GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ: QUÝT LÀM CAM KHÔNG THỂ GÁNH

KHẢI HÀ

Trong án dân sự, không thể bắt tòa gánh trách nhiệm khi đương sự cố tình che giấu người thứ ba và khai báo không chính xác?

TAND TP.HCM vừa xử giám đốc thẩm, tuyên hủy một quyết định của TAND quận 2 vì đã không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào vụ án.

Triệu tập thiếu người tham gia tố tụng

Nguyên trước đó, TAND quận 2 đã ra quyết định hòa giải thành, ghi nhận vợ chồng ông B. có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho vợ chồng bà P. hơn 2 tỉ đồng (quy giá trị từ đất ra thành tiền). Tòa cũng duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa căn nhà của vợ chồng ông B. để đảm bảo thi hành án.

Trong khi cơ quan thi hành án đang giải quyết thì ngày 16-7, chánh án TAND TP.HCM có kháng nghị đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND TP xử giám đốc thẩm, hủy quyết định sơ thẩm để xét xử lại.

Theo văn bản kháng nghị, sau khi TAND quận 2 ra quyết định hòa giải thành, một người thứ ba là ông H. xuất hiện, khiếu nại rằng giấy tờ bản chính căn nhà của vợ chồng ông B. đã thế chấp cho ông. Tòa sơ thẩm kê biên căn nhà nêu trên mà không đưa ông vào tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là sai sót, làm ông bị thiệt thòi…

Ngày 25-8, xem xét giám đốc thẩm, TAND TP đã đồng tình với quan điểm kháng nghị, hủy quyết định hòa giải thành để xử sơ thẩm lại.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: THẨM PHÁN TỰ . . . XỬ ÁN

HỒNG THỦY

Được phân công giải quyết vụ án "Tranh chấp hợp đồng vay", thẩm phán TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) Lê Ngọc Tuấn – đã cố tình "ngâm" hồ sơ vụ kiện đến hơn hai năm. Sau đó, vị thẩm phán này đã tự "sáng tác" ra "đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện" và giả mạo chữ ký của đương sự để ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (QĐĐCVGQVA).

Năm 2000, bà Trương Kế Hữu Hiền (ngụ tại số 5 đường Hùng vương, phường 2, TX Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) có cho ông Trần Văn Đức (ngụ tại 2524 Phạm Thế Hiển, phường 6, quận 8, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 1,2% tháng.
Để bảo đảm cho khoản vay này, ông Đức được ông Võ Văn Bé uỷ quyền thế chấp căn nhà và thửa đất tại số 112 ấp Khánh An, xã Trân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 556177 do UBND huyện Lấp Vò cấp ngày 16.7.1997, cho bà Hiền. Giấy uỷ quyền này được ông Ngô Văn Khoa – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung – xác nhận.
Sau đó, do làm ăn thua lỗ, ông Đức không trả được nợ và lãi. Ngày 06.5.2002, bà Hiền làm đơn khởi kiện ông Đức, ông Bé ra TAND huyện Lấp Vò. Vụ án được giao cho thẩm phán Lê Ngọc Tuấn giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán Tuấn đã cố tình kéo dài thời gian, không đưa ra xét xử . Bà Hiền đã nhiều lần đến gặp thẩm phán Tuấn và cả Chánh án TAND huyện Lấp Vò Nguyễn Văn Mỹ yêu cầu đưa vụ kiện ra xét xử nhưng chỉn lời câu trả lời là cứ chờ.

Mãi đến ngày 9.5.2008, bà Hiền mới nhận được giấy mời của TAND huyện Lấp Vò triệu tập đến để giải quyết vụ việc. Nhưng khi đến toà án thì không có ai giải quyết nên phải ra về.
Ngày 02.6.2008, TAND huyện Lấp Vò lại triệu tập bà Hiền đến giải quyết vụ kiện. Tại đây, bà Hiền bất ngờ nhận được QĐĐCVGQVA số 20/QĐ.ĐC ngày 10.6.2004 do thẩm phán Lê Ngọc Tuấn ký.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NGUYÊN ĐƠN 83 TUỔI, BỊ ĐƠN 84 TUỔI

VIỆT CƯỜNG

* Vụ án kéo dài hơn 7 năm, đã có bốn cụ là đồng nguyên đơn và người liên quan qua đời ở tuổi 72 đến 84!
* Cần nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử

Nguyên đơn đột quị tại Tòa

Theo trình bày của ông Nguyễn Văn Bé (SN 1926), cha mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Hạo và Trang Thị Nga là chủ khu vườn 4.370 mét vuông tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, cho con trai là Nguyễn Văn Ngàn trực tiếp quản lý sử dụng, được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 1999. Vợ chồng cụ Hạo có 10 người con, gồm: Nguyễn Văn Điệu (SN 1918), Nguyễn Thị Tỷ (SN 1920, chết), Nguyễn Văn Đủ (SN 1922), Nguyễn Thị Trâm (SN 1924), Nguyễn Văn Ngàn (SN 1926), Nguyễn Văn Bé (SN 1927), Nguyễn Thị Chính (SN 1930), Nguyễn Thị Mười (SN 1932), Nguyễn Thị Khéo (SN 1936) và Nguyễn Văn Su (SN 1940).

