ủng hộ. Thực tế chưa thấy có đương sự nào phản đối hay khiếu nại việc bị đưa ra xét xử lưu động dân sự làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của họ cả. Mà nếu họ nói có bị thiệt hại thì cứ kiện hay khiếu nại và chứng minh thiệt hại đi, chúng tôi sẽ thụ lý, giải quyết”.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LY HÔN VÌ CHỒNG Ở … LUNG TUNG

TẤN LỘC

Các tòa án liên tục chuyển hồ sơ qua lại, chưa thể giải quyết ly hôn vì người chồng liên tục thay đổi chỗ ở. Chưa ly hôn lại tiếp tục kết hôn.

Sau khi cưới nhau, có hai con, vợ chồng chị T. thường xuyên lục đục. Anh chồng hay đi làm xa, mỗi lần về lại sinh sự đánh đập vợ con. Chịu không nổi cảnh này, năm 2005, chị T. đã gửi đơn ra TAND huyện Sông Hinh (Phú Yên) xin được ly hôn.

Tòa chuyển tới chuyển lui

Đi xác minh, tòa huyện này nhận thấy vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở huyện (do anh chồng đứng tên) nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương. Do đó, tòa huyện trả lại đơn. Chị này vội vàng cung cấp địa chỉ tạm trú của vợ chồng tại TP Tuy Hòa (Phú Yên). Tuy nhiên, Tòa án huyện Sông Hinh vẫn không nhận thụ lý giải quyết vì cho rằng không thuộc thẩm quyền lãnh thổ.

Bẵng đi một thời gian, chị T. lại tiếp tục gửi đơn đến TAND huyện Sông Hinh đề nghị giải quyết ly hôn vì cho rằng hai vợ chồng vẫn đang đăng ký hộ khẩu tại huyện. Tòa án huyện lại tiếp tục xác minh và thấy đúng là vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở đây thật nên thụ lý giải quyết.

Sau đó, biết tin anh chồng đang sống với người khác ở huyện Tây Hòa, Tòa án huyện Sông Hinh đã chuyển đơn của chị T. đến tòa huyện này. Thế nhưng, Tòa án huyện Tây Hòa đã trả lại đơn khởi kiện cho Tòa án huyện Sông Hinh vì cho rằng anh T. không có hộ khẩu ở huyện.

Mới đây, chị T. lại báo cho Tòa án Sông Hinh biết anh chồng đã dạt qua huyện Đông Hòa sinh sống. Xác minh đúng như vậy, tòa này lại vội chuyển hồ sơ của chị T. đến Tòa án huyện Đông Hòa để giải quyết theo thẩm quyền. Hiện nay, Tòa án huyện Đông Hòa đang xem xét việc tiếp nhận hồ sơ.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ TANG, TÀI VẬT

THANH TÙNG – TIẾN HIỂU

1. Bi hài chuyện xử lý tang, tài vật

Trong các vụ án hình sự, có ba hình thức xử lý tang, tài vật là tòa tuyên sung công, tuyên tiêu hủy và tuyên trả lại cho bị cáo, người liên quan.

Nhiều trường hợp việc thi hành quyết định trả tài sản của tòa đã khiến cơ quan thi hành án phải dở khóc dở cười…

Trước đây, xử vụ Bùi Thanh Chương phạm tội chứa mại dâm, TAND tỉnh Quảng Ninh đã nhận định: “… Sau khi bị công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại chỗ một bao cao su OK đã sử dụng. Khám xét nhà Chương, công an thu giữ 40 bao cao su OK chưa sử dụng và 100.000 đồng là tiền mua dâm của khách”…

