TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ: BẤT THƯỜNG VỤ CẮP DƯỠNG NUÔI CON 10 TỶ ĐỒNG

NGÂN NGA

Một chi cục thi hành án dân sự vừa kiến nghị VKSND Cấp cao và TAND Cấp cao tại TP.HCM xem xét lại một bản án cấp dưỡng nuôi con lên đến 10 tỉ đồng vì có dấu hiệu bất thường nhằm né tránh nghĩa vụ thi hành án…

Gặp PV Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Quốc Toàn (ngụ quận 2, TP.HCM) kể: Năm 2012, ông mua căn nhà của bà Nguyễn Thanh Tuyền ở khu phố 1 (phường Cát Lái, quận 2). Dù bà Tuyền đã nhận tiền cọc nhưng lại không chịu ra phòng công chứng để làm hợp đồng sang tên nên ông khởi kiện ra tòa.

Phải trả gần 19 tỉ đồng trong ba vụ

Tháng 7-2013, TAND quận 2 đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận thành, theo đó bà Tuyền phải trả cho ông Toàn 7,6 tỉ đồng. Tháng 10-2013, Chi cục Thi hành án (THA) dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Toàn.

Chi cục THA dân sự quận 2 đã kê biên, bán đấu giá căn nhà trên của bà Tuyền để THA nhưng chưa thành thì tháng 1-2016, bà Tuyền bị ông Quách Việt Long khởi kiện yêu cầu TAND quận 2 không công nhận quan hệ vợ chồng. Tháng 6, TAND quận 2 đưa vụ kiện này ra xử. Bà Tuyền đồng ý giao con chung của hai người là một cháu trai 12 tuổi cho ông Long nuôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con một lần là… 10 tỉ đồng. Tháng 9-2016, Chi cục THA dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Long.

Continue reading

BỒI THƯỜNG 70 TRIỆU ĐỒNG VÌ ĐĂNG ẢNH KHÔNG XIN PHÉP – QUYỀN HÌNH ẢNH, TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TẾ

 MINH KHÔI

1. Bị phạt và bồi thường 

Theo nội dung vụ án “Yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”, giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M (thị trấn Cái Rồng, Vân Đồn, Quảng Ninh) với bị đơn là báo Gia đình Việt Nam (Cầu Giấy, TP.Hà Nội) thì năm 2013, nhà báo Phạm Ngọc Dương  đã đến gặp bà M tại huyện Vân Đồn để tìm hiểu thông tin một vụ việc cần xác minh để viết bài.

Nhà báo Phạm Ngọc Dương đã chụp nhiều ảnh bà M sau đó, bài viết  đăng tải trên ấn phẩm Gia đình và Cuộc sống (thuộc báo Gia đình Việt Nam), có kèm tấm ảnh chân dung của bà M.

Sau đó do bất đồng quan điểm, bà M đã gửi đơn đến Thanh tra Bộ TT&TT về việc báo tự ý đưa ảnh chân dung của mình lên báo. Thanh tra Bộ TT&TT đã xử phạt hành chính 9 triệu đồng đối với Báo Gia đình Việt Nam.

Tiếp đó, bà M khởi kiện Báo Gia đình Việt Nam ra tòa, yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và đòi bồi thường hơn 300 triệu đồng.

Ông Phạm Ngọc Dương cho hay, ông Dương đến huyện Vân Đồn gặp bà M. để tìm hiểu và viết bài về con bà có dấu hiệu bị oan trong một vụ án hình sự nên được bà M. tiếp đón, cung cấp chứng cứ. Khoảng 21 giờ, ông Dương chụp chân dung bà M. để đăng kèm bài báo, bà M. ngồi nhìn vào ống kính, đèn flash bật sáng. Toàn bộ thông tin bà M. cung cấp được ghi âm đầy đủ. Ông Dương cho rằng mục đích viết bài là để làm sáng tỏ sự thật, giải đáp cho dư luận tránh hiểu sai về các cơ quan tố tụng, cũng là muốn bà M. nhận ra sự thật.

Continue reading

VỤ CÔNG TY THÀNH BƯỞI KIỆN BÁO GIAO THÔNG: TÒA ÁN CÓ QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI?

ĐỖ VIỆT (Báo Công lý)

Tóm tắt vụ việc:

Thời gian qua, báo Giao thông đăng tải một số bài viết với nội dung công ty TNHH Thành Bưởi (Doanh nghiệp Thành Bưởi) né nhiều loại phí, thuế mỗi ngày.

Sau đó, doanh nghiệp Thành Bưởi đã khiếu nại, khởi kiện ra TAND quận 5. TP.HCM vì cho rằng các bài viết của báo Giao thông là không chính xác.

Trong khi Tòa án đang thụ lý, xem xét giải quyết vấn đề thì báo Giao thông vẫn tiếp tục đăng bài. Sau khi xem xét vụ việc, TAND quận 5 đã ra Quyết định số 72/QĐ-BPKCTT, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với báo Giao thông.

Sau đó, Báo Giao thông đã có văn bản khiếu nại quyết định 72 của TAND quận 5 vì cho rằng vi phạm nghiêm trọng điều 4 Luật Báo chí về nhiệm vụ của báo chí: “tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”.