Cụ Nga qua đời năm 1968, cụ Hạo qua đời năm 1977, không để lại di chúc. Có sổ đỏ, ông Ngàn định sang nhượng khu đất, các anh chị em trong gia tộc phát hiện ngăn chặn dẫn đến tranh chấp. UBND xã Long Hòa hòa giải ngày 21-2-2002 không thành.
Vụ tranh chấp được TAND huyện Cần Giờ thụ lý ngày 28-5-2002. Hai ông Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Đủ đại diện cho chín anh em đứng nguyên đơn. Do ông Nguyễn Văn Điệu và bà Nguyễn Thị Trâm đã mất nên con là Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Chiếm thay thế. Quá trình tố tụng, ông Đủ bị đột quỵ tại phòng làm việc số 2, TAND Cần Giờ vào ngày 27-6-2002. Sau hơn hai năm, ngày 13-7-2004 thẩm phán Nguyễn Lê Thiên Hương ký quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì “thời hiệu khởi kiện đã hết”. Trước đó, bị đơn Nguyễn Văn Ngàn có đơn xin xác nhận lại nguồn gốc khu đất 4.370 mét vuông do ông khai phá chứ không phải “của cha mẹ để lại” như đã khai trước đó. Tuổi cao, bệnh tật, ông Đủ không chịu nổi cú sốc khi vụ án bị đình chỉ nên đã qua đời ngày 22-1-2005. Ngày 28-2-2005, thẩm phán TANDTP Vũ Thị Hòa ký quyết định phúc thẩm số 320/QĐPT bác đơn kháng cáo.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: NHẬN THỨC LUẬT VÊNH NHAU, DÂN LÃNH ĐỦ

HOÀNG LAM

Quy định đã hết hiệu lực nhưng cơ quan thi hành án vẫn vịn vào đó để ách các giao dịch hợp pháp.

Báo Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh nhiều trường hợp người mua nhà gặp rắc rối bởi các khoản nợ của chủ cũ. Mua nhà có chủ quyền hợp lệ, đi công chứng hợp đồng hẳn hòi, thậm chí có trường hợp đã đăng bộ xong nhưng người mua vẫn không thể thực hiện quyền sở hữu nhà.

Ai bảo mua nhà của người mắc nợ!

Như bà P. (quận 6, TP.HCM) bị cơ quan thi hành án dọa kê biên căn nhà mà bà đã mua để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của chủ cũ vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 130 triệu đồng. Hay ông S. (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) cũng mắc kẹt vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 100 triệu đồng. Căn nhà mà chủ cũ đã bán cho ông cần phải kê biên để thi hành án.

Cơ quan thi hành án dựa vào Thông tư liên tịch số 12 ngày 26-2-2001 của Bộ Tư pháp và VKSND tối cao để lý giải quyền kê biên căn nhà của chủ cũ, ách lại giao dịch mua bán nhà hợp pháp đã thực hiện xong của người dân. Điểm a khoản 1 mục IV thông tư này quy định: “Đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án đã chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án hủy bỏ giao dịch đó”.

Căn cứ vào quy định này, cơ quan thi hành án cho rằng người mua có thể khởi kiện chủ cũ ra tòa về hợp đồng mua bán nhà đã ký kết.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH: TỈNH THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THI HÀNH ÁN

HOÀNG YẾN

Pháp luật đang thiếu quy định cụ thể để xử lý, chế tài cơ quan quản lý nhà nước thua kiện nhưng không tôn trọng phán quyết của tòa.

Việc khởi kiện hành chính dường như là một việc bất đắc dĩ đối với người dân bởi không ít người có tâm lý là “con kiến kiện củ khoai”. Nhưng một khi đã thắng kiện, để được thi hành án cũng là một hành trình đầy gian nan, mệt mỏi như vụ việc dưới đây của vợ chồng ông Phạm Ngọc Dũng, ngụ TP Vũng Tàu.

Long đong khiếu nại mới được đền bù

Theo hồ sơ, tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thu hồi gần 60.000 m2 đất tại phường 6, TP Vũng Tàu (trong đó có hơn 30.000 m2 đất nông nghiệp của vợ chồng ông Dũng) để giao cho Công ty cổ phần Phát triển nhà tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu sử dụng. Sau đó, vợ chồng ông Dũng không được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đền bù giá trị quyền sử dụng đất, chỉ được hỗ trợ một lần giá đất nông nghiệp và bồi thường hoa màu, vật kiến trúc trên đất, tổng cộng khoảng 500 triệu đồng.

Tháng 5-2006, vợ chồng ông Dũng khiếu nại đến UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về việc không được đền bù giá trị quyền sử dụng đất. Chủ tịch UBND tỉnh này công nhận khiếu nại của vợ chồng ông là đúng và tháng 4-2007 đã ra Quyết định 1477 hỗ trợ bổ sung đền bù thêm cho vợ chồng ông hơn 2,3 tỷ đồng.

Cho rằng UBND tỉnh áp giá và xác định vị trí loại đường để bồi thường chưa đúng, vợ chồng ông Dũng tiếp tục khiếu nại. Tháng 12-2007, chủ tịch UBND tỉnh chấp nhận một phần nội dung khiếu nại, ra Quyết định 4678 điều chỉnh lại giá và nâng tổng kinh phí bồi thường lên hơn 6,8 tỷ đồng.

Thắng kiện lại không được thi hành án

Vợ chồng ông Dũng vẫn cho rằng UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu áp dụng sai vị trí đất để bồi thường nên tháng 1-2008 đã khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh này hủy cả hai quyết định 1477 và 4678 của UBND tỉnh.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ẤM ỨC VIỆC TÒA TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH CHỨNG CỨ

HOÀNG LAM

Cho rằng giấy biên nhận nợ là giấy khống, bị đơn đề nghị tòa trưng cầu giám định nhưng tòa lại từ chối.