Tuyên trả… bao cao su

Trong phần quyết định của bản án, tòa này đã tuyên tịch thu sung công 100.000 đồng nhưng trả lại cho vợ của Chương một giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và… 40 bao cao su OK. Theo tòa, sở dĩ phải trả lại số tài sản này là vì 40 bao cao su đó vợ bị cáo được trạm y tế phát để thực hiện việc kế hoạch hóa gia đình, không liên quan đến hành vi phạm tội của Chương. Theo quy định, tòa không có quyền xử lý nào khác ngoài việc tuyên trả lại cho chủ sở hữu là vợ của Chương.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Thi hành án tỉnh Quảng Ninh đã tống đạt quyết định thi hành án. Hơn một năm sau, đương sự đến nhận tài sản. Do nhà cách trung tâm tỉnh khá xa nên đương sự phải mất một ngày ròng đi xe đò mới đến nơi. Theo đương sự này, nội tiền mua vé xe từ nhà lên cơ quan thi hành án và ngược lại đã gấp khoảng bốn lần giá trị của 40 chiếc bao cao su OK trên. Đó là chưa kể hầu hết số lượng bao cao su đó đã không còn sử dụng được do bị… rách vỏ bao vì không được bảo quản tốt trong một thời gian cũng tương đối dài.

Một chấp hành viên có thâm niên làm việc hơn 20 năm tại TP.HCM kể rằng những vụ việc thật như đùa trên không phải là hiếm. Ông từng thi hành một bản án mà tòa tuyên trả cho đương sự một… đôi dép xốp cũ. Đương sự này lại ở cách trung tâm TP.HCM hơn 100 km nên cuối cùng không đến nhận tài sản, cũng không ủy quyền cho ai đến lấy khiến vụ việc thi hành án phải ách lại…

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TÒA NHẦM ÁN THƯƠNG MẠI… THÀNH DÂN SỰ

CÔNG TÔN NHUNG

Ngày 25-3-2006, Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ tổng hợp Sơn Lang (bên A), Công ty Lâm nghiệp Kon Hà Nừng (bên B1) và Xí nghiệp Nuôi trồng thủy sản Miền Trung (bên B2) ký hợp đồng góp vốn liên doanh.

Theo đó, ba bên liên kết sản xuất kinh doanh đầu tư nuôi trồng, đánh bắt và tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại lòng hồ B, thủy điện Vĩnh Sơn, xã Sơn Lang, K’Bang (Gia Lai). Tổng vốn liên doanh là 1 tỉ đồng, trong đó bên A góp 500 triệu đồng, bên B1 300 triệu đồng, bên B2 200 triệu đồng. Các bên thống nhất giao khoán toàn bộ hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, tiêu thụ sản phẩm cho bên B2 đại diện liên doanh thực hiện…

Quá trình hợp tác, do phát sinh mâu thuẫn, tháng 12-2007, bên B2 tuyên bố rút khỏi liên doanh và chấm dứt hợp đồng. Một tháng sau, bên A và bên B1 đồng đứng đơn khởi kiện yêu cầu bên B2 thanh toán cho bên A gần 603 triệu đồng, bên B1 320 triệu đồng…

Tháng 4-2008, TAND tỉnh Gia Lai đã đưa vụ này ra xét xử. Tòa áp dụng Bộ luật Dân sự để chấp nhận cho bên A và bên B1 thắng kiện. Năm tháng sau, bản án này đã bị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng hủy để xét xử lại.

Tháng 9-2009, vụ kiện tiếp tục đưa ra xử sơ thẩm lần hai, lần này thì do TAND huyện K’Bang xét xử. Tòa này cũng áp dụng Bộ luật Dân sự để tuyên hủy hợp đồng góp vốn liên doanh, buộc bên B2 phải thanh toán cho bên A 177 triệu đồng, bên B1 280 triệu đồng.

Đầu tháng này, xử phúc thẩm lần hai, TAND tỉnh Gia Lai đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để chính TAND tỉnh xử sơ thẩm lại lần ba. Nguyên nhân hủy án là do vụ kiện không thuộc thẩm quyền của TAND huyện K’Bang. Ngoài ra, đáng lẽ phải áp dụng Luật Đầu tư và Luật Thương mại để giải quyết thì cấp sơ thẩm lại áp dụng Bộ luật Dân sự là sai.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THU HỒI QUYẾT ĐỊNH KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ CÓ CƠ SỞ