Ngày 28/3, Công ty TNHH Thành Bưởi đã gửi đơn đến TAND quận 5  TP.HCM đề nghị rút yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với báo Giao thông. Sau khi công ty Thành Bưởi nộp đơn rút yêu cầu, Chánh án TAND Q.5 đã ra quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc TAND quận 5 TP.HCM yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của Công ty TNHH Thành Bưởi và ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vụ việc Công ty TNHH Thành Bưởi (có địa chỉ tại 266 – 268, Lê Hồng Phong, phường 4, quận 5 TP.HCM) khởi kiện báo Giao thông (Cơ quan của Bộ Giao thông Vận tải) ra TAND quận 5 TP.HCM  vì cho rằng báo này viết bài sai sự thật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp đang gây nhiều tranh cãi trong dư luận.

Có thông tin cho rằng, TAND quận 5. TP.HCM ban hành Quyết định trái pháp luật. Nhằm giúp bạn đọc có cái đa chiều về trình tự tố tụng và tình chất vụ việc PV  đã ghi nhận các ý kiến của các chuyên gia pháp lý về vấn đề này.

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỎA THUẬN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI THỨ BA

Kết quả hình ảnh cho RIGHTS, LEGAL ASSISTANCE OF THIRD PARTY NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (THADS) đã quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Đồng thời, Khoản 4 Điều 54 Luật THADS đã quy định việc thỏa thuận chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thứ  ba. Theo đó, việc xác định người thứ ba trong các trường hợp trên đã có một số ý kiến và quan điểm khác nhau. 

1. Về nội dung một số vụ việc

Trên địa bàn tỉnh Q hiện có nhiều vụ việc khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc vợ chồng ông V và bà D vừa là người được thi hành án, vừa là người phải thi hành án đang do nhiều cơ quan THADS tổ chức thi hành, cụ thể:

(1) Vụ việc thứ nhất:

Ông V và bà D là người được thi hành án trong vụ việc tại Chi cục THADS huyện G, theo đó ông H phải trả ông V và bà D số tiền 450 triệu đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Tuy nhiên, tại Chi cục THADS huyện Đ thì ông V và bà D là người phải thi hành án  tại  04 vụ việc khác với số tiền phải thi hành án trả những người khác là: 1.744.109.000 đồng. 

Ngày 01/7/2016, ông V và bà D đề nghị xóa nợ cho ông H và yêu cầu đình chỉ thi hành án số tiền 450 triệu đồng và lãi chậm thi hành án và cam kết không khiếu nại gì.

Vấn đề đặt ra khi áp dụng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS về đình chỉ thi hành án: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Như vậy, việc xác định người thứ ba theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS có nhiều quan điểm khác nhau: người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc hay người thứ ba có thể là bất kỳ ai, có thể là người khác tại bản án khác hay không?

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT DO CHA MẸ ĐỂ LẠI

Kết quả hình ảnh cho case studyTS. NGUYỄN HẢI AN – TÒA DÂN SỰ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế xảy ra nhưng có những quan điểm giải quyết khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày về một trường hợp tranh chấp cụ thể và những ý kiến xung quanh việc giải quyết; cụ thể như sau:

Nhà trên 381m2 đất tại xã K, huyện G, thành phố H có nguồn gốc của vợ chồng cụ Minh và Bình. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết 1998 đều không để lại di chúc. Cụ Minh, cụ Bình có 03 người con là: ông Hùng, bà Yến (bị câm, điếc bẩm sinh) và bà Liên. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết năm 1998. Sau khi cụ Minh, cụ Bình chết, nhà đất đang tranh chấp do vợ chồng ông Hùng và bà Yến quản lý, sử dụng; bà Liên lấy chồng từ 1978 ở nơi khác. Năm 2003, ông Hùng kê khai, đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình ông Hùng, do ông Hùng là chủ hộ đứng tên; hộ khẩu của bà Yến cùng chung với gia đình ông Hùng. Năm 2009, vợ chồng ông Hùng chuyển nhượng 73,2 m2 trong thửa đất trên cho vợ chồng chị Lan. Bà Yến, bà Liên không đồng ý việc chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hùng nên bà Liên đã làm đơn khởi kiện đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hùng với vợ chồng chị Lan. Bà Liên cho rằng toàn bộ 381m2 đất vẫn là di sản thừa kế của bố, mẹ bà chưa chia: bà và bà Yến có quyền thừa kế đối với diện tích đất của bố mẹ để lại, vợ chồng ông Hùng không được quyền tự ý chuyển nhượng. Vì bà Yến bị câm, điếc bẩm sinh, có nhược điểm về thể chất, ít tiếp xúc với bên ngoài, giao tiếp rất hạn chế; kể cả khi mời giáo viên trường câm điếc, chuyên gia về giao tiếp bằng ký hiệu cũng không giúp cho bà Yến hiểu để bày tỏ ý chí, mà chỉ có ông Hùng, bà Liên hiểu được các dấu hiệu của bà Yến, nên cả hai người là ông Hùng và bà Liên đều nhận là đại diện cho bà Yến.

