NHỮNG VẤN ĐỀ BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC CỦA PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ CẦN ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

HOÀNG QUỐC HÙNG – NGUYỄN THẮNG LỢI

Pháp luật về luật sư đã được thay đổi kể từ khi Luật Luật sư có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Vấn đề đặt ra là  sau hơn 02 năm thực hiện Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn cần xem xét, kiểm nghiệm, đối chiếu với thực tiễn để ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này.  Qua công tác thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội (chiếm hơn một nửa tổng số luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong cả nước), Thanh tra Bộ Tư pháp đã rà soát, sơ kết, đánh giá hiệu quả thực tế của các văn bản pháp luật về luật sư. Để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về luật sư, chúng tôi sẽ đăng nhiều bài viết về vấn đề này để bạn đọc cùng tham khảo.

Vấn đề thứ nhất: Bất cập, vướng mắc và giải pháp cho việc chuyển đổi hình thức hoạt động của văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh sang công ty luật trách nhiệm hữu hạn

          Điểm 3, Mục IV của Thông tư số 02/TT-BTP ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/TT-BTP) quy định: “Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 muốn chuyển đổi sang hình thức Công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì phải chấm dứt hoạt động và làm thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Luật sư. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn được sử dụng tên của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã chấm dứt hoạt động.”. Vấn đề đặt ra là quy định này có thực sự phù hợp với thực tiễn và có phù hợp với các quy định khác của pháp luật có liên quan hay không? Qua thanh tra, tiếp thu các phản ánh, kiến nghị của các tổ chức hành nghề luật sư cho thấy, các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh khi làm thủ tục chuyển đổi sang công ty luật trách nhiệm hữu hạn hiện nay đang vấp phải những trở ngại, khó khăn rất lớn.

Continue reading

TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG LỢI ÍCH TRONG KINH DOANH

PHƯƠNG ĐỨC

Trong kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật. Sẽ thật là sai lầm nếu doanh nghiệp tiếp tục hướng đi trên. Kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế … thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp. Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật.

1/ “Hạ sách”: tư vấn pháp luật là biện pháp cuối cùng

Đã có thời chỉ những doanh nghiệp nhỏ, quản lý yếu kém mới cần đến tư vấn pháp luật chỉ khi doanh nghiệp bị pháp luật “sờ gáy và không còn cách giải quyết nào khác thì mới sử dụng hạ sách thuê tư vấn pháp luật. Một thái độ như thế vẫn còn tồn tại trong giới kinh doanh và luật sư nói chung. doanh nghiệp xem luật sư như “bác sĩ của công ty. Luật sư xem doanh nghiệp như “con bệnh pháp luật”. Thái độ này tương phản với thực tế hiện nay ở các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới ở các doanh nghiệp trong các nước phát triển, họ có thói quen thường xuyên sử dụng tư vấn pháp luật vì tư vấn pháp luật đem lại nhiều lợi ích “siêu hưởng nhưng rất thực tế cho họ. Đây cũng là lý do tồn tại của các hãng luật trên thế giới. Một số hãng luật này đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều năm nay.

2/ “Thượng sách”: tư vấn pháp luật có nhiều lợi ích “siêu tưởng”

Xem xét lợi ích của tư vấn pháp luật đối với doanh nghiệp, cần đặt tư vấn pháp luật trong môi trường pháp luật kinh doanh hiện nay.
Nhiều cuộc hội thảo pháp luật về kinh doanh cho thấy, bên cạnh những tích cực thì pháp luật về kinh doanh hiện còn gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Đó là tình trạng xây dựng pháp luật không có tầm nhìn xa, chỉ thấy cây mà không thấy rừng, dẫn đến pháp luật lạc hậu quá xa so với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội thay vì lợi ích cục bộ mà cơ quan soạn thảo xây dựng “luật đá luật”, hay vì luật không quy định cụ thể nên phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành vốn được ban hành chậm, thậm chí còn hướng dẫn sai luật. Ví dụ, trong một cuộc hội thảo pháp luật mới đây đã tổng kết được 11 “điểm nóng” liên quan đến lĩnh vực hải quan, đại diện Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu ra 14 điểm vướng mắc của Luật Phá sản Doanh nghiệp, có báo cáo còn nói Luật Phá sản Doanh nghiệp bị phá sản để chỉ sự bất cập của luật so với đời sống kinh doanh của doanh nghiệp.

Continue reading

CÁC CÔNG TY LUẬT VÀ BA SUY NGẪM PHÁP LÝ

image TRẦN PHƯƠNG MINH (Dịch từ Business Power Law)

Trên thị trường cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý nhiều cạnh tranh gay gắt như hiện nay, rất nhiều công ty luật đang phải đối mặt với sức ép kinh doanh và quản lý để duy trì sự tồn tại của mình. Nói chung, cũng như nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác, các công ty luật vẫn thường bị áp lực nặng nề từ phía cổ đông. Thêm vào đó, thực tế kinh doanh đã khiến nhiều công ty luật rơi vào cảnh “giật gấu vá vai” để rồi phải tìm kiếm sự hợp nhất và hợp tác mới trên thị trường như là một trong những biện pháp cắt giảm chi phí pháp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn của mình.

Các công ty luật có “của ăn, của để” cũng không chịu ngồi yên. Họ vẫn không ngừng tìm kiếm các đối tác hay đồng minh phù hợp với mô hình tổ chức, thông hiểu hoạt động kinh doanh của mình để có thể cùng nhau đưa ra nhiều định hướng kinh doanh và dịch vụ tư vấn hiệu quả.

Đối với những công ty luật may mắn có mặt trong danh sách các đơn vị tư vấn đáng tin cậy của khách hàng, họ thường nhận ra một chân lý rằng để thành công trong hoạt động kinh doanh thì không chỉ cần cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn pháp lý chất lượng với chi phí hợp lý mà còn phải làm bất cứ những gì có thể nhằm tạo dựng mối quan hệ gần gũi và tin tưởng với khách hàng, thậm chí với cả những công ty luật khác, vì những điều tốt đẹp hơn cho uy tín của công ty cũng như cho khách hàng.

Những công ty luật hoạt động trên thị trường tư vấn pháp lý đều có một mong muốn chung là bảo vệ thị phần và tăng cường uy tín dịch vụ của mình. Để đạt được mục tiêu này, các công ty luật bắt đầu nghĩ đến ba vấn đề trong cung cách phục vụ khách hàng của mình. Ba vấn đề pháp lý này (Dimensional Legal Thinking – DLT) liên quan đến việc chấp nhận sự thật rằng một hoạt động kinh doanh dịch vụ pháp lý thành công không bắt nguồn từ việc đơn giản phục vụ và tư vấn cho khách hàng trong các giao dịch mà khách hàng chỉ định cho mình. Những kiểu tư vấn và suy nghĩ truyền thống như vậy vẫn tương đối khá phổ biến trong nhiều công ty luật ngày nay vì họ không dễ dàng phân biệt được sự thay đổi của thị trường mà họ cũng đang cần phải tự thay đổi mình để theo kịp. Nếu so sánh với cách làm việc truyền thống và phương pháp tư vấn chăm sóc khách hàng mới, các công ty luật mới có thể nhận ra nhiều khác biệt đáng kể.

Continue reading

ĐÀO TẠO LUẬT SƯ, CẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

L.H

Đề án “thành lập Tổ chức luật sư toàn quốc” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/1/2008. Đồng thời, Chính phủ cũng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất với 9 thành viên.

Theo đó, tổ chức luật sư toàn quốc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư, các Đoàn luật sư trong phạm vi cả nước; ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề cho luật sư; tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư…

Theo số liệu của Bộ Tư pháp thì số lượng luật sư ở Việt Nam hiện nay còn rất thấp, chỉ khoảng 4.000. Trung bình 20.000 dân mới có 1 luật sư, trong khi ở Singapore, tỷ lệ này là 1.000 dân, Nhật Bản: 5.500 dân, Đan Mạch: 1.000 Thuỵ Điển 2.279, Ở các nước phát triển thì Mỹ có 1 luật sư/270 dân, Pháp: 500 dân. Như vậy, nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên toà, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư (số liệu Bộ Tư pháp báo cáo trước Quốc Hội). Từ số liệu trên có thể thấy đội ngũ luật sư ở Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên,điều quan trọng không phải chỉ nhìn ở số lượng mà phải đánh giá về mặt chất lượng và nhận thức về vai trò của luật sư đối với doanh nghiệp và cả  những người dân bình thường. 

Continue reading

NHIỀU LUẬT SƯ "PHẠM LUẬT" KHI HÀNH NGHỀ

centerimagebg PHẠM TẤN

 Theo luật, các luật sư được tạo điều kiện trong hoạt động hành nghề. Tuy nhiên, sau 2 năm thực hiện Luật này, nhiều luật sư cho rằng họ bị “trói tay trói chân”. Ngược với quan điểm của nhiều luật sư, các cơ quan tố tụng và cơ quan quản lý nhà nước cho rằng năng lực, trình độ của đội ngũ luật sư còn hạn chế, không đáp ứng kịp đòi hỏi của xã hội… Nhận định này được đưa ra tại hội nghị sơ kết hai năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn TP HCM, sáng 18/11/2008.

Thù lao chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ

Theo đánh giá của Sở Tư pháp TP HCM, hoạt động nghề luật sư góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, hỗ trợ hiệu quả đối với các doanh nghiệp, doanh nhân, góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, kinh doanh thương mại của thành phố…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của một số luật sư còn yếu, lúng túng về nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, nhiều trường hợp còn thiếu trách nhiệm.