HÀ TUẤN PHƯƠNG

Nguyễn Thị Oanh, là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên, có 01 chồng và 02 con. Lợi dụng chức vụ được giao, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2005, Oanh đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên số tiền 1.441.158.900đ. Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2006/HSST ngày 12/12/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963, trú tại tổ 01, phường Tân Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ( nguyên là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên ) mức án 15 năm tù giam về tội Tham ô tài sản theo điều 278 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Oanh phải bồi thường 1.441.158.000đ, đã bồi thường 100.000.000đ, phải bồi thường tiếp số tiền 1.341.158.000đ cho Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên. Việc thi hành án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC. Áp dụng điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự: Kê biên ½  giá trị ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên diện tích 130m2 của bị cáo Nguyễn Thị Oanh.

Sau khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh T đã thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc trên. Chấp hành viên  đã tiến hành đầy đủ các biện pháp, trình tự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngôi nhà của gia đình bà Oanh là một thể thống nhất, nếu chia tách sẽ làm giảm trị giá tài sản nên Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; bán đấu giá thành toàn bộ tài sản được 780.300.000đ; đã xử lý ½ số tiền này thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo đúng bản án của Toà án, cụ thể là số tiền 390.150.000đ. Số tiền còn lại là 390.150.000đ lẽ ra trả lại cho ông Lê Quyết Thắng – chồng của Nguyễn Thị Oanh nhưng do chồng bà Oanh đã chết nên Chấp hành viên xác định bà Oanh được hưởng 1/3 di sản thừa kế của chồng, ước tính số tiền là 130.050.000đ và tiến hành kê biên để thi hành án, phần còn lại trả cho gia đình bà Oanh.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TUYÊN ÁN SAI, ĐÍNH CHÍNH CŨNG … SAI!

TIẾN HIỂU

Giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ, phúc thẩm nhưng sau đó đính chính rằng chỉ hủy một phần về tài sản…

Sau một thời gian chung sống, gia đình bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên cuối cùng vợ chồng ông H. (Hà Nội) đã gửi đơn ra tòa thuận tình ly hôn và đòi chia tài sản.

Hủy sai nên đính chính

Xử sơ thẩm năm 2008, TAND quận Đống Đa (TP Hà Nội) đã chấp nhận sự thuận tình này. Sau đó, cấp phúc thẩm cũng đã y án sơ thẩm, tuyên bố hai vợ chồng được ly hôn.

Tuy nhiên, không đồng ý với phán quyết của hai cấp tòa về việc giao toàn bộ hai căn nhà cho người chồng – vì tài sản có trước hôn nhân – nên người vợ tiếp tục khiếu nại.

Ngày 1-4-2009, TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm hủy phần án liên quan đến việc chia tài sản trong hai bản án trên. Hai tháng sau, Tòa Dân sự (TAND Tối cao) ra quyết định giám đốc thẩm hủy cả hai bản án sơ và phúc thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Nhận được thông tin, TAND TP Hà Nội đã lập tức phản ứng, gửi kiến nghị lên TAND Tối cao đề nghị làm rõ vấn đề. Theo tòa, cả hai bên đương sự đã thuận tình ly hôn không có kháng cáo, kháng nghị, phần này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Giám đốc thẩm chỉ được hủy phần liên quan đến tài sản có kháng nghị chứ không thể hủy hết bản án. Tòa Dân sự TAND Tối cao hủy tất tần tật là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Sau kiến nghị này, nhận thấy có sai sót, thay mặt HĐXX giám đốc thẩm, thẩm phán chủ tọa đã ký công văn đính chính quyết định giám đốc thẩm trên rằng chỉ hủy một phần về tài sản của hai bản án sơ và phúc thẩm chứ không hủy toàn bộ.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: GẦN 20 NĂM KHÔNG THỂ LY HÔN

HOÀNG YẾN

Luật không cho phép tòa cưỡng chế trưng cầu giám định đối với đương sự có dấu hiệu tâm thần nên vụ án đành… treo.