Xung quanh trường hợp nêu trên, có các quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Vì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ Minh và cụ Bình đều đã hết và không có văn bản thỏa thuận chuyển di sản thuộc sở hữu chung, nên nếu đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải căn cứ khoản 2 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 168, điểm c khoản 1 Điều 192, các khoản 3 và 4 Điều 193 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ông Hùng là người quản lý tài sản và đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có quyền sử dụng và chuyển nhượng; bà Liên không có quyền khởi kiện và không đủ tư cách đại diện cho bà Yến để khởi kiện.

Continue reading

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ƯU TIÊN THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN

Kết quả hình ảnh cho PRIORITY PAYMENT FOR CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN HẰNG 

Tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó”. Đồng thời, Khoản 3 Điều 47 Luật THADS quy định: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm”. Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc cụ thể cần xác định thanh toán tiền thi hành án cho đúng với quy định nêu trên còn có một số ý kiến và quan điểm khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến một vụ việc cụ thể cần có quan điểm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Nội dung vụ việc:

Bà bà Huỳnh Thị L phải thi hành 02 quyết định của Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh K, cụ thể:

* Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 79/QĐST-DS ngày 12/6/2012 xét xử, quyết định: … Bà Nguyễn Thị M và bà Huỳnh Thị L phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền nợ gốc là 596.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 04/6/2012 là 22.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 618.000.000 đồng (Sáu trăm mười tám triệu đồng). Hai bên thống nhất cách trả nợ như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Dương Thị H thỏa thuận đồng ý cho bà M và bà L cùng chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi là 618.000.000 đồng trong thời gian 05 tháng, kể từ ngày 04/6/2012 đến ngày 04/11/2012.
Hai bên tự giao nhận tiền hoặc giao nhận do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá thực hiện.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Continue reading

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI RẮM THỤ LÝ TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG

THANH TÙNG

Do vụ án phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn.

Theo chỉ đạo, tòa cấp sơ thẩm thụ lý nhưng sau đó tòa cấp phúc thẩm lại hủy án, đình chỉ giải quyết…

TAND tỉnh Long An vừa tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp tài sản chung giữa bà M. cùng các nguyên đơn với ông S. vì chưa đủ điều kiện thụ lý vụ án nhưng TAND TP Tân An vẫn nhận đơn giải quyết. Trong vụ này, trước đây tòa án cấp sơ thẩm từng lừng khừng chuyện nhận đơn, còn TAND tỉnh và TAND Tối cao từng chỉ đạo xem xét thụ lý theo đúng quy định.

Kiện đòi chia thừa kế

Theo hồ sơ, sau khi cha mẹ chết, năm 1990 bà M. cùng bốn anh chị em khác giao toàn bộ nhà, đất cho người anh là ông S. quản lý, làm nơi thờ cúng.

Năm 2000, ông S. đi hợp thức hóa nhà, đất rồi bảy năm sau ông chuyển tài sản sang cho hai con gái đứng tên. Tháng 6-2009, bà M. phát hiện nên cùng các anh chị em khác khởi kiện yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà cha mẹ để lại. Theo bà, năm 1990, khi giao tài sản cho anh quản lý, người anh soạn sẵn văn bản thể hiện bà và các anh chị em khác khước từ nhận tài sản thừa kế. Vì chuyện đã lỡ nên tất cả cùng ký với điều kiện phải ghi thêm dòng chữ: “Ngôi nhà chỉ dùng để làm nhà thờ, không được bán”. Tuy nhiên, dòng chữ này sau đó bị công chứng viên xóa bỏ. Đây là việc làm khuất tất nên bà khởi kiện đòi lại quyền lợi…

Tuy nhiên, yêu cầu này bị tòa từ chối giải quyết vì thời hiệu khởi kiện không còn. Đầu năm 2008, anh em bà M. lại khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ hợp đồng cho tặng nhà giữa ông S. với hai con. Các nguyên đơn (bà M. làm đại diện) cũng nhờ tòa tuyên bố ngôi nhà là tài sản chung của cha mẹ để lại và phải chia đều cho sáu anh chị em.

Ban đầu TAND thị xã Tân An (nay là TP Tân An) trả lại đơn kiện vì cho rằng không đủ điều kiện thụ lý. Suốt hai năm sau đó, phía nguyên đơn làm nhiều đơn khiếu nại nhưng không có kết quả.

Bảo nhận đơn rồi lại đình chỉ

Tháng 11-2009, TAND tỉnh Long An chỉ đạo TAND TP Tân An thụ lý giải quyết vụ án của bà M. vì thấy có cơ sở… Thấy vậy tòa án cấp sơ thẩm đã gọi các đương sự lên và ra quyết định thụ lý vụ án chia tài sản chung. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn. Bà M. kháng cáo toàn bộ bản án.

Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ĐẤT CHƯA CÓ GIẤY ĐỎ, TÒA VÀ VIỆN TRANH CÃI

PHAN THƯƠNG

Tòa và VKS tranh cãi về việc người sử dụng đất mới có tên trong sổ địa chính thì tòa có được giải quyết tranh chấp hay không…

VKSND tỉnh Bình Phước vừa đề nghị lãnh đạo VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm một bản án dân sự phúc thẩm của TAND tỉnh này vì cho rằng tòa xử không khách quan và chưa đúng thẩm quyền.

Tòa bảo mình giải quyết là đúng

Theo hồ sơ, trước đây ông ĐTA, ngụ thị xã Đồng Xoài đã khởi kiện bà PTN ra TAND thị xã này để đòi lại hai phần đất có diện tích tổng cộng là 108 m2 mà ông cho rằng bị bà N. lấn chiếm. Tháng 2-2010, TAND thị xã Đồng Xoài xử sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của ông A., buộc bà N. phải trả cho ông A. hơn 70 m2 đất và gần 400 triệu đồng.

Ông A. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm của TAND tỉnh Bình Phước hồi tháng 8-2011, đại diện VKS tỉnh cho rằng toàn bộ diện tích đất mà hai bên đương sự tranh chấp đều chưa được đăng ký để xin cấp giấy đỏ. Mặt khác, các đương sự cũng không tranh chấp tài sản trên đất nên vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa mà thuộc thẩm quyền của UBND thị xã Đồng Xoài. Từ đó, đại diện VKS đã đề nghị tòa hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Sau khi nghị án một tuần để xem xét, TAND tỉnh Bình Phước nhận định phần đất tranh chấp tuy chưa có giấy đỏ nhưng đã có tên người sử dụng trong sổ địa chính. Vì vậy, vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa. Về mặt nội dung, tòa tuyên sửa bản án sơ thẩm, chỉ buộc bà N. phải trả lại cho ông A. hơn 70 m2 đất lấn chiếm.

VKS nói thẩm quyền của UBND

Sau đó, VKSND tỉnh Bình Phước đã có văn bản đề nghị lãnh đạo VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI: VỤ SIÊU MẪU NGỌC THÚY BỊ KIỆN, MUỐN THI HÀNH PHẢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN

NGUYÊN TẤN

Vụ việc ông Nguyễn Đức An, Việt kiều Mỹ mới đây kiện vợ cũ của mình – người mẫu Ngọc Thuý – để đòi khối tài sản trị giá khoảng 288 tỉ đồng đặt ra một số vấn đề pháp lý thú vị.

Bản án của toà án Hoa Kỳ đã có phán quyết những tài sản ấy là sở hữu của ông An nhưng vì sao ông này vẫn phải kiện lại tại toà án Việt Nam? 

Phải được công nhận

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) bất kỳ một bản án hay quyết định (dân sự) của cơ quan tài phán nước ngoài muốn có hiệu lực tại Việt Nam thì phải được toà án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành.

Toà án Việt Nam sẽ tiến hành việc công nhận trong trường hợp bản án, quyết định của toà án của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP). Ngoài ra, việc công nhận cũng có thể được xem xét trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi nước đó đã ký HĐTTTP hay chưa.

Hiện nay, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký HĐTTTP. Do đó, bản án ly hôn liên quan đến tài sản tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ muốn được công nhận thì sẽ phải được xem xét trên cơ sở có đi có lại (có đi có lại, tức là coi xem đã có bản án, quyết định nào của toà án Việt Nam được Hoa Kỳ công nhận và thi hành hay chưa, nếu đã có rồi thì sẽ tiến hành việc công nhận, thi hành).

Một thẩm phán TAND TPHCM cho biết thực tế đã có một số bản án, quyết định của toà án Hoa Kỳ được công nhận và thi hành tại Việt Nam. Vì vậy, nếu ông An yêu cầu toà án Việt Nam công nhận thì có khả năng sẽ được toà án xem xét.

Vậy, tại sao lại kiện?

Tuy nhiên, để bản án, quyết định được công nhận thì còn phải đảm bảo một số nguyên tắc như không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam v.v…

Continue reading

THỰC TIỄN CÔNG NHẬN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ: 28 NĂM CHƯA ĐÒI ĐƯỢC NHÀ CHO THUÊ

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 dự liệu Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình, đây là một dạng cánh tay nối dài cho tình trạng xét xử không có điểm dừng và là thách thức lớn đối với niềm tin của người dân vào công lý và lẽ công bằng…

Civillawinfor

BÌNH MINH

Kỳ án kéo dài 28 năm là điển hình cho tình trạng xét xử không có điểm dừng trong tố tụng dân sự. Quyết định giám đốc thẩm không hủy bản án phúc thẩm bị kháng nghị nên vụ án tồn tại hai quyết định có nội dung đối kháng nhau.

Sau ba lần xét xử sơ thẩm, bốn lần phúc thẩm, ba lần giám đốc thẩm, vụ kiện đòi nhà cho thuê kéo dài gần 28 năm nay quay trở về vạch xuất phát ban đầu, chờ xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn lẫn bị đơn không chờ đợi được, lần lượt qua đời khiến mọi việc càng thêm rối rắm.