Nộp đơn khởi kiện đòi nợ, ông T. cho biết: Tháng 8-2007, bà P. vay của ông 300 triệu đồng với lãi suất thỏa thuận. Giấy biên nhận nợ có chữ ký của hai bên ghi rõ khi nào ông T. muốn lấy lại tiền, ông chỉ cần báo cho bà P. biết trước một tháng. Đến tháng 4-2008, ông T. yêu cầu bà P. trả tiền nhưng bà không trả.

Phủ nhận giấy biên nhận nợ

Bà P. khẳng định giấy biên nhận nợ do ông T. cung cấp là chứng cứ giả mạo. Bà cho biết vào năm 2007, bà có mua 300 m2 đất và nhờ ông T. làm giúp thủ tục tách thửa. Khi đang thực hiện thủ tục này, chủ đất tiếp tục bán cho bà 200 m2 đất còn lại. Vì vậy, bà đã nhờ ông T. rút hồ sơ tách thửa để làm hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ thửa đất.

Khi đó, ông T. kêu bà ký tên sẵn vào góc dưới một tờ giấy tập màu trắng để ông làm đơn xin rút hồ sơ. Sau đó, ông T. dùng tờ giấy khác để viết đơn xin rút hồ sơ và ký giả tên bà. Với tờ giấy tập có chữ ký của bà P., ông T. tự viết vài chữ thể hiện việc cho vay tiền.

Để chứng minh mình không vay tiền của ông T., bà P. cho biết vào tháng 8-2008, em ông T. có hỏi vay của bà 200 triệu đồng dưới sự bảo lãnh của ông. Bà bảo nếu bà nợ 300 triệu đồng thì anh em ông T. phải đòi nợ bà chứ sao lại phải đi vay tiền của bà.

Bà P. từng nộp đơn tố cáo ông T. vu khống mình vay 300 triệu đồng tại cơ quan công an. Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, giấy biên nhận vay tiền do chính ông T. viết, còn bà P. cũng đã ký tên vào giấy. Cơ quan này chưa đủ cơ sở kết luận về nội dung tố giác của bà P.

Xét xử không cần giám định

Xử sơ thẩm giữa tháng 8-2009, TAND quận Bình Thủy nhận định: “Việc em ông T. vay 200 triệu đồng của bà P. không có nghĩa là ông T. không thể cho bà P. vay tiền”… Continue reading

3995

THANH TÙNG

Huyện bảo 34 m2, tỉnh nói 43 m2, tòa sơ thẩm lại tăng 59 m2. Ai đúng, ai sai?

Theo hồ sơ, năm 1991, bà B. có mua một căn nhà tại thị trấn Cai Lậy và đã được UBND huyện Cai Lậy cấp giấy chủ quyền. Bốn năm sau, bà cho người cậu ruột ở nhờ với lời giao kết miệng: “Tôi cho cậu ở nhờ, đến lúc nào có nhà thì cậu trả lại cho tôi. Cậu cứ sửa chữa, tu bổ nhà để ở cho thoải mái”. Cùng năm đó, do người cậu mất nên con trai ông (là ông D.) tiếp tục ở nhờ.

Hai giấy chứng nhận

Mọi chuyện diễn ra bình thường cho đến khi bà B. làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận. Bà hết sức bất ngờ với thông tin vào năm 2004, ông D. đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp giấy hồng cho chính căn nhà ở nhờ nói trên.

Tranh chấp xảy ra, ông D. bảo căn nhà đó của cha mình mua từ năm 1991 nhưng lúc đó vì chưa có hộ khẩu ở thị trấn nên ông đã nhờ bà B. đứng tên giùm. Sau khi cha ông sửa lại nhà, bà B. đã cầm giấy chủ quyền đến đòi nhà. Bấy giờ, cha ông đã cho bà B. hai chỉ vàng nên bà B. không tranh chấp nữa. Sau khi cha mất, ông đã đứng tên xin cấp giấy chủ quyền nhà. Không thỏa thuận được, bà B. đã khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ.

Xử sơ thẩm cuối năm 2008, TAND huyện cho rằng giấy chủ quyền của bà B. hợp pháp bởi khi tòa hỏi thì chính UBND huyện Cai Lậy đã có công văn khẳng định điều này. Mặt khác, bà B. trưng ra được hợp đồng mua bán gốc năm 1991 với chủ nhà cũ như đã khai. Ngược lại, giấy chủ quyền của ông D. không hợp pháp vì ông được cấp theo diện thừa kế trong khi cha ông không có giấy tờ nhà. UBND huyện Cai Lậy đã làm sai quy định khi đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang cấp chủ quyền cho ông D. dựa trên cơ sở có người làm chứng và nội dung xác nhận không có tranh chấp. Cách xử lý này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B. vì tại thời điểm đó bà vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: KHIẾU NẠI TRƯỚC MỚI ĐƯỢC KIỆN BÁO?

PHAN GIA HI

Cuối tháng 8 năm 2009, TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) đã xử sơ thẩm vụ bốn hộ dân kiện đòi Báo Dăk Lăk cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vụ án đặt ra một tình tiết pháp lý gây tranh cãi xung quanh việc tòa thụ lý những vụ kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước, người lại nói cứ kiện thẳng ra tòa.