Một số tổ chức hành nghề luật sư chưa tự giác, nghiêm túc chấp chấp hành các quy định của Luật Luật sư và pháp luật liên quan như: không ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, thực hiện không nghiêm túc các quy định về kê khai, đăng ký, nộp thuế. Đặc biệt, trong đợt thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, tư vấn pháp luật, Thanh tra Bộ Tư pháp phát hiện 43/70 tổ chức hành nghề luật sư được kiểm tra vi phạm pháp luật (tỷ lệ 64%). Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại tình trạng luật sư đòi tiền thù lao quá cao, chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ, không thực hiện hết trách nhiệm với khách hàng, không trung thực, hứa hẹn trước kết quả…

Continue reading

LUẬT SƯ THỜI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: BI HÀI CHUYỆN THẦY CÃI CHỐN PHÁP ĐÌNH

VŨ MAI

“Chạy sô” như ca sĩ, ngủ gật trong phiên xử, “mắng vốn” chủ tọa không đủ tư cách, bị thư ký tòa quát vì bào chữa nói to… Giới luật sư đã có nhiều tình huống hài hước, “dở khóc dở cười” trong chốn pháp đình uy nghiêm.

Thiên chức của người luật sư là bào chữa và tìm ra những tình tiết để bảo vệ cho thân chủ mình tại tòa. Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít vị lại “quên” nhiệm vụ tối ưu ấy của mình.

Điển hình là trong phiên xét xử vụ giết dã man họ hàng bên vợ do Hồ Minh Cường thực hiện. Khi vị chủ tọa đã công bố xong phần thủ tục liền quay sang hỏi luật sư có ý kiến gì không thì phát hiện vị này đã “biến mất” dù trước đó ông này vẫn ngồi đăm chiêu với đống hồ sơ trên tay. Do không muốn gián đoạn phiên tòa, một mặt, vị chủ tọa đề nghị Viện kiểm sát đọc cáo trạng, mặt khác ông đề nghị thư ký đi “lùng” luật sư.

Lo ngại sẽ vi phạm thủ tục tố tụng (vì vắng mặt luật sư) nên vị chủ tọa cứ nhấp nha nhấp nhổm dõi mắt khắp phòng xử. Cho đến khi vị công tố đọc xong bản cáo trạng mà bóng dáng thầy cãi vẫn bặt tăm nên Hội đồng xét xử đành tuyên bố tạm dừng phiên tòa để “tìm cho được luật sư” khiến cả khán phòng ngơ ngác.

Một hồi lâu sau, anh thư ký trẻ xuất hiện với khuôn mặt ỉu xìu vì “bó tay” không biết ông luật sư “lặn” nơi đâu. Lúc này, chủ tọa đành tuyên bố hoãn xử vào ngày khác. Ngay lập tức, gia đình nạn nhân phản ứng dữ dội vì đã phải chờ đợi quá lâu ngày tên thủ ác đền tội khiến Hội đồng xét xử đành tiếp tục chờ luật sư. Vài chục phút sau đó, vị luật sư mới lò dò xuất hiện với vẻ mặt hớt hải tràn đầy lo lắng khi biết việc mình đã gây ra. Lý do là ông bận “chạy sô” cho một thân chủ ở phiên tòa khác.

Continue reading

TÌM KIẾM MỘT LUẬT SƯ THÍCH HỢP

MINH AN (Dịch từ Entrepreneur)

Cho dù là doanh nghiệp lớn hay những doanh nghiệp nhỏ có tốc độ tăng trưởng lớn, rất nhiều câu hỏi pháp lý buộc các doanh nghiệp phải chủ động đương đầu và giải quyết thấu đáo. Khi mà hầu hết các doanh nghiệp đồng ý rằng họ cần thuê những luật sư bên ngoài, việc xác định các loại hình luật sư cần thiết và tìm kiếm họ ở đâu đã trở thành nhiệm vụ quan trọng.

Liệu một luật sư có thể giải quyết tất cả các vấn đề trong doanh nghiệp?  Jeffrey Steinberger là một luật sư tố tụng kỳ cựu và làm sáng lập viên kiêm cộng sự cấp cao của nhiều hãng luật danh tiếng tại Mỹ, bản thân ông cũng sở hữu hãng luật Jeffrey W. Steinberger tại Beverly Hills, California, Mỹ. 

Với kinh nghiệm 20 năm trong lĩnh vực tố tụng, tư vấn pháp lý và phân tích luật, Jefffrey có những quan điểm riêng của mình về vấn đề này.  

Theo Jefffrey, ngay từ ban đầu, hầu hết các doanh nghiệp cần đến những lời khuyên pháp lý liên quan tới nhiều lĩnh vực rộng khắp. Chúng bao gồm hình thức tổ chức của doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, phương hức huy động vốn,….. Các thành viên sáng lập doanh nghiệp sẽ cần tới những cam kết ràng buộc; những bản hợp đồng cần thương thảo và những vấn đề pháp lý khác có thể phát sinh.

Continue reading

BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA LUẬT SƯ KINH DOANH Ở VIỆT NAM

ĐỖ TRỌNG HẢI image 

Những năm gần đây, cùng với tiến trình mở cửa của đất nước và sự phát triển của  kinh tế thị trường, đội ngũ luật sư từng bước được phát triển về số lượng, nâng cao dần chất lượng hành nghề. Phạm vi các dịch vụ mà luật sư cung cấp đang trở nên phong phú và đa dạng. Nhiều văn phòng luật sư, công ty tư vấn pháp luật đã ra đời. Nhu cầu về dịch vụ pháp lý, đặc biệt là về tư vấn pháp luật ngày càng gia tăng.

Trước khi ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001, cả nước có khoảng 20 công ty luật với số lượng khoảng vài trăm người thì ngày nay, sau khi Pháp lệnh luật sư được ban hành, đã có hàng trăm công ty và văn phòng luật được thành lập, tổng số luật sư lên tới vài ngàn người. Trong bối cảnh ấy, đội ngũ luật sư kinh doanh đã xuất hiện và phát triển. Đây là lực lương luật sư chuyên nghiệp, đang góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới.

Luật sư kinh doanh là ai?

Continue reading

THỦ TỤC TỐ TỤNG: GIẰNG CO CỦA NHÂN TÌNH THẾ THÁI

image TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI

Vi phạm về thủ tục tố tụng và đánh giá bản chất vụ án đã làm cho các bị cáo phải theo đuổi một hành trình tố tụng kéo dài tới 7 năm. Mặc dù mới được cho tại ngoại, nhưng chặng đường trước mắt của họ vẫn còn đầy cam go.

Phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án Huỳnh Quốc Phú, Huỳnh Lê Vinh kết thúc vào chiều 14/01/2008 khi trời đã nhập nhoạng tối. Hội đồng xét xử đã đi đến quyết định hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân TPHCM (tuyên phạt Phú 18 năm tù, Vinh 4 năm tù), trong đó có nhận định về vi phạm thủ tục ở giai đoạn điều tra không tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng. Cả hai bị cáo sau khi Tòa phúc thẩm tuyên án, lầm lũi chuẩn bị vào lại Trại tạm giam, nhìn tôi ngơ ngác, như muốn hỏi: “Vụ án này còn kéo dài đến bao giờ nữa”? Theo đuổi hành trình tố tụng kéo dài gần 7 năm trời, có những lúc tưởng chừng tôi muốn buông xuôi vì sự giằng co của nhân tình thế thái, của đan xen giữa những lợi ích của các bên đương sự và cảnh tranh tối tranh sáng giữa vụ án hình chứa đựng trong đó nhiều yếu tố giao dịch dân sự. 

Continue reading

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ: ĐANG Ở ĐÂU TRONG CÁC NHU CẦU XÃ HỘI?

logo_lawyers HUY LONG

Phát triển đội ngũ và hoạt động luật sư được đánh giá là thước đo mức độ dân chủ của một xã hội. Ở nước ta, nghề luật sư vẫn đang phấn đấu để theo kịp sự phát triển chung của thế giới. Tuy nhiên, vấn đề đang được toàn xã hội và bản thân giới luật sư quan tâm hiện nay là liệu luật sư đã thực sự phát huy được vai trò để đáp ứng nhu cầu của xã hội?

1. Luật sư đã là “cánh tay đắc lực” của doanh nghiệp?

Đồng hành …

Theo kết quả nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành vào năm 2001 và tháng 6/2006 cho thấy triển vọng khá lớn về phát triển của đội ngũ và hoạt động luật sư ở nước ta trước sự quan tâm về các dịch vụ pháp lý phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của giới doanh nghiệp (DN). Bên cạnh đó, gần 1.000 công ty, văn phòng Luật trong nước và nước ngoài đi vào hoạt động với số luật sư ngày càng đông (hiện có gần 4.000 luật sư đang hành nghề trên cả nước) và vẫn đang tiếp tục được phát triển đã dự báo được khả năng ngày càng tăng cao của nhu cầu xã hội đối với hoạt động luật sư.

Continue reading

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN V ĂN ĐỘ – TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

 

Continue reading

TÌM HIỂU HỆ THỐNG THUẬT NGỮ DÙNG ĐỂ CHỈ NGƯỜI LUẬT SƯ TRONG TIẾNG ANH

NGUYỄN TUYẾT NHUNG – NHQUANG & CỘNG SỰ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá khi sự giao lưu giữa các hệ thống pháp luật ngày càng trở nên mạnh mẽ, việc chúng ta, một nước theo hệ thống luật thường pháp (civil law) đang dần làm quen và và tiến tới hiểu rõ hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia theo hệ thống luật thông pháp (common law) là điều tất yếu. Để có một cái nhìn toàn diện về hệ thống luật của một quốc gia, cần phải tìm hiểu cơ cấu xã hội luật sư trong quốc gia đó. Tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ mong muốn giới thiệu một số thuật ngữ trong tiếng Anh dùng để chỉ người luật sư ở các nước thông pháp, có đối chiếu với các thuật ngữ trong tiếng Việt nhằm bước đầu đưa ra một cái nhìn tổng thể về xã hội luật sư của các quốc gia này. Đồng thời cũng hi vọng rằng bài viết này sẽ góp phần giúp các luật sư, các dịch giả và những người có liên quan hiểu rõ và sử dụng chính xác hơn các thuật ngữ chỉ người luật sư trong tiếng Anh.