Liên tục giám đốc thẩm

Theo hồ sơ, năm 1983, cụ D. đã khởi kiện đòi ông H. phải trả lại cho mình căn nhà mà ông H. đã thuê trước năm 1975. Bốn năm sau, TAND quận 6 xử sơ thẩm và TAND TP.HCM xử phúc thẩm đều công nhận nhà là của cụ D., buộc ông H. phải trả nhà lại. Tuy nhiên, năm 1989, Ủy ban Thẩm phán TAND Tối cao đã giám đốc thẩm, tuyên hủy hai bản án giao về cho TAND TP.HCM xử sơ thẩm lại.

Giữa năm 1990, TAND TP.HCM xử sơ thẩm vẫn công nhận căn nhà trên của cụ D., buộc bên thuê phải trả lại nhà (lúc này ông H. đã chết). Bản án lại bị kháng cáo. Cấp phúc thẩm sau khi xem xét đã ra quyết định “dĩ hòa vi quý” đem căn nhà chia cho cả hai bên.

Sau khi bản án trên bị kháng nghị, Ủy ban Thẩm phán TAND Tối cao đã hủy án, giao cho TAND Tối cao xét xử phúc thẩm lại. Giữa năm 1992, TAND Tối cao đã công nhận chủ quyền nhà cho cụ D.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: BỊ TÂM THẦN, CHA MẸ CÓ ĐƯỢC THAY MẶT XIN LY HÔN?

TÙNG CHI

Pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bị tâm thần thì cha, mẹ người bệnh có quyền đại diện đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tụng hay không. Ngành tòa án từ chối giải quyết trong khi thực tế đã xuất hiện không ít trường hợp tương tự…

Mới đây, TAND một quận tại TP.HCM đã trả đơn trong một vụ xin ly hôn khá lạ: Cha mẹ của một người đàn ông bị tâm thần đề nghị thay mặt con trai đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa nhằm giúp người con dâu được tự do, có cơ hội đi lấy chồng khác.

Giải thoát cho con dâu

Người con dâu trong vụ này là chị G. Theo trình bày của chị, vợ chồng chịlấy nhau được hơn 10 năm, có với nhau hai mặt con. Trước đây, chồng chị hoàn toàn bình thường nhưng sau mấy năm đi làm thuê ở một số nơi về thì thấy có dấu hiệu thần kinh không ổn định. Sau đó người chồng đổ bệnh, ốm liền mấy tháng, khi tạm khỏe lại thì đầu óc không còn minh mẫn như trước, suốt ngày tưng tưng, nói năng lảm nhảm.

Hai năm trước, chị cùng gia đình đưa chồng đến bệnh viện tâm thần khám. Các bác sĩ kết luận chồng chị bị tâm thần nặng. Gần đây, thấy bệnh tâm thần của con trai chữa trị mãi nhưng không hết mà có phần nặng thêm, phía gia đình chồng đã vận động chị G. đứng đơn xin ly hôn để tìm hạnh phúc mới.

Tuy nhiên, do thương chồng và cũng đã lớn tuổi, chị G. không chịu, quyết định ở vậy chăm sóc chồng và các con. Về phía cha mẹ chồng, vì muốn giải thoát cho con dâu khỏi cảnh khổ nên khi vận động không được, họ đã quyết định thay con trai làm đơn “xin ly hôn giùm”.

Luật không cho phép đại diện

Nghiên cứu đơn “xin ly hôn giùm” này, tòa đã giải thích cho cha mẹ chồng chị G. biết là theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được.

Cha mẹ chồng chị G. vẫn thắc mắc rằng bản thân con trai họ đang bị bệnh tâm thần, làm sao tỉnh táo được như người bình thường mà khởi kiện hay tham gia tố tụng. Họ thương người con dâu đã bao năm vất vả vì chồng vì con, giờ có chồng mà cũng như không. Họ muốn gánh trách nhiệm lo lắng, chăm sóc, nuôi dưỡng con trai để con dâu có cơ hội đi tìm hạnh phúc mới. Chẳng lẽ người con dâu của họ sẽ phải bị giam hãm cả cuộc đời mình với người chồng tâm thần suốt đời suốt kiếp hay sao?

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: VỪA LÀM CHỦ, VỪA LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG KIỆN VÌ BỊ CHO THÔI VIỆC, TRANH CHẤP GÌ?

HOÀNG YẾN

Hiện tranh chấp của người vừa là thành viên sáng lập, vừa làm công ăn lương với doanh nghiệp của mình không hiếm. Khi tổng kết hoạt động xét xử, TAND Tối cao cần có đúc kết để áp dụng thống nhất.

Giải quyết vụ bà NTA kiện Công ty Xuất nhập khẩu X., TAND tỉnh Quảng Bình đang băn khoăn chưa xác định được loại tranh chấp trong vụ án là gì.

Người có hai tư cách

Giữa tháng 8-2010, bà A. khởi kiện ra TAND tỉnh cho rằng mình đã bị Công ty X. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

Trong đơn, bà A. trình bày bà làm việc ở Công ty X. đã hơn 20 năm. Năm 2004, Công ty X. tiến hành cổ phần hóa. Bà là một trong những cổ đông sáng lập công ty lúc đó. Sau đó bà được bầu là thành viên hội đồng quản trị, đồng thời được bổ nhiệm làm phó giám đốc công ty.