Bị đơn không tham gia tố tụng

Giữa tháng 3, Báo Dăk Lăk đăng bài viết phản ánh rằng có bốn hộ dân được Binh đoàn 15 Quân khu 5 (nay là Công ty Cà phê 15) giao khoán vườn cà phê nhưng không giao nộp sản phẩm và “làm thủ tục” để được cấp giấy đỏ trái quy định, xây công trình trái phép trên đất quốc phòng…

Bốn hộ dân cho rằng sau đó dư luận xầm xì, bàn tán là họ đã có hành vi gian dối, không trung thực, làm thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ. Do vậy, họ yêu cầu TAND huyện Krông Búk (cũ) buộc Báo Dăk Lăk bồi thường tổng cộng 20 triệu đồng thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần, đồng thời đăng cải chính những nội dung sai sự thật, công khai xin lỗi theo Luật Báo chí.

Suốt quá trình tòa giải quyết, Báo Dăk Lăk đều vắng mặt. Cách hành xử này của báo cũng có nguyên do. Đầu tiên, ngay từ khi TAND huyện Krông Búk thụ lý, Báo Dăk Lăk đã cho rằng các đương sự chưa khiếu nại đến báo theo quy định tại Điều 9 Luật Báo chí và Nghị định số 51 năm 2002 của Chính phủ (quy định về cải chính trên báo chí). Thứ nữa, báo có trụ sở tại TP Buôn Ma Thuột nhưng TAND huyện Krông Búk thụ lý là sai thẩm quyền…

Dù vậy, TAND thị xã Buôn Hồ sau này vẫn đưa vụ án ra xử, tuyên buộc Báo Dăk Lăk phải đăng bài cải chính những nội dung sai sự thật và công khai xin lỗi theo đúng Luật Báo chí. Tòa không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc buộc Báo Dăk Lăk bồi thường thiệt hại.

Continue reading

XUNG QUANH MỘT BẢN ÁN DÂN SỰ BẤT THƯỜNG TẠI VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ: CÔNG LÝ PHỤ THUỘC VÀO … SỐ ĐÔNG?

TRẦN QUYẾT

Mặc dù đã đánh giá đây là một bản án còn có “thiếu sót” và trên thực tế chính Chánh án TAND tỉnh cũng khẳng định là chưa thực hiện đúng các quy định pháp luật, nhưng không hiểu sao, bản án dân sự này vẫn được các cấp xét xử của Phú Thọ giữ nguyên khiến cho lòng tin của người dân nơi đây về cán cân công lý đang bị lay động. Sự vào cuộc khẩn thiết của TANDTC và VKSNDTC để bảo vệ quyền lợi cho những người dân “thấp cổ bé họng” là điều hết sức quan trọng vào lúc này.

Khẳng định thêm một lần nữa về quan điểm của mình với ĐS &PL trong buổi làm việc ngày 1.10.2009, ông Nguyễn Tiến Quang, Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ cho biết: "Đây là một bản án còn nhiều thiếu sót, không được thực hiện đúng các quy định pháp luật. Vậy mà các ý kiến khác vẫn công nhận. Vì số đông tôi phải thực hiện theo thôi. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình về việc cần phải xem xét lại bản án này”.

Sự việc với nhiều mâu thuẫn và bất thường được diễn ra khi ngày 3.3.2009, trong Quyết định 22/2009/QĐDS-ST của TAND TP.Việt Trì công nhận sự thỏa thuận của các đương sự “Lê Thị Kiều Dung có trách nhiệm trả lại cho Nguyễn Thị Thu Hoàn số tiền 724.550.000đ, thời hạn cuối cùng là ngày 31.3.2009, phải chịu lãi suất số tiền trả chậm theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước nếu thanh toán chậm. Phía anh Khoa và bà Tỉnh không liên quan đến việc vay nợ giữa chị Dung và chị Hoàn”. Dù đã xác định, bà Tỉnh (tên đầy đủ là Đỗ Thị Tỉnh – PV) không hề liên quan đến việc vay nợ này, nhưng với sự khẳng định lạ lùng: "Chiếc xà lan máy số đăng kiểm V19 -00334, số đăng ký hành chính PT -0611H đứng tên bà Đỗ Thị Tỉnh là tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị Dung”, TAND TP.Việt Trì đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với chiếc xà lan này nhằm thi hành án dân sự cho chị Dung mà không hề dựa trên một cơ sở pháp lý nào. Trong khi đó, trong hồ sơ vụ án, chưa có bất cứ thủ tục chuyển nhượng, tặng, cho nào của bà Tỉnh đối với chị Dung.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: MỘT CHỨNG CỨ, HAI CÁCH XỬ

HOÀNG LAM

Cùng loại chứng cứ nhưng các cấp tòa lý giải khác nhau khiến tranh chấp kéo rê nhiều năm.

Năm 2004, bà H. nộp đơn kiện đòi ông bà L. trả gần 90 m2 đất ở quận 8, TP.HCM. Bấy giờ, phía bị đơn cho rằng vào năm 2000, nguyên đơn đã lăn tay vào “bản cam kết ưng thuận” và “bản xác nhận tái sử dụng đất” (có xác nhận của UBND phường) để đồng ý cho họ được sử dụng và hợp thức hóa phần đất trên. Phản đối, nguyên đơn bảo mình không lăn tay vào giấy tờ nào cả. Năm 1988, bà chỉ cho bị đơn cất một căn chòi nhỏ để ở trên 20 m2 đất. Sau đó, bị đơn đã dần dần lấn thêm và mở rộng diện tích lên gần 90 m2, lại còn tự ý đi hợp thức hóa nhà.

Vân tay không thể giám định

Năm 2005, bà H. mất. Các con bà thay mẹ tiếp tục theo đuổi vụ kiện, kéo dài đến nay vẫn chưa xong.