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT LUẬT SƯ

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT LUẬT SƯ
Pháp lệnh luật sư năm 2001 (thay thế Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987) là một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế về luật sư ở nước ta.
Sau 5 năm thi hành Pháp lệnh luật sư, đội ngũ luật sư ở nước ta đã và đang phát triển nhanh về số lượng, tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề cũng từng bước được nâng cao. Tính đến tháng 6 năm 2006 tổng số luật sư trong cả nước đã là 4.032, tăng 2 lần so với tổng số luật sư có được sau hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987. Một kết quả rất quan trọng nữa là Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã tạo điều kiện thuận lợi mở rộng và phát triển hoạt động hành nghề của các luật sư. Chỉ trong thời gian chưa đầy 5 năm, 961 Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã được thành lập và đăng ký hoạt động.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

THS.  NGUYỄN THỊ THỦY –  Khoa luật thương mại trường ĐH luật TP.HCM

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), theo đó, bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm còn DNBH tiến hành trả tiền bảo hiểm cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (BHTNDSCXCG) là hoạt động bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngưới thứ ba và hành khách trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách. Theo quy định của pháp luật, các chủ xe cơ giới là những chủ thể sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ, có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản đối với người thứ ba. Tuy nhiên, trên thực tế, những chủ xe này có thể không có đủ khả năng về tài chính để bồi thường cho những thiệt hại mà mình đã gây ra, vì vậy, pháp luật buộc các chủ thể này phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự. BHTNDSCXCG thực chất là sự chia sẻ trách nhiệm tài chính giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, cụ thể nếu bên mua bảo hiểm có lỗi gây thiệt hại đối với người thứ ba buộc phải bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ gánh đỡ một phần trách nhiệm tài chính mà bên mua bảo hiểm đã gây ra.

Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25/2/2003 về việc ban hành quy tắc, biểu phí và mức bảo hiểm bắt buộc đối với trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Bài viết này xin giới thiệu một số vấn đề pháp lý cơ bản về loại hình bảo hiểm này, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về BHTNDSCXCG.

1. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về BHTNDSCXCG

* Đối tượng và phạm vi áp dụng: Theo quy định của pháp luật, đối tượng mua BHTNDSCXCG là chủ xe cơ giới kể cả chủ xe là người nước ngoài sử dụng xe cơ giới trên lãnh thổ nước CHXHCNVN. Phạm vi áp dụng của loại hình bảo hiểm này bao gồm:

– Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe cơ giới gây ra thiệt hại về người và tài sản đối với người thứ ba;

– BHTNDSCXCG đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách.

Như vậy, theo quy định trên đây, người được hưởng số tiền bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm mà là người bị bên mua bảo hiểm gây thiệt hại. Chính vì vậy, một nguyên tắc được đặt ra là, nếu bên bị thiệt hại không kiện đòi bên mua bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại thì trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm không phát sinh. Có hai trường hợp mà DNBH tiến hành bảo hiểm đó là thiệt hại do chủ xe cơ giới gây ra đối với người thứ ba (không phải là hành khách trên chính chiếc xe đó) và thiệt hại đối với những hành khách trên chính chiếc xe của chủ xe cơ giới theo hợp đồng vận chuyển hành khách.

* Mức trách nhiệm bảo hiểm: Trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thanh toán cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới phải bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự về những thiệt hại đã xảy ra đối với người thứ ba và hành khách chuyên chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách do việc sử dụng xe cơ giới gây ra gồm:

– Đối với thiệt hại về người: Bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, bồi dưỡng chăm sóc người bị hại trước khi chết, mai táng phí hợp lý… theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

– Đối với thiệt hại về tài sản: Bồi thường thiệt hại thực tế theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

– Chi phí hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan đến vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra.

Tổng các khoản bồi thường và chi phí nêu trên không được vượt quá mức trách nhiệm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm và không vượt quá số tiền thực tế mà chủ xe cơ giới bồi thường cho nạn nhân theo hòa giải dân sự hoặc quyết định của tòa án.

Theo quy định trên đây, DNBH chỉ phải trả tiền bảo hiểm cho người bị thiệt hại trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm được các bên thỏa thuận và ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Số tiền này được xác định theo từng vụ tai nạn mà xe cơ giới gây ra. Theo quy định tại QĐ 23/2003/QĐ-BTC thì mức bảo hiểm tối đa cho mỗi vụ tai nạn là về người 30triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách), về tài sản là 30 triệu đồng/ vụ (đối với người thứ ba). Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận với chủ xe để bảo hiểm theo biểu phí và mức trách nhiệm cao hơn (1) (Điều 4 QĐ23/2002/QĐ-BTC). Như vậy, nếu chủ xe cơ giới gây thiệt hại cho chính hành khách trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải trả tiền bảo hiểm cho những thiệt hại về người mà không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại về tài sản.

Trường hợp thiệt hại thực tế xảy ra lớn hơn số tiền bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm (người gây ra thiệt hại) sẽ phải trả cho bên bị thiệt hại số tiền chênh lệch giữa thiệt hại thực tế và số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả. Chẳng hạn, thiệt hại về tài sản mà bên mua bảo hiểm gây ra là 40 triệu đồng/vụ thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường tối đa là 30 triệu, bên mua bảo hiểm sẽ phải trả cho bên bị thiệt hại 10 triệu đồng còn lại. Nếu chủ xe cơ giới tham gia từ hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng đầu tiên có trách nhiệm giải quyết bồi thường và thu hồi số tiền bồi thường chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm.

Trong BHTNDSCXCG, trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được xác định theo từng vụ tai nạn. Cụ thể, trong thời hạn bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm gây ra bao nhiêu vụ tai nạn thuộc trường hợp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Vấn đề đặt ra ở đây là pháp luật có buộc người gây ra tai nạn phải là bên mua bảo hiểm (chủ xe cơ giới) thì doanh nghiệp bảo hiểm mới chi trả bảo hiểm hay không? Chúng ta phải hiểu rằng khi giải quyết bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cần xem xét, có phải chính chiếc xe đã mua bảo hiểm gây ra tai nạn hay không? Tai nạn xảy ra có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không? Còn ai là người gây ra tai nạn không phải là căn cứ để giải quyết bồi thường. Ví dụ: A đã mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chiếc xe của mình sau đó A cho bạn của mình là B mượn xe, trong quá trình lưu thông B đã gây tai nạn cho C. Trong trường hợp trên đây, nếu việc gây tai nạn của B không nằm trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho A để A tiến hành bồi thường cho C. Hay nói một cách khác, trong trường hợp trên đây A phải bồi thường cho C theo trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu chiếc xe, sau đó A có quyền đòi doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.

* Phạm vi bảo hiểm: Trên thực tế, có nhiều ý kiến cho rằng, nếu thiệt hại gây ra do lỗi của chủ xe cơ giới thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm. Quan điểm này là không chính xác vì BHTNDSCXCG là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ thể mua bảo hiểm đối với người thứ ba. Trách nhiệm này phát sinh khi người mua bảo hiểm có lỗi gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Như vậy, về nguyên tắc, nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm và tránh tình trạng trục lợi bất hợp pháp, pháp luật đã đưa ra những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

Theo quy định tại Điều 11 QĐ 23/2003/QĐ-BTC (QĐ 23) thì doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra trong các trường hợp sau:

– Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe /lái xe, hoặc của người bị thiệt hại;

– Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường (đối với loại xe yêu cầu phải có);

– Lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ (đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có giấy phép lái xe), lái xe có nồng độ cồn, rượu, bia vượt quá quy định của pháp luật hiện hành, khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng;

– Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa (trừ khi có thỏa thuận khác);

– Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm;

– Thiệt hại có tính chất gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;

– Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;

– Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh;

– Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

Như vậy, loại trừ những trường hợp trên đây thì những thiệt hại còn lại mà bên mua bảo hiểm gây ra cho bên bị thiệt hại, doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành bồi thường là dựa vào yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên bị thiệt hại đối với bên mua bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm. Về thực chất, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho bên mua bảo hiểm là của bên bị thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế, bên mua bảo hiểm có thể tiến hành bồi thường cho người bị thiệt hại trước, sau đó hoàn tất hồ sơ để yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

BHTNDSCXCG có thể được coi như một sự bảo lãnh về mặt tài chính (trong phạm vi số tiền bảo hiểm) của doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm đối với những thiệt hại mà bên này gây ra cho người thứ ba, chính vì vậy mà luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Trong trường hợp người được bảo hiểm phải đóng tiền bảo lãnh hoặc ký quỹ để đảm bảo cho tài sản không bị lưu giữ hoặc để tránh việc khởi kiện tại tòa án thì theo yêu cầu của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện việc bảo lãnh hoặc ký quỹ trong phạm vi số tiền bảo hiểm”(khoản 4 Điều 55 Luật Kinh doanh bảo hiểm).

* Hiệu lực bảo hiểm: Hiệu lực bảo hiểm được hiểu là khoảng thời gian làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Cụ thể trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm gây thiệt hại về người, tài sản (đối với người thứ ba) và thiệt hại về tài sản (đối với hành khách vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển hành khách) nếu trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì doanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Theo quy định tại Quyết định 23 thì “Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo quy định ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm”. Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu không có thỏa thuận gì khác thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe cơ giới đã đóng đủ phí bảo hiểm. Luật kinh doanh bảo hiểm quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng (2) (điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Như vậy, hiệu lực của giấy chứng nhận bảo hiểm phát sinh khi hai bên tiến hành giao kết hợp đồng (tức khi bên mua bảo hiểm đóng đủ phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm) nếu các bên không có thỏa thuận gì khác. Trong suốt thời gian bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải giữ giấy chứng nhận bảo hiểm để làm căn cứ pháp lý yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm. Trường hợp tai nạn xảy ra ngoài thời hạn bảo hiểm thì trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phát sinh.

Trường hợp giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe mà chủ xe cơ giới không yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến chiếc xe được bảo hiểm vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới. Tóm lại: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể gánh bớt phần nào tổn thất mà bên mua bảo hiểm gây ra cho người bị thiệt hại. Mục đích của loại hình bảo hiểm này là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại trong một giới hạn nhất định nhưng đồng thời cũng giúp cho bên mua bảo hiểm chia sẻ phần nào tổn thất mà họ gây ra.