Đầu năm nay, chủ tịch hội đồng quản trị công ty bất ngờ ra quyết định cho bà nghỉ việc mà không thông báo trước. Bà A. cho rằng suốt thời gian làm việc, bà không hề vi phạm bất kỳ một quy định nào của công ty, cũng như hoàn thành tốt công việc ở cương vị phó giám đốc. Vì thế bà yêu cầu tòa buộc công ty hủy quyết định cho nghỉ việc, đồng thời nhận bà trở lại làm việc ở chức vụ cũ.

Tranh chấp lao động hay thương mại?

Nhận đơn, tòa phân vân khi xác định loại tranh chấp trong vụ án. Bởi lẽ bà A. có hai tư cách: Vừa là thành viên sáng lập, vừa là người lao động của Công ty X. Từ đây, vụ việc phát sinh hai luồng quan điểm trái ngược.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ĐÒI TÀI SẢN LÀ TRANH CHẤP GÌ?

HÀ AN

Đòi lại đất và nhà cửa nhưng tòa lúc xác định quan hệ tranh chấp này, lúc xác định quan hệ tranh chấp khác.

Theo đơn khởi kiện của ông Đ., trước đây ông đã mua hai mảnh đất có trồng cà phê và cây ăn trái. Trên hai mảnh đất còn có hai ngôi nhà gỗ, một ngôi nhà tạm và hai giếng nước. Sau đó, vì phải đi xa làm việc, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi nhà cửa, vườn tược. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đã đòi gia đình người chị phải trả lại. Tuy nhiên, gia đình người chị đã không đồng ý…

Do vậy, ông đã khởi kiện ra TAND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) yêu cầu gia đình người chị phải trả lại số tài sản trên, bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Lúc thế này, khi thế khác

Trong quá trình xử lý vụ việc, các tòa đã có những nhận định khác nhau về quan hệ tranh chấp này. Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án huyện xác định tranh chấp trên là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm (lần một), tòa lại nhận định đây là “tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”.

Sau khi án sơ thẩm bị kháng cáo, cấp phúc thẩm nhận định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Thế nhưng khi ra bản án, tòa lại xác định là “tranh chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”. Bản án phúc thẩm này đã hủy án sơ thẩm để đưa về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

Án quay về tòa án huyện thì một lần nữa, quan hệ tranh chấp lại được xác định khác hẳn với những lần trước. Thẩm phán thụ lý cho rằng tranh chấp này là “tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” chứ không phải là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Còn trong một số văn bản gửi cho cơ quan chức năng về những vấn đề liên quan đến vụ án, tòa lại nhận định đây là tranh chấp “kiện đòi lại tài sản”. Tuy nhiên, đến nay vụ án vẫn chưa được xử sơ thẩm lần hai…

Phải xác định đúng quan hệ

Nhiều ý kiến đã cho rằng việc xác định đúng quan hệ tranh chấp là rất cần thiết trong khi giải quyết án. Bởi lẽ nó sẽ định hướng được đường lối xử lý của tòa, các văn bản luật sẽ được áp dụng, đặc biệt là việc cung cấp chứng cứ của các đương sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KHÔNG MƯỢN TIỀN CŨNG PHẢI TRẢ NỢ

MINH VY

Vụ việc tưởng rất nhỏ nhưng đã gây ra khá nhiều tranh cãi về việc áp dụng pháp luật dân sự. Chị gái giả mạo, vẫn phải gánh trách nhiệm.

Theo phía nguyên đơn trong vụ kiện, ông D đã ba lần mượn ông 550 triệu đồng nhưng hai bên không làm giấy tờ vay mượn mà làm hợp đồng dưới dạng mua bán nhà. Ông D thỏa thuận nếu không trả được tiền nợ thì sẽ bán căn nhà cho ông với giá 800 triệu đồng. Sau đó, ông nhiều lần yêu cầu nhưng ông D không trả nợ nên ông khởi kiện đòi ông D, một là phải bán nhà cho ông, hai là phải trả lại số tiền đã vay.

Chị gái giả mạo, vẫn phải gánh trách nhiệm

Ngược lại, ông D cho biết: “Tôi không hề biết nguyên đơn là ai. Tôi cũng không vay tiền của nguyên đơn. Khi nguyên đơn đến gặp tôi đòi thanh toán tiền thì tôi mới biết ông ta”.

Theo ông D, sau khi tự dưng bị đòi tiền, ông về hỏi chị gái (tòa sơ thẩm xác định là người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án) thì mới hay bà này đã lén lấy giấy tờ nhà, giả mạo chữ ký của ông trong giấy bán nhà cho nguyên đơn để vay 300 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng. Trả được ít lâu thì người chị mất khả năng thanh toán nên tiền gốc và lãi lên đến 450 triệu đồng.