Trong công văn gửi UBND TP.HCM vào năm 2001, Sở Địa chính nhà đất khẳng định nhà đất của ông bà L. đủ điều kiện để được cấp chủ quyền. Căn nhà này tuy có một phần phía sau chưa hợp lệ vì xây dựng trên đất của bà H. nhưng bà H. đã điểm chỉ vào giấy ưng thuận cho họ được hợp thức hóa phần đất này.

Do bà H. phủ nhận dấu vân tay nên để giải quyết vụ án, TAND quận 8 đã quyết định trưng cầu giám định dấu vân tay trong hai văn bản này. Tháng 11-2004, Phân viện Khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận điểm chỉ trong hai văn bản này “bị mờ nhòe, không xác định được dạng chung nên không đủ yếu tố giám định”.

TAND quận 8 quyết định trưng cầu giám định lại. Tháng 7-2005, Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an khẳng định không thể giám định lại. Bởi lẽ các mẫu vân tay dùng để so sánh in mờ nhòe, tờ khai chứng minh nhân dân đứng tên bà H. chỉ in vân ngón trỏ phải và trỏ trái. Trong khi đó, hai dấu vân tay điểm chỉ cần giám định lại không ghi rõ vân ngón nào.

Continue reading

TÀI SẢN THUỘC SỞ CHUNG: GIAN NAN CHUYỆN CƯỠNG CHẾ

T. HẰNG – H. HẢI

Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định chấp hành viên được quyền cưỡng chế đối với các tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, kể cả quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, trên thực tế câu chuyện cưỡng chế này không ít gian nan.

Tài sản chung của vợ chồng: kê biên cũng khó.

Theo bản án số 134 ngày 3/2/1999 của TANDTC ngoài việc phải chấp hành hình phạt 9 năm từ giam, Bùi Thị H. phải bồi thường cho ngân hàng nông nghiệp huyện Thanh Miện – Hải Dương số tiền gần 179 triệu đồng. Cả án phí dân sự và hình sự bị cáo này phải nộp là trên 186 triệu đồng. Để đảm bảo cho quá trình THA, Tòa án đã kê biên ngôi nhà mái bằng 3 gian là tài sản của vợ chồng H.

Xác minh điều kiện THA của H, THADS huyện Ân Thi – Hưng Yên xác định: H đang thụ hình trong trại còn chồng của H là anh Ngô Văn T đang phải nuôi 2 con nhỏ, thu nhập chính là làm ruộng nên chỉ đủ ăn, các tài sản khác không có gì. Cuối 2006, H mãn hạn tù về địa phương. Phần dân sự trong bản án chưa được thi hành thì tháng 7/2008 H mất. Khối tài sản tòa đã kê biên anh T vẫn quản lý và sử dụng.

Trước tình huống này, THADS huyện Ân Thi dự kiến kê biên ngôi nhà của vợ chồng H theo biên bản kê biên của Tòa án trước đó để đảm bảo THA. Tuy nhiên, vụ việc này có hai quan điểm khác nhau: Một luồng ý kiến cho rằng, phải thông qua Tòa án để xác định người thừa kế của H, từ đó yêu cầu người thừa kế gánh chịu nghĩa vụ. Quan điểm thứ hai lại cho rằng Tòa đã kê biên ngôi nhà nên tài sản đó do nhà nước quản lý và quyết định. Do vậy, THA cứ theo bản án mà làm.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: 14 NĂM KHÔNG THỂ THI HÀNH ÁN

HỒNG TÚ

Các cơ quan liên quan đã nhiều lần ngồi lại tìm hướng gỡ nhưng 14 năm nay vẫn còn bế tắc. Trước đây, tại Bình Định, ông Nguyễn Đưa cùng đồng phạm thường xuyên mua hàng điện tử nhập lậu bằng đường biển, đưa vào nội địa bán lại kiếm lời. Tháng 7-1993, tàu hàng của ông Đưa đã bị đội tuần tra Công an tỉnh Bình Định bắt quả tang khi đang vận chuyển một số lượng lớn hàng điện tử lậu.

Ông Đưa cùng bảy đồng phạm bị TAND tỉnh Bình Định phạt lần lượt từ hai đến bốn năm tù về tội buôn lậu (ông Đưa bị phạt ba năm tù treo). Về phần xử lý vật chứng, tòa tuyên tịch thu sung công quỹ chiếc tàu BĐ 0243-TS2 của ông Đưa. Sau khi các bị cáo kháng cáo xin giảm án, tháng 4-1995, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã tuyên y án sơ thẩm.

Vật chứng “biến mất”

Từ tháng 3-1994, để đảm bảo cho việc thi hành án, VKSND tỉnh Bình Định đã ra lệnh kê biên tạm giữ chiếc tàu của ông Đưa và giao tài sản cho người đại diện hợp pháp tạm bảo quản, chờ xử lý. Tuy nhiên, ngày 9-3-1994, khi cơ quan điều tra đến thực hiện lệnh kê biên chiếc tàu thì mới biết chiếc tàu đã bị ông Đưa bán cho người khác với giá chín triệu đồng.

Về phần mình, sau khi tiếp nhận bản án có hiệu lực thi hành, giữa năm 2005, trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định đã ra quyết định thi hành đối với khoản tịch thu chiếc tàu của ông Đưa. Đến lúc chấp hành viên đi xác minh tài sản thì kết quả cũng y như lúc cơ quan điều tra thực hiện lệnh kê biên. Không chịu bó tay, chấp hành viên xác minh mở rộng thêm địa chỉ của người mua nhưng cũng chỉ thu về con số không.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MẠNH AI NẤY XỬ, KHÓ THI HÀNH

VĂN ĐOÀN

Do hai bản án liên quan tuyên hai nội dung khác nhau nên việc thi hành án bị khựng khá lâu.Thi hành án TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đang lúng túng chưa biết phải thi hành như thế nào đối với hai bản án của tỉnh này vì hai bản án có nội dung mâu thuẫn nhau.