2. Một số kiến nghị

Mặc dù, Quyết định 23 ra đời đã cụ thể hóa những quy định về loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong luật kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, một số quy định trong Quyết định 23 đã bộc lộ những bất cập và thiếu tính khả thi trong quá trình thực hiện. Để hoạt động Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thực sự là công cụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người bị thiệt hại và góp phần đảm bảo sự lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chúng tôi xin có một số kiến nghị sau:

*Thứ nhất: Về trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc cung cấp thông tin:

Tại điểm a khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định “doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm”. Trên thực tế, quan hệ giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm là hai bên ký kết một hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế trên  cơ sở đôi bên đều bình đẳng. Khi cấp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp những thông tin cần thiết về loại xe, tình trạng xe, mục đích sử dụng… còn bên mua bảo hiểm cũng cần phải biết các thông tin liên quan đến loại hình bảo hiểm mình mua. Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm cung cấp những thông tin không chính xác hoặc sai sự thật về đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền từ chối chi trả bảo hiểm. Nhưng ngược lại, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không cung cấp những thông tin cần thiết cho bên mua bảo hiểm hoặc cung cấp không chính xác làm bên mua bảo hiểm hiểu sai về quyền lợi bảo hiểm của họ thì xử lý như thế nào, điều này chưa hề được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo hiểm nói chung cũng như Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới nói riêng. Đây là một thiếu sót cần phải khắc phục, vì hoạt động kinh doanh bảo hiểm là tương đối mới mẻ tại Việt Nam, sự hiểu biết của người dân về lĩnh vực này chưa cao. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị Bộ Tài chính nên có quy định cụ thể về trường hợp nếu doanh nghiệp bảo hiểm không cung cấp những thông tin hoặc cung cấp thông tin không chính xác cho bên mua bảo hiểm gây thiệt hại thì có trách nhiệm bồi thường và vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nếu nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là do bên mua bảo hiểm không được cung cấp những thông tin cần thiết từ phía doanh nghiệp bảo hiểm.

* Thứ hai: Về hồ sơ yêu cầu bồi thường: Theo quy định tại Điều 20 Quyết định 23 thì hồ sơ yêu cầu bồi thường phải bao gồm các giấy tờ sau:

– Thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường (theo mẫu đính kèm).

– Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người như Giấy chứng thương của nạn nhân, Giấy ra viện, Phiếu mổ và các giấy tờ liên quan đến chi phí chăm sóc, cứu chữa, Giấy chứng tử của nạn nhân, các chứng từ điều trị, chi phí mai táng.

– Các giấy tờ chứng minh thiệt hại tài sản như hóa đơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại do tai nạn; các giấy tờ chứng minh những chi phí cần thiết và hợp lý mà chủ xe đã chi ra để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.

– Bản kết luận điều tra tai nạn của công an, trong trường hợp không có bản kết luận điều tra tai nạn của công an, việc bồi thường sẽ căn cứ vào biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm.

Như vậy, muốn được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có đủ các giấy tờ trên. Theo chúng tôi quy định trên đây là thiếu tính khả thi, cụ thể, trong các giấy tờ trên đây thì bên mua bảo hiểm muốn có được bản kết luận điều tra tai nạn của công an hoặc biên bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm là rất khó khăn. Thông thường, khi tai nạn xảy ra (nếu không dẫn đến hậu quả chết người), hiện trường phải được giải phóng ngay để tránh ùn tắc giao thông. Trên thực tế không phải bất kỳ vụ tai nạn nào cũng đều có kết luận điều tra của công an mà thường chỉ những vụ tai nạn nào gây hậu quả nghiêm trọng về người hoặc tài sản mới có. Trường hợp không có bản kết luận điều tra thì bên mua bảo hiểm phải giữ hiện trường để chờ doanh nghiệp bảo hiểm đến giám định cũng là điều khó thực hiện. Chính vì quy định không thực tế trên đây, trong nhiều trường hợp bên mua bảo hiểm đã phải tự bỏ tiền túi ra bồi thường mà không thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chia sẻ bớt tổn thất cho mình. Từ bất cập trên đây, chúng tôi xin kiến nghị, thay vì yêu cầu phải có biên bản kết luận điều tra tai nạn của công an hoặc bản giám định của doanh nghiệp bảo hiểm, trong một số trường hợp, pháp luật nên cho phép bên mua bảo hiểm lập một giấy xác nhận tai nạn xảy ra, có chữ ký của bên bị thiệt hại và người làm chứng. Quy định như vậy vừa bảo vệ được quyền lợi của bên mua bảo hiểm lại tránh được tình trạng ùn tắc giao thông khi phải giữ hiện trường chờ công an hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đến giải quyết.

* Thứ ba: Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc chi trả bảo hiểm: Theo quy định của pháp luật thì cơ sở pháp lý để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm là đơn bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cấp cho bên mua bảo hiểm. Thực chất đơn bảo hiểm là một cam kết chi trả tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm giải quyết. Chẳng hạn, khi xảy ra tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm phải cử người đến hiện trường, nhận những giấy tờ cần thiết từ bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, trên thực tế, khi xảy ra tai nạn, bên mua bảo hiểm phải đến doanh nghiệp bảo hiểm xin giải quyết bồi thường và để được bồi thường cũng rất khó khăn do phải có đủ những giấy tờ khá nhiêu khê (như đã phân tích ở trên). Vì vậy, theo chúng tôi, Bộ Tài chính nên quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc giải quyết bồi thường. Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ đến hiện trường theo thông báo của bên mua bảo hiểm, phải phối hợp với bên mua bảo hiểm hoàn tất những giấy tờ cần thiết để giải quyết bồi thường. Chứ không phải quy định chung chung như hiện nay “Nếu xét thấy cần thiết…”(3) (Khoản 2 Điều 8 QĐ 23). Quy định này là hoàn toàn phù hợp vì doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm thì phải có trách nhiệm giải quyết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

* Thứ tư: Cần quy định rõ những thủ tục cần thiết nếu bên bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra trong phạm vi số tiền bảo hiểm thì bên bị thiệt hại có thể trực tiếp đòi doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay không? Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm thì “Người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Thiết nghĩ, quy định trên đây cần phải xem xét lại, theo chúng tôi, nếu thiệt hại xảy ra trong phạm vi số tiền bảo hiểm, pháp luật nên cho phép bên bị thiệt hại trực tiếp đòi bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở chuyển quyền khiếu nại của bên mua bảo hiểm. Quy định như trên sẽ bảo vệ được quyền lợi của bên bị thiệt hại, vì việc đòi bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đảm bảo và nhanh chóng hơn từ người gây ra thiệt hại (bên mua bảo hiểm) do doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng về tài chính, phải đảm bảo uy tín của mình trong kinh doanh. Vì lý do trên đây, theo chúng tôi pháp luật nên quy định cụ thể, trong trường hợp bên bị thiệt hại trực tiếp đòi bồi thường từ phía doanh nghiệp bảo hiểm thì cần phải có những giấy tờ nào, thủ tục cụ thể ra sao? Quy định này là cần thiết vì Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thực chất là bảo vệ quyền lợi về mặt tài chính cho những chủ thể bị bên mua bảo hiểm gây ra thiệt hại.

* Thứ năm: Cần sớm ban hành văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua ngày

22 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực ngày 1/4/2001, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Sự chậm trễ này đã dẫn đến tình trạng, có những vi phạm pháp luật bảo hiểm thương mại không được xử lý trên thực tế do chưa có văn bản quy định cụ thể. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm thương mại và thiết lập kỷ cương của Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần ban hành ngay văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này. Trong văn bản xử phạt cần quy định rõ những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại, cách thức xử lý cụ thể trong trường hợp bên mua bảo hiểm cũng như doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm pháp luật về bảo hiểm thương mại. Thực hiện được điều này sẽ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được lành mạnh, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm thương mại.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3/2003

ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ Ở PHÁP

LP

Pháp là một nước có nền dân chủ lâu đời, một nền kinh tế thị trường phát triển, một nền pháp chế hoàn thiện. Số luật sư ở Pháp rất đông, riêng đoàn Luật sư Paris có trên 1, 5 vạn người, Đoàn nhỏ cũng có khoảng vài trăm luật sư. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, việc đào tạo nghề nghiệp cho luật sư rất được chú trọng và được tổ chức chặt chẽ.

Trước tiên, luật sư được đào tạo ở Trung tâm đào tạo luật sư. Sau khi tốt nghiệp, Trung tâm vẫn giám sát việc tập sự của luật sư và đào tạo thường xuyên về nghề nghiệp cho luật sư. Người muốn vào nghề luật sư phải có bằng Đại học luật hoặc tương đương và trải qua một kỳ thi tuyển. Thời gian học là 1 năm. Một số người có thể được miễn học tập ở Trung tâm như Giáo sư luật, Tiến sỹ luật, người đã có nhiều năm làm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Công chứng viên do pháp luật quy định. Các học viên được đào tạo về lý luận và thực tiễn hành nghề luật sư. Chương trình học do Uỷ ban quản lý Trung tâm khu vực quy định với sự nhất trí của Hội đồng quốc gia luật sư và báo cáo với Bộ Tư pháp. Nội dung chương trình chủ yếu là nghiên cứu điều lệ và đạo đức luật sư, thảo các văn bản, bào chữa trước toà, thực hành các thủ tục tố tụng, quản lý một văn phòng luật sư, học một ngoại ngữ. Người tốt nghiệp sẽ được cấp chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư.

Để trở thành một luật sư thực thụ, người đã có chứng chỉ khả năng hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư, tuyên thệ trước Toà án phúc thẩm và phải ghi tên vào danh sách những người tập sự thuộc Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp, thời gian tập sự là 2 năm. Trung tâm khu vực quy định những yêu cầu của luật sư tập sự, những việc phải giao cho học viên và giám sát thực hiện. Trung tâm lập danh sách những luật sư hướng dẫn, luật sư được giao nhiệm vụ không được từ chối. Các luật sư tập sự bên cạnh một luật sư, một người chuyên nghề nghiệp pháp lý, một chuyên gia kinh tế trong cơ quan pháp chế có từ 3 luật gia trở lên hoặc có thể tập sự ở một cơ quan công quyền. Ngoài ra, hàng năm, Trung tâm khu vực đào tạo nghề nghiệp luật sư còn tổ chức bồi dưỡng cho luật sư về các đề tài pháp lý mới hoặc về thực tiễn.