Thương chị, ông đã đến thương lượng với nguyên đơn xin giảm tiền lãi và trả dần nhưng nguyên đơn không chịu. “Nay tôi yêu cầu nguyên đơn trả lại giấy tờ nhà. Số tiền nợ tôi không vay nên không trả” – ông D nói.

Trong quá trình giải quyết án, phía nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đòi chị em ông D phải trả tiền nợ.

Hòa giải không thành, tòa đưa vụ án ra xét xử. Tòa nhận định: Người ký giấy bán nhà không phải là ông D nên hợp đồng này vô hiệu, nguyên đơn phải trả lại giấy tờ nhà cho ông D Còn về việc mượn nợ, có cơ sở khẳng định chị của ông D có mượn số tiền trên. Ông D có biết việc mượn nợ của chị gái, có chủ động liên lạc với nguyên đơn để xin trả nợ dần.

Từ đó, tòa đã tuyên buộc chị em ông D phải liên đới trả 550 triệu đồng tiền nợ, không tính lãi vì nguyên đơn không yêu cầu. Cả hai cùng phải nộp 26 triệu đồng án phí.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ MỒ MẢ: AI GIẢI QUYẾT?

LS. NGUYỄN THÀNH VĨNH – Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre

Thời gian qua đã xuất hiện một số vụ tranh chấp liên quan đến mồ mả của người thân, dẫn đến khiếu nại hay kiện tụng nhưng không cơ quan nào phân xử. Nhiều chuyên gia đã đề xuất ngành tòa án nên xem đây là một dạng tranh chấp dân sự và thụ lý, giải quyết chứ không thể cứ bỏ lửng như hiện nay.

Trước đây, bà N., ngụ quận Bình Tân (TP.HCM), được cha mẹ cho một miếng đất. Sau đó bà được UBND quận cấp giấy đỏ. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình nên giấy đỏ ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Tòa, ủy ban đều từ chối

Sau khi một người anh của bà N. qua đời, gia đình người anh qua hỏi xin chôn trên đất của bà nhưng bà không đồng ý. Do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà không hay biết.

Năm 2007, biết việc, bà N. đã khởi kiện nhờ TAND quận tuyên dời mộ người anh ra khỏi đất của bà. Nhận đơn, tòa lắc đầu từ chối thụ lý vì cho rằng không thuộc thẩm quyền. Bà N. khiếu nại việc này thì bị lãnh đạo tòa bác đơn. Do vậy, bà N. phải quay về nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Nhưng chính quyền địa phương cũng lúng túng, không biết xử lý sao…

Tương tự, mới đây, tháng 4-2010, ông S. nhiều lần đến gặp chú ruột xin được cải táng mồ mả cha mẹ hiện chôn cất tại khu mộ gia tộc trên đất của người chú ở Lai Vung (Đồng Tháp) về một nghĩa trang tại TP Cần Thơ để tiện bề chăm sóc.

Người chú cương quyết không đồng ý nên ông S. phải nhờ đến chính quyền xã. Xã đã vận động người chú cho ông S. bốc mộ cha mẹ nhưng bất thành. Ông S. bèn gửi đơn nhờ huyện Lai Vung giải quyết thì bị từ chối, chỉ qua TAND huyện vì nội dung yêu cầu của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện.

Ông S. kiện ra TAND huyện Lai Vung, tòa cũng trả lại đơn vì cho rằng vụ việc của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Bế tắc, ông S. không biết phải đi đâu, nhờ nơi nào để được bốc mộ cha mẹ về trông nom, hương khói.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TÒA KHỔ VÓI ĐƯƠNG SỰ “TƯNG TƯNG”

HOÀNG YẾN

Trong thực tiễn xử án dân sự có một chuyện làm ngành tòa án nhức đầu. Đó là trường hợp một bên đương sự có dấu hiệu bị tâm thần, tòa quyết định trưng cầu giám định thì người nhà của đương sự bất hợp tác. Tòa chào thua, quyền lợi chính đáng của các đương sự khác trong vụ án cũng bị ảnh hưởng.

TAND một huyện ở TP.HCM đang thụ lý một vụ tranh chấp thừa kế. Trong vụ này có ông Y. là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau khi niêm yết lịch xét xử, tòa mới được công an thông báo là ông Y. bị bệnh tâm thần. Gia đình ông và hàng xóm cũng xác nhận điều này.

Tòa gấp, đương sự cứ đủng đỉnh

Tòa đã yêu cầu gia đình ông Y. đưa ông đi giám định pháp y về tâm thần để tòa có căn cứ tuyên ông mất năng lực hành vi dân sự rồi cử người giám hộ.

Thế nhưng không muốn liên quan gì đến vụ tranh chấp, gia đình ông Y. đã bỏ mặc luôn. Tòa càng thúc giục họ bao nhiêu thì họ càng đủng đa đủng đỉnh bấy nhiêu. Họ viện ra đủ thứ lý do này, lý do kia để không đưa ông Y. đi giám định khiến việc giải quyết án của tòa bị ách lại cho đến nay.