Năm 1997, ông R. khởi kiện ông L. (ngụ thị xã Vĩnh Long) ra tòa để đòi lại tiền bán máy cày. Ông R. trình bày từ năm 1996, ông có bán cho ông L. một số máy cày. Theo thỏa thuận thì trong thời hạn một tháng, ông L. phải thanh toán hơn 120 triệu đồng. Nhưng rồi ông L. đã không thực hiện đúng cam kết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L. cũng thừa nhận có mua máy cày của ông R. và còn thiếu ông R. số tiền nêu trên. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, Tòa án thị xã Vĩnh Long đã xử cho ông R. thắng kiện. Ông L. có trách nhiệm trả cho ông R. hơn 120 triệu đồng. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Tưởng chỉ có thế, nào ngờ giữa ông R. và người bạn là ông H. xảy ra mâu thuẫn. Ông H. cho rằng vào năm 1995, ông H. có mở cơ sở bán máy cày. Do quen biết nên ông H. thuê ông R. trông coi cửa hàng. Năm 1996, ông L. đến cửa hàng của ông H. mua máy cày và thiếu nợ hơn 120 triệu đồng. Lúc đó, ông H. giao cho ông R. khởi kiện ông L. để đòi tiền giúp. Như vậy, số tiền mà bản án của TAND thị xã Vĩnh Long yêu cầu ông L. phải trả cho ông R. thực chất là của ông chứ không phải của ông R.

Năm 2005, do thương lượng không được nên ông H. đã kiện ông R. ra TAND huyện Long Hồ (nơi ông R. cư ngụ) với yêu cầu được xác định số tiền mà bản án năm 1997 của TAND thị xã Vĩnh Long xử buộc ông L. phải trả cho ông R. là của ông.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MỘT BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC KHÔNG ĐƯỢC THI HÀNH

DUY TUẤN

Một bản án dân sự đã có hiệu lực sau 2 lần xét xử, bị đơn liên tục gửi đơn khiếu nại nhưng bị cơ quan tư pháp các cấp bác bỏ. Thế nhưng, sau hơn 1 năm, bản án vẫn không được thi hành.

Bà Chu Thị Lân, 81 tuổi ở số nhà 30, Hàng Mã cùng với con cháu đã có đơn “xin cứu giúp khẩn cấp” gửi đến VietNamNet về việc sau nhiều lần đi “hầu tòa” đã đòi được nhà. Tuy nhiên, đã hơn 1 năm trôi qua, bản án vẫn không được thực thi. Nay gia đình bà có thể lại phải tiếp tục "hầu tòa" từ cấp sở thẩm để đòi lại nhà.

Thuê nhà rồi muốn “sở hữu” luôn (?)

Nguyên gốc ngôi nhà số 30 Hàng Mã (Quận Hoàn Kiếm) được xác nhận tại Công văn (CV) số 2771 của Sở TNMT & Nhà đất Hà Nội: “thuộc bằng khoán điền thổ số 1005, khu Đồng Xuân, nằm trên thửa đất số 376, bản đồ số 10 chữ A năm 1942 đứng tên ông Chu Tuấn Đức và bà Phạm Thị Ân” (bố mẹ của bà Chu Thị Lân).

Năm 1953, ông Đức cho một người thuê tầng 1 để mở hàng in, sau đó cửa hàng in này sát nhập với xưởng in Hoàn Cầu. Đến năm 1962, xưởng in Hoàn Cầu nhập lại với xưởng in Kim Sơn thành Liên xưởng in Kim Sơn (sau này là Công ty in Thống Nhất).

Thời gian đó, giữa gia đình cụ Đức, cụ Phạm Hải Kình và Liên xưởng in Kim Sơn đã có thỏa thuận bằng văn bản là xưởng in sẽ dùng nhà cụ Kình đang ở tại số 10, Ngõ Huyện (thuê của nhà nước) để mở rộng sản xuất, cụ Kình sẽ đến ở căn buồng ngoài tầng dưới ở nhà 30 – Hàng Mã. Hàng tháng, cụ Kình phải có trách nhiệm trả tiền thuê nhà cho Đức.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THÌ HÀNH ÁN SAI RỒI ĐỂ ĐÓ

TRÙNG KHÁNH

Dù đã kê biên và thông báo bán nhà nhưng chấp hành viên lại buộc người phải thi hành án tháo dỡ nhà để phát mại đất. Năm 1987, TAND tỉnh Long An xử buộc chồng bà Trần Thị Phùng (ngụ phường 5, thị xã Tân An, Long An) trả cho nguyên đơn một số tiền tương đương 23,3 tấn gạo.

Buộc tháo dỡ nhà để phát mại đất

Tháng 6-1989, để cưỡng chế thi hành án, chánh án TAND thị xã Tân An ra quyết định kê biên căn nhà lá 70 m2 do vợ chồng bà Phùng xây dựng trên 192 m2 đất thuê của người khác. Đến năm 1990 (sau thời điểm vợ chồng bà Phùng bị kê biên nhà), mẹ bà Phùng đã mua lại số đất này (phân thành hai lô) rồi chuyển nhượng cho bà Phùng. Ngay sau đó, bà Phùng đã được UBND tỉnh Long An ra quyết định giao quyền sử dụng đất.