Ở nước ta, sau khi được đào tạo ở Học viện Tư pháp, người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư được tham gia tập sự ở các Đoàn luật sư hoặc Văn phòng luật sư. Để nghề luật sư phát triển và thực sự phát huy được ý nghĩa tốt đẹp của nó thì không những cần tăng cường về số lượng mà còn phải quan tâm đến vấn đề chất lượng luật sư. Hiện nay, việc xây dựng một ngôi nhà chung cho Đoàn Luật sư toàn quốc ở Việt Nam là cần thiết để vừa phát huy sức mạnh nội lực đồng thời có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức luật sư nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho luật sư.

SOURCE: HAIPHONG.GOV.VN

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN ĐỐI VỚI VIỆC MỞ RỘNG TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

TƯỞNG DUY LƯỢNG & NGUYỄN VĂNNG – Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao

I. CHỦ THỂ THAM GIA TRANH TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Nhận thức về tranh tụng mở rộng tại Tòa án:

Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lấy phần phải”. Như vậy, từ điển Hán Việt chỉ giải thích theo ngữ nghĩa của từ tranh chấp, chứ không phải “tranh” theo một trình tự tố tụng.

Còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng là việc “yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình”. Do đó, tranh tụng chỉ đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tồ chức cho rằng quyền lợi của họ hay của người khác bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ cho họ. Yêu cầu này được Tòa án chấp nhận giải quyết theo trình tự tố tụng pháp luật quy định, khi việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, tranh tụng trong tố tụng dân sự diễn ra từ khi bắt đầu khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố vì lợi ích chung cho đến kết thúc giai đoạn tranh luận tại phiên tòa.

Các đương sự tham gia vào các giai đoạn này luôn đưa ra yêu cầu Tòa án xét xử theo hướng có lợi cho mình và đồng thời đưa ra lý lẽ để biện minh cho yêu cầu của mình đặt

ra là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay có quan điểm cho rằng tố tụng của Việt Nam là

tố tụng xét hỏi, do đó tranh tụng chỉ có trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa. Bởi lẽ, từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa các thẩm phán phải trực tiếp điều tra, thu thập chứng cứ,

có nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp, có căn cứ về yêu cầu của các bên. Thực tế cho thấy, trước giai đoạn tranh luận, không có việc các bên đương sự đối đáp, tranh tụng trực tiếp với nhau, chỉ đến giai đoạn tranh luận thì mới xuất hiện sự tranh tụng, còn điều tra, xét hỏi tại phiên tòa thực chất là quá trình Tòa án tìm ra sự thật vụ án, chưa xuất hiện tranh tụng trong các giai đoạn này. Chúng tôi cho rằng cách hiểu về tranh tụng trong quan điểm này, chỉ coi sự đối đáp trực tiếp mới là tranh tụng sẽ không đầy đủ. Có lẽ cách hiểu đúng về thuật ngữ tranh tụng phải bao gồm cả đối đáp trực tiếp và cả sự “đối đáp” gián

tiếp. Trong đó một yếu tố không thể thiếu để có được sự tranh tụng thực sự đó là việc các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ, thông tin cho nhau, qua đó, các bên đưa ra lập luận, lý lẽ, chứng cứ được thể hiện bằng văn bản nhằm bác bỏ quan điểm phía bên kia.

Do đó, dù Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự còn nhiều hạn chế nhưng các quy định của Pháp lệnh đã phần nào thể hiện sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, còn dự thảo 12 Bộ luật tố tụng dân sự đã thể hiện một cách rõ nét sự kết hợp giữa tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng, vai trò của các bên đương sự trong tố tụng đã được đề cao rất nhiều, nó thể hiện ngay trong trách nhiệm của các bên đương sự trong quá trình tố tụng.

2. Chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự, bao gồm:

– Đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được Viện kiểm sát khởi tố

vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa

vụ của họ.

– Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây có thể được chấp nhận làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư không bị cấm thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không phải là cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an; Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

– Các cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

– Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động.

– Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền,

lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng khác.

– Người đại diện.

Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự, như: đại diện cho đương sự là người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự hoặc đại diện cho cơ quan, tổ chức… Tuy nhiên, các trường hợp sau đây sẽ bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự: nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người đại diện mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền,

lợi ích hợp pháp của người được đại diện; nếu họ đang là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án; cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát, ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Thực tiễn tùy từng vụ án mà các đối tượng có thể tham gia tranh tụng do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Họ cũng có thể tham gia từ khi thụ lý vụ án, nhưng cũng có thể tham gia vào những giai đoạn tố tụng khác nhau. Khi tham gia tranh tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ được quy định trong tố tụng dân sự.

3. Sự khác nhau giữa tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng trong tố tụng hình sự:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra trong các phiên tòa mà phần tranh tụng chủ yếu là ở phần tranh luận; tại đây giữa các bên đã đối đáp nhau một cách trực tiếp. Chủ thể tranh tụng trong tố tụng hình sự bao gồm: Viện kiểm sát và người bị hại, nguyên đơn dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại, đại diện cho bị hại, nguyên đơn dân sự…, luật

sư của các bên và bị cáo.

Như vậy, trong tranh luận sẽ hình thành 2 tuyến chủ thể chủ yếu, đó là người buộc tội, còn một bên là người gỡ tội. Mặc dù bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng bị cáo và những người thuộc tuyến chủ thể này có quyền chứng minh sự vô tội của mình, họ đưa ra các căn cứ, lý lẽ, lập luận bác bỏ sự buộc tội của phía bên kia. Về nguyên tắc thì các bên đều bình đẳng với nhau trong quá trình tranh tụng. Nhưng thực tế bên bị buộc tội khó có thể có được sự bình đẳng thực sự trong tranh tụng, vì chính họ có thể bị thiếu những điều kiện, phương tiện và khả năng để thực hiện được sự bình đẳng trong tranh tụng. Tranh tụng trong tố tụng hình sự chỉ diễn ra tại phiên tòa, còn tranh tụng tố tụng trong dân sự diễn ra kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và giữa các bên trong quá trình tranh tụng hoàn toàn bình đẳng. Trong tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát là cơ quan đại diện quyền lực cho nhà nước, luôn luôn là một chủ thể phải tham gia tranh tụng với tư cách là người buộc tội, còn trong dân sự Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức xã hội chỉ tham gia tranh tụng khi họ là người khởi kiện hoặc khởi tố vụ án. Đây có thể là những dấu hiệu

cơ bản để phân biệt tranh tụng trong tố tụng hình sự với tranh tụng trong tố tụng dân sự.

II. VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tranh tụng là một hoạt động quan trọng trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng. Nó chỉ diễn ra trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là hoạt động của chủ thể trong quá trình chứng minh về tính hợp pháp và có căn cứ của các yêu cầu mà họ đặt ra hoặc chứng minh về tính bất hợp pháp, thiếu căn cứ về các yêu cầu mà phía đương sự bên kia đưa ra. Trong quá trình tranh tụng các bên đương sự sẽ đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, những lập luận nhằm bảo vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của đối phương. Do đó, tất cả các hoạt động như trình bày các yêu cầu của mình trong đơn, các bản tự khai trong đó đưa ra các lý lẽ, chứng cứ, lập luận, yêu cầu, phản yêu cầu, cung cấp chứng cứ, bằng chứng hoặc sự đối chất qua các bên, quá trình trao đổi

tài liệu chứng cứ cho nhau diễn ra trước khi mở phiên tòa, chính là quá trình các đương

sự thực hiện sự tranh tụng. Trong suốt quá trình tố tụng đó, vai trò của thẩm phán là rất quan trọng, thậm chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, hay là một bên trong quá trình tranh tụng nhưng với tư cách là người đại diện cho nhà nước, thực thi công lý, họ có vai trò là người trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng đúng pháp luật.

Nếu việc tranh tụng đó diễn ra tại phiên tòa thì vai trò của thẩm phán được thể hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên tòa là nơi sẽ diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn này vai trò của thẩm phán trong tranh tụng cũng được thể hiện một

cách nổi bật, thẩm phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm vào những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn, cần làm rõ của vụ kiện.

Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng thì thẩm phán lại có vai trò khác nhau:

1. Giai đoạn khởi kiện, khởi tố và thụ lý, điều tra vụ án:

Thẩm phán kiểm tra đơn khởi kiện, quyết định khởi tố có đủ điều kiện thụ lý hay không. Chỉ có các trường hợp sau đây thì đơn khởi kiện, khởi tố sẽ không được thụ lý:

– Thời hiệu khởi kiện đã hết;

– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ các vụ án ly hôn mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc các vụ kiện đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho ở nhờ, mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện;

– Hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, khởi tố;

– Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Còn trong trường hợp khác thẩm phán phải thụ lý, nếu trong trường hợp đơn khởi kiện, khởi tố không đúng quy định của pháp luật thì yêu cầu người khởi kiện, khởi tố sửa đổi,

bổ sung đơn khởi kiện, quyết định khởi tố.

Sau khi thụ lý, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho các nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đồng thời yêu cầu họ đưa ta các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu của mình đưa ra là chính đáng và ngược lại đối với bên bị yêu cầu, nếu họ không chấp nhận yêu cầu của phía bên kia thì cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để bác bỏ yêu cầu của phía bên kia. Vấn đề này thể hiện thông qua đơn khiếu nại, giải trình, lấy lời khai đương sự, đối chất các chứng cứ tài liệu

do các bên xuất trình…

Trong quá trình tranh tụng các đương sự có thể yêu cầu hoặc Tòa án thấy cần thiết có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; trưng cầu giám định; quyết định,

định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác việc thu thập chứng cứ, sắp tới khi Bộ luật tố tụng dân sự thông qua, với yêu cầu nâng cao vai trò nghĩa vụ chứng minh của đương sự, để các bên có được thông tin khi thực hiện việc tranh tụng thì thẩm phán phải yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ của mình cho phía bên kia. Vì vậy, nếu thiếu vai trò tích cực của thẩm phán thì vấn đề tranh tụng của các đương sự không được thực hiện một cách triệt để. Đây là giai đoạn tranh tụng thể hiện bằng các hành vi pháp

lý, thông qua các hình thức văn bản là chủ yếu nhằm chuẩn bị cho tranh tụng có sự đối đáp trực tiếp tại phiên tòa.