TAND một quận ở TP.HCM đang đau đầu khi giải quyết vụ ông P. (ngụ Gò Vấp) yêu cầu tuyên bố vợ ông mất năng lực hành vi dân sự để ông ly hôn.

Đòi tuyên vợ mất năng lực…

Ông P. kể rằng vợ chồng ông kết hôn năm 1987. Ba năm sau thì có một bé gái. Tuy nhiên, một năm sau nữa, vợ ông bỏ nhà đi…

12 năm trước, ông cũng đã nộp đơn ra tòa này xin ly hôn vì vợ bị bệnh bởi bà hay nói ông lăng nhăng. Rồi bà từng một lần tự tử, phá phách, chửi bới ông, đánh con trước mặt lối xóm… Ông không thể chung sống vì nếu sống chung sẽ sinh ra những người con không bình thường.

Tuy nhiên, vợ ông lại phản bác cho là mình rất bình thường, không mắc bệnh gì cả. Bà vẫn rất yêu thương chồng con… Bà nhấn mạnh thêm rằng từng bị sốc khi biết ông không chung thủy, phụ bạc. Gia đình có đưa bà đi khám vì bà bị bệnh về nhân cách, không có bệnh về tâm thần.

Sau khi nghe hai bên trình bày, cuối cùng tòa quyết không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông P. vì bà vợ chỉ bị sốc về tình cảm dẫn đến ảnh hưởng tinh thần chứ không phải mắc bệnh tâm thần như ông nại ra.

Giờ đây, để chuyện ly hôn có kết quả, ông làm đơn yêu cầu tòa tuyên bố bà mất năng lực hành vi dân sự. Bởi nếu ông không làm được thủ tục này thì không có cách nào khác để ly hôn.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NHẶT “SẠN” XỬ ÁN DÂN SỰ

KHẢI HÀ – ĐỨC MINH

Tòa phúc thẩm xử vào cuối tháng 7 nhưng trong giấy triệu tập đương sự lại đề xử vào cuối… tháng 8.

Tổng kết công tác ngành tòa án mới đây, Tòa dân sự TAND Tối cao đã chỉ mặt đặt tên hàng loạt sai sót cụ thể cần phải tránh khi giải quyết án dân sự: Không đảm bảo quyền tự quyết của đương sự, chứng cứ không đầy đủ, triệu tập sót người tham gia tố tụng…

Tháng 4-2009, Tòa dân sự TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm trong vụ tranh chấp về đất đai giữa bà Lê Thị Tuyết Nương với bà Nguyễn Kim Thông.

Chứng cứ chưa đủ đã vội xử

Theo hồ sơ, bà Nương sau khi mua đất đã bán lại cho bà Thông 500 m2nhưng không ghi rõ tứ cận. Bà Thông nhận đất, trả tiền rồi rào lại. Trên thực tế, bà Thông sử dụng tới hơn 600 m2. Phần đất còn lại của bà Nương cũng thừa một khoảnh so với khi mua đầu tiên.

Ba năm sau, bà Nương khởi kiện đòi lại đất đã bán, cho rằng bà Thông đã lấn đất của mình. Tòa cấp sơ thẩm giữ nguyên hiện trạng cho hai bên đương sự. Tòa phúc thẩm lại buộc bị đơn trả lại hơn 100 m2 đất thừa. Theo Tòa Dân sự, phán quyết của cả hai cấp đều chưa đủ căn cứ vì chưa làm rõ nguồn gốc của số đất dư ra.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: “NGÂM ÁN”, THẨM PHÁN BỊ “TRẢM”

SONG NGUYỄN

Chuyện thẩm phán “ngâm án” dân sự vẫn đang tồn tại từ nhiều năm nay, góp phần làm tăng lượng án quá hạn. Ðể án quá hạn vì lỗi chủ quan, đã có không ít thẩm phán bị xem xét trách nhiệm…

Việc “ngâm án” thể hiện ý thức trách nhiệm của người cầm cán cân công lý với công việc. Có những vụ án không phức tạp, thẩm phán vẫn cố tình “ngâm nga”, làm đương sự bức xúc.