Ở một vụ khác, hơn 20 năm qua, ông P. đã không thể ly hôn với người vợ mắc bệnh tâm thần. Số là ông kết hôn năm 1987, ba năm sau thì vợ chồng ông có một bé gái. Con vừa thôi nôi cũng là lúc người vợ lên cơn, bỏ nhà đi, sau đó được bên ngoại đưa về nuôi dưỡng, chữa trị.

Năm 1998, ông P. nộp đơn ra tòa xin ly hôn với lý do vợ bị bệnh tâm thần, hay nói ông lăng nhăng rồi tự tử, phá phách, chửi bới, đánh đập con cái… Tuy nhiên, tòa không chấp nhận, cho rằng người vợ chỉ bị sốc về tình cảm dẫn đến ảnh hưởng đến tinh thần chứ không phải mắc bệnh.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KIỆN CÔNG NHẬN HỢP ĐỒNG – THỤ LÝ HAY KHÔNG?

TÚ HƯNG

Người nói thụ lý được, còn người lại bảo đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, không phải tranh chấp về hợp đồng nên không thụ lý.

Năm 2003, ông D. (ngụ Bình Dương) mua lại nhà đất của bà N. Bàn bạc xong xuôi, hai bên ra phòng công chứng công chứng hợp đồng. Nhận thấy thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp, phòng công chứng đã… đóng dấu.

Bỗng bị phong tỏa

Sau đó, hai bên đã giao đất, nhận tiền. Bên mua nộp hồ sơ xin đăng bộ, nộp thuế và được hẹn ngày nhận kết quả. Tuy nhiên, đến hẹn, bên mua đến nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lại được trả lời có công văn của cơ quan thi hành án ngăn chặn chuyển nhượng nhà đất nên chưa thể giao giấy chứng nhận được. Nguyên trước đó, do có mượn nợ của người khác, bà N. bị kiện và tòa buộc bà phải trả nợ. Cơ quan thi hành án phong tỏa tài sản trên (vì cho rằng đó là tài sản của bà N.) để đảm bảo thi hành án.

Sau đó, bên mua đã khiếu nại việc kê biên của thi hành án nhưng không có kết quả. Bên mua cũng đã nhiều lần yêu cầu bên bán giải tỏa ngăn chặn việc đăng ký quyền sử dụng đất nhưng cũng không được đáp ứng.

Do vậy, mới đây bên mua đã nộp đơn khởi kiện ra tòa yêu cầu công nhận lại hợp đồng để một lần nữa khẳng định việc mua bán hợp pháp và tài sản đã thuộc sở hữu của bên mua, cơ quan thi hành án không thể phong tỏa tài sản này.

Nhiều quan điểm về thụ lý

Xung quanh việc khởi kiện đòi công nhận hợp đồng này của bên mua đã có nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng không thể thụ lý vụ án. Bởi hợp đồng đã qua công chứng, bên mua đã nhận tài sản, bên bán đã nhận tiền thì bên mua đã có toàn quyền đối với tài sản này nên việc thụ lý để công nhận hợp đồng là không còn ý nghĩa. Không thể thụ lý giải quyết một chuyện đã hiển nhiên. Trường hợp này bên mua chỉ cần khiếu nại việc kê biên tài sản để cơ quan thi hành án hủy quyết định kê biên, trả lại quyền lợi cho bên mua là được.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KIỆN TÒA VÌ KÊ BIÊN SAI, ĐƯỢC KHÔNG?

T.NGUYÊN – T.HIỂU

Vụ một người dân ở Tây Ninh đâm đơn khởi kiện tòa đòi bồi thường vì cho rằng tòa đã ra quyết định kê biên sai, gây thiệt hại cho mình khiến nhiều bạn đọc thắc mắc? Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi tòa có các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng sai pháp luật? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện ra sao?

Vụ việc đã đăng trên Pháp Luật TP.HCM ngày 22-7. Có thể tóm tắt như sau: Vợ chồng ông M. bị người khác kiện ra TAND huyện Tân Châu (Tây Ninh) đòi nợ. Theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa đã ra quyết định phong tỏa hơn 20 ha đất mà tòa nghĩ là của vợ chồng ông M. để đảm bảo thi hành án. Cho rằng quyết định kê biên này sai, ông M. khiếu nại nhưng bị chánh án TAND huyện Tân Châu bác đơn. Ông M. kiện tòa để đòi bồi thường thiệt hại cũng không được thụ lý… 

Từ vụ này, nhiều vấn đề pháp lý đã được đặt ra: Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi cho rằng tòa ra quyết định sai trong quá trình giải quyết án dân sự  hay không? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện như thế nào?

Phải đủ điều kiện, đúng trường hợp

Theo nhiều chuyên gia, quyền khiếu nại, khởi kiện hành vi, quyết định của tòa trong hoạt động tố tụng dân sự để đòi bồi thường thiệt hại đã được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1-1-2007). Tuy nhiên, việc này phải tuân thủ các quy định rất chặt về điều kiện, phạm vi trách nhiệm bồi thường.

Cụ thể, về điều kiện, theo Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, đương sự phải có trong tay văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của thẩm phán (Văn bản này chính là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng). Cạnh đó, phải có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của thẩm phán gây ra.

Continue reading