2. Vai trò của thẩm phán đối với vấn đề tranh tụng trong phiên tòa:

* Về thủ tục xét hỏi

– Bắt đầu vào thủ tục xét hỏi, Hội đồng xét xử lần lượt nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của họ… Nếu tổ chức xã hội hoặc Viện kiểm sát… là người khởi tố thì Viện kiểm sát, tổ chức khởi kiện được trình bày và phát biểu trước. Người trình bày có quyền nêu rõ nội dung sự việc và yêu cầu, đồng thời xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.

– Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện, hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng nói rõ những việc liên quan đến việc tranh chấp mà họ biết.

+ Trước khi nghe lời trình bày của người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu người làm chứng tuyên thệ trước Tòa là chỉ nói đúng sự thật.

+ Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu, người giám hộ giúp đỡ để hỏi.

– Hội đồng xét xử tiến hành xem xét các vật chứng và hướng dẫn cho đại diện Viện kiểm sát, đại diện của tổ chức, các đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự xem xét các vật chứng tại phiên tòa.

Nếu vật chứng không đưa đến phiên tòa được, khi cần thiết Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đến xem xét tại chỗ.

– Chủ tọa phiên tòa công bố bản kết luận giám định, nếu người giám định vắng mặt hoặc mời người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Người giám định có quyền giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định tại phiên tòa.

– Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát lần lượt đặt câu hỏi đối với từng vấn đề đang

có tranh chấp, câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, người được hỏi phải trả lời ngắn gọn và đúng vấn đề được hỏi và yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ kiện mà người đó đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

– Nếu thấy cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể cho đối chất ngay tại phiên tòa giữa những người đã trình bày về những điểm có mâu thuẫn.

– Những người tham gia tố tụng khác có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn

đề cần được hỏi thêm hoặc yêu cầu thu thập thêm chứng cứ. Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu đó và căn cứ vào tình tiết vụ án đề quyết định.

Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, luật sư… thực hiện đặt câu hỏi với phía bên kia, đối với người làm chứng, giám định và những người tham gia tố tụng khác về các tình tiết liên quan đến vụ án.

+ Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh tính hợp pháp của chứng cứ, nếu thấy việc đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ kiện.

+ Trường hợp chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, cung cấp thêm vật chứng, nếu không thực hiện được ngay, thì có thể phải dừng phiên tòa.

Trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử mà đặc biệt vai trò của thẩm phán chủ tọa là người chủ trì, điều khiển đảm bảo phiên tòa diễn ra một cách trật tự. Hội đồng xét xử phải khách quan tập trung lắng nghe lời khai của các bên, của các nhân chứng… lời phát biểu của luật sư, của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.

* Thủ tục tranh luận tại phiên tòa.

– Sau khi kết thúc việc xét hỏi, nếu không phải hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ việc xét xử thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận.

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bảo vệ quyền, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó lần lượt lập luận về các tình tiết của vụ kiện, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý và đề xuất hướng giải quyết vụ kiện. Nếu Viện kiểm sát khởi tố vụ kiện hoặc cá nhân, tổ chức khởi kiện lợi ích của người khác thì Kiểm sát viên, cá nhân hoặc đại diện của tổ chức đó trình bày ý kiến của mình đầu tiên.

– Trong trường hợp đương sự có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa, trình bày

ý kiến trước thì người đại diện hợp pháp có quyền bổ sung hoặc nếu người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến trước thì đương sự được quyền trình bày ý kiến bổ sung.

– Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng thông thường họ chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Tuy nhiên, đối với tình tiết hoặc chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nội dung tranh chấp, Chủ tọa phiên tòa có thể để các bên tranh luận thêm. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ kiện.

– Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận, để việc tranh luận có chất lượng thì chủ tọa phải xác định những vấn đề mà các bên cần tranh luận với nhau, hướng việc tranh luận vào trọng tâm, vào những điều cần phải làm rõ để xác định sự thật, xác định được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

– Nếu qua tranh luận thấy việc điều tra vụ án chưa toàn diện thì có thể dừng phiên tòa

để điều tra bổ sung, nếu cần thấy phải xem xét thêm vật chứng, xét hỏi thêm thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại giai đoạn xét hỏi và sau đó lại tiếp tục tranh luận.

Tóm lại, quy trình tranh tụng như trên cho thấy thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng tranh tụng, nếu không có thẩm phán tham gia thì không thể có tranh tụng như luật quy định. Đối với các đương sự họ là nhân vật trọng tâm, là chủ thể chính của việc tranh tụng còn thẩm phán giữ vai trò là người tổ chức, điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật và là người trọng tài để đưa ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ, các quy định của pháp luật mà các đương sự đã chứng minh là đúng đắn trong quá trình tranh tụng.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2 /2004

NGHỀ LUẬT SƯ Ở SINGAPOR

Hiện nay, Xin-ga-po được coi là một trong những nước có hệ thống pháp luật phát triển khá mạnh ở châu á. Dịch vụ pháp lý nói chung và hành nghề luật sư nói riêng được khuyến khích phát triển. Từ những năm 90 đến nay, các luật sư và hãng luật ở nước này không chỉ hành nghề trong nước mà còn mở rộng hoạt động ra ở nhiều nước khác trên thế giới.

Theo Điều 12 của đạo luật về hành nghề luật sư ở Xin-ga-po, người muốn hành nghề luật sư phải từ 21 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; đã qua thời kỳ tập sự theo quy định và tham gia các lớp tập huấn, các kỳ kiểm tra theo quy định của Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po. Uỷ ban Giáo dục pháp lý Xin-ga-po là cơ quan thực hiện chức năng đăng ký những người có đủ điều kiện để trở thành luật sư. Ngoài chức năng trên, Uỷ ban còn tiến hành công tác đào tạo và kiểm tra đối với những người có đủ điều kiện muốn trở thành luật sư. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Uỷ ban có thể xem xét và công nhận luật sư đối với các trường hợp ngoại lệ khi người nộp đơn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định trong Điều 12 nêu trên. Ngoài ra, Uỷ ban cũng có thể miễn cho một số người không phải theo học các khoá tập huấn và các kỳ kiểm tra nếu những người này được coi là ‘có đủ kinh nghiệm hoặc có quyền được miễn vì một lý do nào đó‘.

Thời gian tập sự ở Xin-ga-po là 6 tháng. Trong thời gian này, người tập sự không được phép mở văn phòng riêng hay làm thuê, cộng tác để làm nghề luật sư dưới bất cứ hình thức nào trừ khi được Uỷ ban chấp thuận bằng văn bản. Thời hạn tập sự có thể được xét giảm nếu người tập sự là luật sư tư vấn của Anh, Bắc Ailen hay đã hành nghề trong Khối thịnh vượng chung (gồm 54 thành viên, trong đó có 3 nước Đông Nam á là Xin-ga-po, Malaixia và Brunây). Những người này đã đăng ký ở Uỷ ban và đáp ứng đầy đủ các điều kiện trở thành luật sư phải nộp đơn đến Toà án để được công nhận là luật sư. Đơn đồng thời cũng được gửi đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư và các cơ quan hữu quan khác. Toà án chỉ xem xét công nhận sau khi đã nhận được ý kiến của các cơ quan này.

Chứng chỉ hành nghề luật sư do Lục sự ký và có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến hết năm. Khi một luật sư rút tên khỏi danh sách, chứng chỉ hành nghề của luật sư ngay lập tức sẽ không còn giá trị. Khi có sự thay đổi về họ tên, địa chỉ, địa điểm hành nghề và các dữ liệu cá nhân khác, luật sư phải thông báo cho Lục sự để thay đổi nội dung chứng chỉ hành nghề.

Chứng chỉ hành nghề của các luật sư Xin-ga-po cho phép các luật sư hành nghề với cả tư cách của luật sư bào chữa và luật sư tư vấn. Tại bất kỳ thời điểm nào sau khi công nhận người nộp đơn là luật sư mà Toà án phát hiện ra rằng người nộp đơn đã khai man các nội dung trong đơn, bản khai có tuyên thệ hoặc các giấy tờ liên quan hoặc cố tình che giấu sự thật thì Toà án sẽ xoá tên luật sư đó khỏi danh sách.

Luật sư của Xin-ga-po có quyền hành nghề với cả hai tư cách: Luật sư tư vấn và luật sư bào chữa. Một luật sư có thể hành nghề dưới hình thức cá nhân hoặc hành nghề trong các hãng luật dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn hoặc hợp danh. Hình phạt dành cho người hành nghề trái pháp luật có thể từ 500 đôla Xin-ga-po đến 6 tháng tù giam tuỳ theo mức độ vi phạm. Điều đặc biệt là ở Xin-ga-po tồn tại một loại hình luật sư theo vụ việc. Điều này có nghĩa là Toà án có quyền xem xét và công nhận một người không được công nhận và cấp chứng chỉ theo Đạo luật này là luật sư của một vụ việc cụ thể, nếu người đó được cấp chứng chỉ luật sư của Hoàng gia; không thường xuyên cư trú tại Xin-ga-po nhưng dự định đến Xin-ga-po để tham gia vào một vụ việc nào đó và có khả năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực của vụ việc đó.

Hiện nay các luật sư của Xin-ga-po hành nghề trong các hãng luật có quy mô khác nhau: Những hãng lớn thường có từ 80 luật sư trở lên; loại trung bình thì có khoảng 20 đến 30 luật sư; chiếm đa số vẫn là các hãng luật nhỏ có khoảng 5 luật sư thành viên. Trong đó, các hãng luật lớn thường có các bộ phận chuyên môn về một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, hàng hải, còn những hãng nhỏ ít có sự chuyên môn hoá hơn và thường tập trung vào các lĩnh vực như pháp luật về hình sự, giao thông, xây dựng và thu hồi nợ./.