Kiểm điểm

Ngày 3-1-2008, TAND TP Cao Lãnh thụ lý vụ tranh chấp đường ranh đất của bà V. Được phân công giải quyết, một thẩm phán đã tổ chức hòa giải, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ, đo đạc diện tích, xác minh xong xuôi hết rồi nhưng sau đó không chịu lên lịch xử.

Chờ hơn một năm sau, quá bức xúc trước việc “ngâm án” này, bà V. khiếu nại khắp nơi. Tháng 4-2009, Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp đã có công văn truyền đạt ý kiến của chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu TAND tỉnh này xem xét, trả lời khiếu nại của bà V. Sau đó, lãnh đạo TAND tỉnh Đồng Tháp đã yêu cầu TAND TP Cao Lãnh sớm đưa vụ án ra xét xử và nghiêm khắc kiểm điểm thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ kiện.

Chuyển đơn vị

Tháng 5-2002, bà A. kiện đòi nợ, được TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) thụ lý. Kể từ đó, thẩm phán được phân công giải quyết vụ kiện của bà A. cứ “ngâm nga” mãi. Bà A. đã nhiều lần có đơn yêu cầu xét xử, thậm chí đến gặp thẩm phán và chánh án thì chỉ nhận được câu trả lời: “Cứ về chờ”.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ÁN KHÔNG TUYÊN, SAO ĐEM XỬ LẠI?

HOÀNG HÙNG

Một vụ kiện dân sự được Tòa Phúc thẩm TAND tỉnh Long An đưa ra xét xử nhưng sau khi nghị án kéo dài mà không tuyên án, một tháng sau, tòa này lại đưa vụ án ra xử lại

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Luận (ấp Nhà Việc, xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An), ngày 15-1, đoàn kiểm tra liên ngành của huyện Châu Thành tiến hành kiểm tra điểm bán lẻ vật tư nông nghiệp của ông. Qua đó, đoàn lập biên bản tạm giữ của ông Luận 65 bao phân Silica (Hàn Quốc) vì không có hóa đơn chứng từ. Ông Luận giải thích loại phân này nhập khẩu hợp pháp, do một công ty có trụ sở ở tỉnh Bến Tre cung cấp nên xin đoàn kiểm tra cho thời gian đi lấy hóa đơn. Tuy nhiên, ngày 24-2, UBND huyện Châu Thành ra quyết định xử phạt hình chính đối với ông Luận về hành vi kinh doanh hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời tịch thu 65 bao phân Silica vì là hàng nhập lậu. Không chấp nhận bị quy kết kinh doanh hàng lậu, ông Luận khởi kiện ra tòa.

Ngày 19-8, TAND huyện Châu Thành xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Tại phiên tòa, ông Luận cung cấp cho HĐXX hóa đơn phân Silica do Công ty Mosan (trụ sở tại xã Sơn Quy, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) cung ứng. Mosan là công ty được phép phân phối phân Silica trên phạm vi toàn quốc, vì thế theo ông Luận, 65 bao phân Silica không phải là hàng lậu. Đại diện UBND huyện Châu Thành, ông Võ Thanh Hồng, không đồng ý hủy quyết định ngày 24-2-2009 và viện dẫn Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT của Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và Bộ Công an ngày 28-2-2007 (gọi tắt là Thông tư 12), có đoạn quy định: Đối với hàng hóa nhập khẩu bày bán thì cơ sở kinh doanh phải xuất trình đầy đủ hóa đơn chứng từ, chứng minh hợp pháp của lô hàng trong thời hạn tối đa là 24 giờ, kể từ thời điểm kiểm tra. Quá thời hạn này mà chủ cơ sở kinh doanh không xuất trình đầy đủ thì bị xử lý vi phạm theo quy định. Trong khi kể từ ngày ông Luận bị kiểm tra đến ngày ông xuất trình hóa đơn là 50 ngày. Dựa trên căn cứ này, TAND huyện Châu Thành bác đơn kiện của ông Luận.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: SƠ THẨM KHÔNG XÉT, PHÚC THẨM VẪN XỬ?!