Giữa năm 1992, TAND thị xã Tân An đăng báo cho biết sẽ phát mại căn nhà trên để thi hành án. Nhưng cùng thời điểm này, chấp hành viên lại yêu cầu vợ chồng bà Phùng tháo dỡ nhà để phát mại hai lô đất. Bà Phùng liền nộp đơn khiếu nại với lý do số đất đó là tài sản riêng của bà. TAND thị xã Tân An nhận đơn nhưng không giải quyết và đã cho phát mại đất. Ba tháng sau, do không ai mua và người được thi hành án cũng không chịu nhận đất nên chấp hành viên đã bán hai lô đất cho hai người khác.

Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: KIỆN GIẤY ĐỎ, VÌ SAO TÒA KHÔNG XỬ?

HOÀNG LAM

Tòa này viện lẽ luật tố tụng không quy định; tòa khác lại cho đó là việc của chính quyền. Theo lời kể của bà L. thì cách đây chừng 20 năm, bà có mua một phần đất và đã trực tiếp canh tác. Ngày nọ, khi phát hiện con dâu đã lén làm giấy đỏ phần đất này, bà bèn gọi con dâu đến hỏi chuyện. Nhận lỗi trước mẹ chồng, con dâu đồng ý giao lại giấy đỏ cho mẹ chồng nắm giữ, đồng thời hứa sẽ tiến hành thủ tục sang tên đất cho mẹ chồng. Nhưng rồi người con dâu đã không giữ lời hứa.

Nơi thụ lý, nơi không

Năm 2008, con dâu và con trai bà L. kéo nhau ra tòa để ly hôn và không yêu cầu được giải quyết về tài sản chung. Mới đây, con dâu cũ đã phát đơn kiện con trai bà L. ra tòa để đòi lại giấy đỏ. Cô này bảo rằng khi còn chung sống, người chồng đã lén lấy giấy đỏ của cô đem về nhà mẹ ruột cất giấu. Tuy nhiên, đơn khởi kiện của cô đã không được tòa án huyện thụ lý.

Năm 2007, Tòa dân sự TAND tối cao đã có công văn chỉ đạo các tòa cấp dưới không được quyền thụ lý yêu cầu đòi giấy đỏ. Công văn có nêu: “Theo quy định tại Điều 259 Bộ luật Dân sự thì khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm”. Mặc dù viện dẫn vậy nhưng Tòa dân sự TAND tối cao lại kết luận: “Như vậy, trong trường hợp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết”.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: BẢN ÁN CÓ TRƯỚC, XÉT XỬ SAU?

MINH QUANG – THÁI LINH

Trong một vụ kiện đòi tài sản, cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm (tòa án nhân dân – TAND – TP Hòa Bình và tỉnh Hòa Bình) đều ghi ngày sai, trước ngày vụ án thật sự được đưa ra xét xử.

Ngày 19-3-2008, TAND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thụ lý vụ kiện đòi tài sản do bà Trần Thị Soạn (trú tại Trung Cao, xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây) kiện ông Vũ Thái Sơn (tổ 15, phường Đồng Tiến, tỉnh Hòa Bình), yêu cầu trả nợ 100 triệu đồng.

Theo đơn khởi kiện của bà Soạn, trong quá trình làm ăn bà cho ông Sơn vay tiền nhiều lần, trong đó có một lần cho vay 200 triệu đồng và nhờ ông Lèo Văn Hói chuyển tiền. Ông Sơn cũng thừa nhận có nhận tiền vay bà Soạn qua ông Hói nhưng số tiền chỉ là 100 triệu đồng. Do đó, ông Sơn không đồng ý thanh toán thêm khoản nợ 100 triệu đồng như bà Soạn yêu cầu.

Trong hai ngày 29 và 30-9-2008, TAND TP Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ kiện trên, tuyên buộc ông Sơn phải trả cho bà Soạn 100 triệu đồng. Sau đó, ngày 26-11-2008, phiên tòa phúc thẩm do TAND tỉnh Hòa Bình mở cũng tuyên y án sơ thẩm.

Ngày xử án và ngày ghi trên bản án khác nhau

Tuy nhiên, trong vụ án này cả hai bản án của TAND TP Hòa Bình và TAND tỉnh Hòa Bình đều có vấn đề về ngày tháng. Cụ thể, bản án sơ thẩm số 11/2008/DSST của TAND TP Hòa Bình được chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Hoàng Viết Lực ký, ghi ngày 9-9-2008, trước ngày mở phiên tòa xét xử tới 20 ngày. Bản án phúc thẩm số 27/2008/DSPT của TAND tỉnh Hòa Bình, do chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Thị Thúy Oanh ký, ghi ngày 24-11-2008, trước ngày xét xử hai ngày. Cho rằng có dấu hiệu xét xử theo kiểu “án bỏ túi” nên bị đơn đã gửi đơn khiếu nại đến TAND tối cao.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: CHẬM CHUYỂN KHOẢN THI HÀNH ÁN

TRÙNG KHÁNH

Gần một tháng kể từ khi có quyết định khấu trừ của cơ quan thi hành án, Ban bồi thường quận 2 vẫn chưa chuyển tiền. Theo bản án phúc thẩm năm 2008 của TAND TP.HCM, vợ chồng bà N. (quận 10, TP.HCM) phải trả cho bà H. gần 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, bà N. còn phải trả riêng cho bà H. 50 triệu đồng. Sau khi nhận đủ tiền, bà H. sẽ đưa lại cho vợ chồng bà N. giấy đỏ thửa đất tại Đồng Nai mà bà đang cất giữ.