P.L (St) – HAIPHONG.GOV.VN

 

LUẬT SƯ, TRỌNG TÀI CHƯA THEO KỊP… WTO

Hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng như tranh chấp trong các giao dịch thương mại dự kiến sẽ gia tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Thế nhưng, hai dịch vụ pháp lý quan trọng là luật sư và trọng tài hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho quá trình hội nhập nói trên.

Thiếu cả lượng lẫn chất

Theo ông Lê Hồng Sơn, Vụ phó Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp), tính đến nay cả nước đã có 3.918 luật sư và luật sư tập sự, tăng tới 187% so với năm 2001.

Mặc dù vậy, số lượng luật sư hiện có vẫn chưa đủ so với nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Tỷ lệ luật sư chỉ mới đạt 1/21.215 người dân, trong khi tỷ lệ này ở Nhật là 1/4.546; Thái Lan: 1/1.526; Singapore: 1/1.000; Mỹ: 1/250…

Có những tỉnh như Kon Tum, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn số lượng luật sư chỉ có khoảng 3-4 người. Thậm chí, có địa phương như Lai Châu, Điện Biên không có đủ số luật sư cần thiết để thành lập đoàn luật sư.

Vì vậy, một số phiên tòa ở đây từng phải tạm hoãn do thiếu luật sư hoặc trong các vụ án chỉ định luật sư tòa phải mời luật sư từ các địa phương khác đến tham gia!

Tại cuộc tọa đàm về tác động của Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (BTA) đối với nghề luật sư và trọng tài do Bộ Tư pháp tổ chức tuần qua ở TPHCM, nhiều ý kiến cho rằng điều đáng ngại là chất lượng luật sư vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập.

Trong tổng số luật sư hiện có, chỉ có 2.611 người (chiếm gần 67%) đã qua lớp đào tạo nghề luật sư; số còn lại chưa qua lớp đào tạo hoặc được miễn đào tạo theo quy định.

Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư tư vấn Độc Lập, thừa nhận số lượng các luật sư tinh thông về ngoại ngữ và có trình độ tiếp cận với các hợp đồng thương mại quốc tế gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Phần lớn còn lại hành nghề tư vấn đơn giản hoặc tranh tụng tại tòa với khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân trong nước, cá nhân và hộ gia đình.

Nguyên nhân của tình hình trên, theo Luật sư Phạm Thị Vạn Thanh (Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng) có phần do việc đào tạo cử nhân luật hiện còn nhiều bất cập, dẫn đến chất lượng thấp. “Có những sinh viên ra trường mà kiến thức cơ bản hay những khái niệm rất đơn giản vẫn hiểu sai hoặc không biết”, bà Thanh nói.

Cùng quan điểm trên, Luật sư Fred Burke (Chi nhánh Công ty Luật Baker & McKenzie) cho rằng, khiếm khuyết nằm ở phương pháp đào tạo theo kiểu “học vẹt” lâu nay trong các trường đại học luật. “Các sinh viên đã lãng phí thời gian để học thuộc lòng các văn bản luật nhưng đến khi họ tốt nghiệp thì những văn bản này đã hết hiệu lực.

Trong khi đó, nhà trường lại rất ít khi dạy cho sinh viên cách làm thế nào để nghiên cứu các luật mới và phân tích các vấn đề pháp lý, những thứ mà họ sẽ phải làm hằng ngày trong suốt cuộc đời hành nghề của mình”.

Theo Luật sư Fred Burke, biện pháp để cải thiện tình hình là nên cho phép các giảng viên luật được hành nghề luật sư vì điều đó sẽ làm cho việc giảng dạy hiệu quả hơn nhiều (Hiện ở Việt Nam, luật không cho phép vì giảng viên là công chức).

“Ngay cả ở các trường luật nổi tiếng thế giới, các giáo sư luật cũng phải bỏ thời gian để tư vấn cho khách hàng riêng” – ông cho biết.

Ông Burke cũng cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm xuất khẩu dịch vụ pháp lý toàn cầu như Hồng Công, Singapore nhưng hiện vẫn còn những trở ngại nhất định.

Thí dụ, dịch vụ pháp lý xuất khẩu hiện vẫn bị đánh thuế giá trị gia tăng 10% trong khi hàng hóa xuất khẩu thông thường khác là 0%.

Hoặc quy định của Luật Luật sư về việc thu hồi chứng chỉ luật sư khi luật sư không thường trú tại Việt Nam; tiêu chuẩn luật sư với điều kiện bắt buộc phải là công dân Việt Nam.

“Luật cho phép các hãng luật Việt Nam được thành lập cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài nhưng làm sao họ có thể bố trí luật sư làm việc ở nước ngoài nếu luật sư của họ bị mất chứng chỉ hành nghề ngay khi vừa rời khỏi đất nước?”.

Nỗi khổ trọng tài

Không chỉ có luật sư, trọng tài thương mại cũng là vấn đề báo động. Hiện cả nước có năm trung tâm trọng tài thương mại với tổng số trọng tài viên là 136 người.

Theo Vụ Bổ trợ tư pháp, số vụ việc giải quyết bằng trọng tài hàng năm còn rất khiêm tốn. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) thuộc loại lớn nhất nhưng mỗi năm cũng chỉ xử lý được 20-25 vụ. Các trung tâm khác khoảng 5-7 vụ, thậm chí có trung tâm không có vụ nào.

Đại diện của Vụ Bổ trợ tư pháp cho rằng sở dĩ các doanh nghiệp chưa mặn mà lắm với trọng tài là vì họ chưa biết nhiều về phương thức giải quyết tranh chấp này, kể cả đối với các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, thi hành án.

Theo Luật sư Lê Công Định, Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM, trong hoàn cảnh đó lẽ ra các trung tâm trọng tài nên có các chương trình xúc tiến, thậm chí tự tiếp thị, và chủ động học hỏi cách làm của trọng tài các nước, thay vì thụ động hoặc chờ sự hỗ trợ bao cấp của Nhà nước như lâu nay.

Nhiều ý kiến cho rằng, những bất cập trong các quy định của luật pháp hiện hành cũng là rào cản đối với hoạt động của trọng tài.

Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong phạm vi “hoạt động thương mại”. Điều này đã làm các trung tâm trọng tài “mất đi” một lượng khách hàng đáng kể trong các lĩnh vực ngoài hoạt động thương mại.

Tiến sĩ Bùi Quang Nhơn, Trưởng Chi nhánh Cần Thơ của VIAC, nêu dẫn chứng chẳng hạn tranh chấp giữa các nhà thầu xây dựng và các ban quản lý dự án là một dạng tranh chấp khá phổ biến hiện nay.

Luật chưa có quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đương sự có yêu cầu trong khoảng thời gian từ lúc thụ lý vụ án cho đến lúc thành lập hội đồng trọng tài.

Theo đại diện Vụ Bổ trợ tư pháp, bên bị kiện thường dựa vào “kẽ hở” này để tranh thủ tẩu tán tài sản, chứng cứ vi phạm. Mặt khác, quy định về căn cứ hủy quyết định trọng tài có phạm vi quá rộng so với thông lệ quốc tế cũng là một nguy cơ rủi ro tiềm ẩn cho các doanh nghiệp khi lựa chọn trọng tài.

Nhưng bức xúc nhất vẫn là vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài. Mặc dù theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định trọng tài có giá trị thi hành như một bản án nhưng Pháp lệnh Thi hành án lại không quy định điều này.

“Cơ quan thi hành án hoàn toàn có thể vin vào Pháp lệnh Thi hành án để không thi hành các quyết định trọng tài. Đây là điều làm cho các doanh nghiệp “ớn” nhất khi họ lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp”, Luật sư Phan Thông Anh, Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam, phát biểu.

Còn Luật sư Nguyễn Văn On, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương mại TPHCM, cho biết thậm chí trong một số vụ ngay cả trung tâm trọng tài của ông cũng từng bị đương sự “quỵt” phí trọng tài, hết mấy chục triệu đồng, nhưng cơ quan thi hành án cũng chẳng làm được gì vì…không có cơ chế!.

Nguồn: KTSG

TRANH TỤNG TRONG THỰC TIỄN: VƯỚNG MẮC TỪ PHÍA NÀO?

HOÀNG THƯ – HƯƠNG GIANG

Báo cáo tại kỳ họp Quốc hội khoá XII vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, nếu tính theo hoạt động của luật sư tham gia bào chữa ở các phiên toà hình sự thì nước ta có tới 80% các vụ án chưa có luật sư tham gia tố tụng. Bộ trưởng Hà Hùng Cường đã nhận định, ngay án văn của Toà án cũng chưa nêu rõ quan điểm, lập luận của luật sư trong khi bào chữa, chưa thực sự có tranh tụng trong nhiều vụ án hình sự hiện nay. Một trong những nguyên nhân quan trọng chính là việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 cũng như Luật Luật sư năm 2006 về việc tham gia tố tụng của luật sư.

———————————————————————————————–

Ở nước ta, tính trung bình cứ 20.500 dân mới có 1 luật sư, trong khi tỷ lệ này ở Singapore là 1000 dân/1 luật sư, ở Thái Lan là 1.700 dân/1 luật sư, ở Nhật Bản là 5.500 dân/1 luật sư. So với các nước phát triển, độ chênh của tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều. Ví dụ, ở Mỹ, cứ 270 dân có 1 luật sư, ở Pháp là 500 dân/1 luật sư. Như vậy, so với chỉ tiêu mà Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp đề ra đến năm 2020 cố gắng nước ta có khoảng 18.000 luật sư thì con số luật sư hiện có còn rất khiêm tốn.

———————————————————————————————–

Thực trạng trên đã gây khó khăn cho cả luật sư lẫn các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này khiến cho mục tiêu mà Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đề ra là tranh trụng tại phiên phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng và kết quả xét xử phải dựa trên kết quả tranh tụng chưa được hiện thực nhanh chóng. Không những thế, theo đánh giá của ngành Tư pháp, việc thực hiện quyền của luật sư trong hoạt động tố tụng chưa được quan tâm đúng mức. Một số người tiến hành tố tụng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư trong quá trình giải quyết vụ án. Thậm chí, vẫn còn trường hợp cơ quan điều tra ở địa phương gây khó khăn, cản trở công việc của luật sư. Chẳng hạn, yêu cầu luật sư xuất trình rất nhiều giấy tờ, gây phiền hà trong việc gặp người bị tam giữ, bị can, bị cáo, trong việc photo, sao tài liệu liên quan đến vụ án…

* Ông Vũ Phi Long – Phó Chánh Hình sự, TAND TP. HCM

PV: Thưa ông, tinh thần của các Nghị quyết của Bộ Chính trị là rất rõ nhưng tranh tụng dân chủ, bình đẳng sao vẫn cứ xa vời?

– Chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề này từ 2 khía cạnh. Về mặt tích cực, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rất rộng lớn về vấn đề tranh trụng tại phiên . Điều đó thể hiện trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trên tinh thần của Nghị quyết 08 và 49 của Bộ Chính trị với định hướng lớn là đảm bảo công bằng, bình đẳng và dân chủ tại phiên , đảm bảo tác nghiệp của luật sư tại phiên . Tiếp đến, BLTTHS cùng các văn bản dưới luật đều đang tìm tòi, hướng dẫn vấn đề này. Và, trong xu thế hội nhập, các dự án, các hiệp định tư pháp song phương, đa phương mà Việt Nam đã ký kết là một điều kiện thuận lợi để nước ta tiếp cận môi trường tranh tụng công bằng, bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số yếu tố cản trở, kìm hãm như năng lực, trình độ của cán bộ tư pháp ở chừng mực nhất định chưa đáp ứng được nhu cầu. Thứ 2, nhận thức chung về pháp luật của người dân, hay có thể nói là mặt bằng dân trí về pháp luật chưa được cao. Thứ 3, chính những văn bản, nghị quyết, chỉ thị, thông tư cũng phải xem lại một số quy định để sửa đổi, bổ sung mới có thể tiến tới việc tranh tụng đúng nghĩa.

PV: Đã có trường hợp chủ phiên vì sức ép nào đó không để việc tranh tụng thực sự được diễn ra. Quan điểm của ông ra sao và ở TAND TP. HCM có xảy ra tình trạng tương tự không?

– Theo tôi, đây chỉ là thiếu sót của vài cá nhân. Quả thật, cũng có một số trường hợp như vậy và tôi cho là bình thường vì trong một tập thể trong quá trình hoạt động không tránh khỏi sự va vấp của một vài người, một vài đơn vị. Những điều này không làm cản trở bước tiến về phía trước của chúng ta trong đảm bảo tranh tụng. TAND TP. HCM đã nghiên cứu rất kỹ về BLTTHS, trong đó bảo đảm các quyền của bị can, bị cáo, quyền của luật sư và những thủ tục tố tụng khác liên quan đến vấn đề tranh tụng được chúng tôi nghiên cứu, mổ xẻ và thảo luận để đưa ra mô hình tố tụng mang tinh thần đó. chúng tôi là đơn vị đầu tiên tổ chức phiên mẫu của cả nước. Do vậy, tiếp thu được nhiều ý kiến về tranh tụng của các đơn vị bạn. Từ đấy, tự có những quy định làm rõ thêm những ưu điểm trong yếu tố tranh tụng của BLTTHS. Ví dụ, luôn yêu cầu luật sư, kiểm sát viên đối đáp tất cả vấn đề tại phiên ; giải thích cho bị cáo biết rõ tường tận quyền của bị cáo, tại cơ quan điều tra cũng như khi hồ sơ chuyển cho VKS truy tố và chuyển cho xét xử, quyền của bị can, bị cáo luôn được nhắc đến. Những người nào không bảo đảm được, không ý thức được đầy đủ thì chúng tôi có nhiệm vụ giải thích cặn kẽ để cho họ hiểu được, họ làm được những quyền đó. Mặt khác là cách tổ chức phiên , chúng tôi luôn dành quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo lên trên hết.

* Bà Pernille Kjaerulff – Thẩm phán Toà án TP. Copenhagen (Đan Mạch)

PV: Thưa Thẩm phán, bà nhận xét gì về những qui định pháp luật và thực tiễn của Việt Nam liên quan đến thủ tục tranh tụng?

Mặc dù Việt Nam bắt đầu thực hiện thủ tục tranh tụng tại toà muộn hơn nhiều nước khác một bước nhưng rõ ràng là các bạn đang đi đúng hướng. Trước khi sang Việt Nam, tôi đã nghiên cứu một số văn bản pháp luật về tố tụng của Việt Nam, trong đó có BLTTHS và phải thừa nhận là các bạn có một bộ luật tố tụng rất tốt, nhấn mạnh đến những thủ tục tranh tụng tại toà. Tuy nhiên, những qui định đó lại chủ yếu tập trung vào việc sử dụng hồ sơ hoặc tài liệu có trước, trong khi vấn đề rắc rối, khó khăn là bị cáo và người bào chữa của họ khó có điều kiện tiếp cận các hồ sơ tố tụng. Tôi cho rằng, đây là vấn đề rất nghiêm trọng mà Việt Nam cần phải khắc phục. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy, một trong những hạn chế đối với thủ tục tranh tụng của Việt Nam chính là mặt thực hành khi nhiều bị cáo ở Việt Nam chưa có điều kiện để có luật sư bào chữa cho mình.

PV: Vậy theo bà, đâu là nguyên nhân của những hạn chế đó?

Tôi cho rằng, nguyên nhân khiến nhiều bị cáo chưa có điều kiện để có luật sư bào chữa có thể là do vẫn còn tồn tại các thủ tục hành chính quan liêu ở Việt Nam và một phần là do đội ngũ luật sư của các bạn chưa đủ khả năng, cũng như số lượng để đảm bảo quyền có luật sư của mỗi người dân. Về thủ tục tranh tụng, tôi thấy do chưa được triển khai lâu ở Việt Nam nên đội ngũ thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên giữ quyền công tố còn phải vật lộn với nhiều khó khăn để tiếp cận với thủ tục tranh tụng này. Ngoài ra, trở ngại đối với yêu cầu đạt được một phiên toà bình đẳng và công bằng của Việt Nam là ở chỗ thẩm phán Việt Nam mới được chỉ định hoặc bổ nhiệm và quyết định của họ lại bị giám sát chặt chẽ.

PV: Việt Nam cần làm gì để đạt được các yêu cầu của thủ tục tranh tụng trong thực tiễn, thưa bà?

Để cải tiến cũng như hoàn thiện thủ tục tranh tụng của mình, Việt Nam có rất nhiều việc phải làm. Chẳng hạn, các thẩm phán Việt Nam cần làm quen với việc yêu cầu đọc to các chứng cứ tại toà để các phương tiện thông tin và công chúng có thể nghe rõ; đảm bảo các quyền lợi của bị cáo như có luật sư bào chữa tốt; nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc xét xử công khai. Theo tôi, không nên đặt ra qui định bãi nhiệm thẩm phán và không nên giám sát họ quá chặt chẽ. Thẩm phán sẽ phải xuất hiện trước công chúng, nếu bị giám sát quá chặt chẽ họ khó có thể làm tất cả những gì cần làm. Đặc biệt tôi nghĩ rằng, chất lượng của thẩm phán Việt Nam phải được nâng cao hơn nữa. Tuy nhiên, tôi tin các bạn sẽ dần đáp ứng được yêu cầu của thủ tục tranh tụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.

* LS. Nguyễn Vĩnh Ban – Văn phòng Luật sư Chương Dương, Hà Nội

PV: Theo LS, yếu tố nào trong qui định pháp luật và thực tiễn đang kìm hãm hiệu quả tiến hành các thủ tục tranh tụng ở nước ta hiện nay?

– Quy định của pháp luật, theo tôi, cũng đã tương đối đầy đủ và không có gì phải bình luận nhiều. Song, thực tiễn có nhiều vấn đề cần đề cập như việc các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan điều tra còn gây ra không ít khó khăn trong quá trình tranh tụng của LS. Điều đó có thể thấy qua việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa, Giấy chứng nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Trong quá trình hành nghề LS, tôi chưa bao giờ được cơ quan tiến hành tố tụng cấp đúng thời hạn theo quy định của BLTTHS hay dân sự. Sự chậm trễ này gây không ít khó khăn cho LS trong việc bảo vệ khách hàng của mình bởi phải có các Giấy chứng nhận trên, LS mới có thể liên hệ làm việc với các cơ quan liên quan để thu thập các bằng chứng bảo vệ cho khách hàng hoặc gặp mặt khách hàng trong trường hợp khách hàng bị tạm giam trong trại giam. Ngoài ra, các cơ quan tiến hành tố tụng hầu như “quên” các quyền của LS như ít khi thông báo cho LS về lịch hỏi cung bị can, bị cáo và lịch xét xử, hay không tự giác tuân thủ các qui định về gửi các Kết luận điều tra, Cáo trạng cho LS. Cơ quan điều tra còn thường áp dụng các quy định của ngành công an, kể cả khi văn bản của ngành trái với BLTTHS. Tôi dẫn ra những ví dụ trên để thấy rằng “thực thi đúng pháp luật còn quan trọng hơn là ban hành nhiều bộ luật mà không được thực thi đúng tinh thần của nó”.

PV: Vậy theo ông, cần làm gì để khắc phục những khó khăn cho hoạt động của các LS trong tranh tụng?

– Tôi cho rằng, bên cạnh việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các bên trong quá trình tranh tụng, bản thân đội ngũ LS cũng cần nâng cao kỹ năng hành nghề, như chuyên môn nghề nghiệp, văn hoá ứng xử tại TA. Đó là các điều kiện cần thiết để có thể tạo ra sự thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa TA và LS, LS tôn trọng TA, ngược lại TA sẽ tôn trọng LS. Ngoài ra, phải có những chế tài cụ thể và đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động của LS vì các quy định của pháp luật hiện hành còn rất chung chung. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng, sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông rất cần thiết vì qua các thông tin truyền thông, cơ quan nhà nước, tổ chức và người dân có thể hiểu rõ hơn về hoạt động thực tiễn của LS cũng như những qui định pháp luật liên quan đến hoạt động của LS. Nhờ đó, sẽ góp phần hạn chế những khó khăn cho LS khi tác nghiệp.

PV: Xin cảm ơn các ông bà!

SOURCE: MOJ.GOV.VN