HOÀNG LAM

Tòa sơ thẩm không “đụng” gì đến đất đai, tòa phúc thẩm lại đem đất ra định giá, phân chia…

Tháng 3-2009, TAND tỉnh Kiên Giang đã xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng hùn vốn mở lò đường giữa hai ông Võ Văn Tám, Nguyễn Văn Bảy với ông Lê Văn Tấn (cùng ngụ huyện Tân Hiệp). Điều đáng chú ý là sau phiên phúc thẩm, ông Tấn (bị đơn) đã liên tục khiếu nại, yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm vì cho rằng TAND tỉnh Kiên Giang đã xét xử vượt quá án sơ thẩm…

Sơ thẩm: Không tranh chấp đất

Theo hồ sơ, lò đường trên hoạt động từ năm 1983, do bốn người cùng hùn vốn xây dựng. Năm 1985, các ông giao lò cho nhà nước quản lý. Một năm sau, nhà nước trả lại lò đường cho họ. Mâu thuẫn trong việc phân chia lò đường, các bên đưa nhau ra tòa. Trong bốn thành viên hùn vốn có một người hùn bằng số lượng tài sản không đáng kể như sắt phi, lúa và một con heo nên đã tự nguyện đứng ngoài, không tham gia tranh chấp.

Vụ án được đưa ra xét xử từ năm 1990 cho đến năm 2005 vẫn không ngã ngũ bởi bốn lần tòa sơ thẩm xử là bốn lần tòa phúc thẩm hủy án. Đến tháng 7-2008, TAND huyện Tân Hiệp mở phiên sơ thẩm lần năm. Tại phiên xử này, các bên không yêu cầu giải quyết phần đất đặt lò đường. Phần đất này được xác định là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Tấn, do con của ông đứng tên trên giấy đỏ. Tài sản còn lại của lò đường gồm một máy kéo, dàn đục, dàn che với tổng giá trị là 12 triệu đồng. Tòa đã chia số tài sản này cho ba thành viên hùn vốn. Theo đó, ông Tấn được giao quyền quản lý sử dụng tài sản còn lại của lò đường nhưng phải thanh toán cho ông Tám 6 triệu đồng, ông Bảy 3 triệu đồng.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CHƯA ÁP DỤNG ĐÚNG THỦ TỤC KHỞI KIỆN

THANH XUÂN

Khởi kiện là quyền của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Việc khởi kiện phải theo trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng đơn khởi kiện nội dung đầy đủ nhưng không ghi năm sinh của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay chính người khởi kiện thì tòa trả lại đơn khởi kiện (?)

Cuối tháng 12.2008, bà Nguyễn Thị Tuyết gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kiện bà Nguyễn Thị Thanh Mộng về tranh chấp ranh giới đất. Do không biết năm sinh của bà Mộng nên trong đơn khởi kiện bà Tuyết không ghi năm sinh. Sau khi nhận hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung yêu cầu bà Tuyết phải bổ sung năm sinh của bà Mộng. Bà Tuyết phải làm đơn gửi đến Công an thị trấn Lai Vung, xin cho biết năm sinh của bà Mộng để hoàn tất đơn khởi kiện. Lúc này Tòa án mới bắt đầu thụ lý giải quyết vụ án.

Vấn đề đặt ra ở đây là khi khởi kiện, người khởi kiện phải bảo đảm các thủ tục tại Tòa án như: đơn khởi kiện, các hồ sơ chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Quan trọng nhất là công dân khởi kiện phải làm đơn theo mẫu, quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng Dân sự như: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, địa chỉ của người khởi kiện; người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có; tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Như vậy, pháp luật tố tụng không quy định người khởi kiện phải biết năm sinh của người bị kiện và nội dung đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện. Tuy nhiên trên thực tế, nếu không có năm sinh của người bị kiện thì người khởi kiện có thể khởi kiện vì Tòa án sẽ không thụ lý vụ việc.  Tòa án không chỉ yêu cầu người khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện mà còn yêu cầu người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng phải có năm sinh.

Continue reading