Tháng 9-2008, Thi hành án dân sự quận 10 ra quyết định thi hành án. Đến quá hạn quy định nhưng vợ chồng bà N. chỉ trả được một phần tiền, còn thiếu 574 triệu đồng. Qua xác minh, Thi hành án dân sự quận 10 biết được tháng 4-2009, vợ chồng bà N. sẽ được nhận hơn một tỷ đồng tiền bồi thường đất tại phường An Lợi Đông (quận 2).

Phía bà N. cũng đồng ý sẽ tiếp tục thi hành án ngay sau khi nhận được tiền bồi thường. Kẹt nỗi khi đến hạn nhận khoản tiền này thì bà N. lại không được ngân hàng thanh toán. Theo Ban bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) quận 2, do có đơn ngăn chặn của người đã hùn vốn làm ăn với bà N. nên đơn vị này phải tạm ngưng việc chi trả tiền. Ban BTGPMB quận hứa sẽ xem xét đơn ngăn chặn trên, nếu thấy không có căn cứ thì sẽ tiếp tục chi trả cho bà N. Nhưng sau một thời gian chờ đợi, bà N. vẫn không thấy đơn vị này chi trả tiền.

Thi hành án dân sự quận 10 đã làm việc với Ban BTGPMB quận 2. Ngày 23-4, Thi hành án dân sự quận 10 đã ra quyết định trừ vào tiền của vợ chồng bà N. đang do người thứ ba nắm giữ. Theo đó, Ban BTGPMB quận 2 có trách nhiệm khấu trừ 574 triệu đồng của bà N. trong số tiền bồi thường và chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự quận 10. Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: NỘP HƠN 16 TRIỆU ĐỒNG . . . TOÀN TIỀN XU

THANH TÙNG

Đương sự đổi 16 triệu đồng ra toàn tiền xu mệnh giá 200 đồng và 500 đồng khiến cơ quan thi hành án dở khóc dở cười! Vụ việc ngộ nghĩnh này xảy ra tại Thi hành án dân sự (THA) quận Tân Bình (TP.HCM). Theo hồ sơ, ông H. là chủ một khách sạn trên đường Hoàng Văn Thụ. Giữa năm 2007, một người khách đến thuê phòng bị mất xe máy nên ông H. phải đền. Ông H. đã mượn 50 triệu đồng của một Việt kiều Na Uy là “mối ruột” thường xuyên về nước thuê phòng của ông để đền cho khách. Hai bên làm giấy cam kết là ông H. sẽ trả dần mỗi tháng hai triệu đồng cho đến khi hết nợ.

Mượn tiền thì phải trả

Tuy nhiên, sau đó ông H. đã không thực hiện cam kết nên bị chủ nợ khởi kiện đòi phải trả 44 triệu đồng (đã trừ sáu triệu đồng tiền thuê phòng để ở).

Tháng 5-2008, TAND quận Tân Bình xử sơ thẩm đã quyết định buộc ông H. phải trả cho nguyên đơn 44 triệu đồng và chịu án phí 2,3 triệu đồng. Ông H. kháng cáo nhưng TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã tuyên y án.

Sau đó, THA quận Tân Bình đã ra quyết định thi hành bản án này. Vì ông H. và người khách mất xe thỏa thuận cấn trừ 30 triệu đồng nên ông H. chỉ phải trả cho nguyên đơn 14 triệu đồng và được THA chấp nhận. Do ông H. không tự nguyện THA, THA quận Tân Bình đã phải ra quyết định cưỡng chế. Theo đó, tổng số tiền ông H. phải thi hành là hơn 16 triệu đồng, gồm cả tiền lãi theo lãi suất ngân hàng.

Khổ vì… tiền xu

Chấp hành viên Nguyễn Thị Thủy, người trực tiếp thi hành bản án này kể, trong quá trình chuẩn bị cưỡng chế, nhiều lần bà đã mời ông H. đến để vận động tự nguyện thi hành nhưng ông H. không đến. Thế rồi một buổi sáng, ông H. đến THA quận Tân Bình xin nộp trước bảy triệu đồng. Khi chấp hành viên ký quyết định cho nộp tiền thì ông H. nói: “Chờ tui về lấy tiền”. Gần 11 giờ trưa đó, ông mới quay lại mang theo một bọc tiền xu mới tinh, lộn xộn mệnh giá 200 đồng và một ít tiền giấy mệnh giá 500 đồng.

Do gần hết giờ làm việc và số lượng tiền xu quá nhiều nên THA quận quyết định lập biên bản không nhận ngay. Ông H. cự lại thì THA giải thích là sẽ cử người cùng ông đến Ngân hàng nhà nước Chi nhánh quận Tân Bình nộp vì ở đó có dụng cụ đếm tiền. Sau đó, ông H. xách tiền về rồi không quay lại nữa.

Sáng 23-4, THA quận Tân Bình tổ chức đoàn cưỡng chế thì bị ông H. phản ứng gay gắt. Sau khi bị đoàn cưỡng chế kê biên toàn bộ 16 phòng khách sạn, chiều đó ông H. mới chịu mang tiền đến nộp. Không biết chuẩn bị từ bao giờ mà ông H. mang đến hơn 16 triệu đồng toàn là loại tiền xu mệnh giá 200 và 500 đồng. Tuy là tiền xu mới nhưng không phải từng cọc mà để lẫn lộn với nhau. Ông H. còn kỳ công cho những đống tiền xu lộn xộn đó vào những bịch nylon nhỏ hay túi nhựa, hộp giấy.

Continue reading