THUÊ LUẬT SƯ TƯ VẤN: ĐỪNG ĐỂ NƯỚC ĐẾN CHÂN MỚI NHẢY*

NGUYỄN THỊ BẢO QUỲNH – Chủ tịch – Công ty Giải pháp thông minh INTEL SOLUTION

Theo thống kê cuối năm 2008 thì các công ty tư vấn luật đứng đầu danh sách các doanh nghiệp trả thưởng cho nhân viên cao nhất. Từ giữa năm 2008 đến nay, trong khi phần lớn các doanh nghiệp hoạt động cầm chừng thì các văn phòng luật sư lại rất bận rộn.

Thông thường vào thời điểm kinh tế nhạy cảm (dù là lạm phát cao hay suy thoái), các doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, vì thế tình trạng tranh chấp có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp càng gia tăng. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng luật sư còn quá ít không thể đáp ứng nhu cầu (cả nước chỉ có khoảng 5.000 luật sư cho hơn 80 triệu dân và hơn 500.000 doanh nghiệp!).

Do đó, các luật sư hiện nay chủ yếu tham gia tư vấn cho doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh nhiều hơn là tham gia tư vấn xây dựng quy trình hoạt động tránh rủi ro cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường ít quan tâm đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật để áp dụng vào hoạt động thực tiễn, giảm thiểu rủi ro.

Tại Mỹ thì hầu như 100% doanh nghiệp đều có thuê luật sư tư vấn, và không ít các công ty có phòng pháp chế thuộc doanh nghiệp. Tại Việt Nam, qua khảo sát ngẫu nhiên 200 doanh nghiệp từ Bắc chí Nam hoạt động trong các lĩnh vực điển hình, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nắm cổ phần chi phối và các tổng công ty nhà nước có thành lập phòng pháp chế.

Với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần… có 7,5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía bắc, 5% các doanh nghiệp được hỏi ở phía nam là có ký hợp đồng tư vấn luật thường xuyên với văn phòng luật sư, theo đó luật sư tham gia soạn thảo các quy định và các mẫu hợp đồng cho công ty.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

LS. HOÀNG CAO SANG

Cũng như hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định phải có luật sư tham gia bào chữa cho họ. Nghĩa là trong trường hợp này, nếu người bị truy tố không có chi phí để mời luật sư bào chữa, thì toà án có nghĩa vụ gửi danh sách cho đoàn luật sư, đoàn luật sư  thông báo về cho các tổ chức hành nghề luật sư và các tổ chức này chỉ định luật sư bào chữa cho họ, và luật sư được chỉ định có nghĩa vụ tham gia bào chữa cho họ như một thân chủ có thù lao, không phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp gần đến ngày xét xử, thư ký phiên toà mới điện thoại cho luật sư quen nhờ bào chữa cho bị cáo. Vì nể nang và xem thường tính mạng bị cáo, nên nhiều luật sư cũng đã nhận lời.

Thông thường những trong trường hợp này luật sư chỉ cần biết ngày, giờ và địa điểm xét xử. Không cần nghiên cứu hồ sơ và cũng chẳng cần gặp gỡ bị cáo để trao đổi xem bị cáo cần luật sư giúp đỡ về vấn đề gì, có oan sai hay không… Đến giờ xử, luật sư chỉ cần mượn thư ký bản cáo trạng và nếu là phiên toà phúc thẩm thì mượn thêm bản án sơ thẩm để tranh thủ đọc ngay khi toà đang xét xử. Vì không nghiên cứu hồ sơ, không gặp bị cáo trước khi xét xử, nên đến khi ra toà bào chữa việc luật sư không nhớ tên bị cáo của mình bào chữa là chuyện bình thường, có khi lẫn tên bị cáo với tên người bị hại, hoặc không biết cả mặt bị cáo mình bào chữa là ai.

Thay vì bào chữa, luật sư buộc tội thân chủ của mình

Một sinh viên luật năm cuối thực tập tại văn phòng tôi với nụ cười nửa đau xót, nửa khinh bỉ kể với tôi rằng, vì rất ham muốn trở thành luật sư nên cậu ta thường đi dự  phiên toà để học hỏi kinh nghiệm. Có lần, ở toà án Tối cao tại TP.HCM xét xử các bị cáo về tội giết người, cậu ta thấy chủ toạ phiên toà đã tuyên bố khai mạc phiên toà, lúc này một luật sư mới vội vã chạy vào phòng xử trên tay cầm xấp tài liệu rối cắm cúi ngồi đọc. Xem kỹ đó là hai bản án sơ thẩm. Vì là không nghiên cứu hồ sơ trước nên đến phần bào chữa của mình, vị luật sư này đứng lên nói vỏn vẹn có một câu ngắn gọn “tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm buộc tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cáo”!

Continue reading

CHÚ TRỌNG NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP

PHAN HỒNG MẪN

Tranh tụng tại phiên tòa là việc Hội đồng xét xử chủ trì để các bên tranh tụng, trong đó chủ yếu Người bào chữa tranh tụng với công tố viên. Trên thực tế, qua các phiên tòa xét xử và qua giám sát của Ban pháp chế HĐND tỉnh Gia Lai cho thấy, lực lượng Người bào chữa còn thiếu và yếu, nhưng chưa được đào tạo, đầu tư đúng mức.

Người bào chữa chưa được quan tâm đúng mức

Theo quy định tại Chương 4, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Người bào chữa có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt. Người bào chữa có thể là Luật sư, Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân… Luật Trợ giúp pháp lý cũng quy định Trợ giúp viên pháp lý được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa… Khoản 3 Điều 57 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: UBMTTQVN, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình. Bộ Luật Tố tụng hình sự còn quy định Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.Tuy nhiên trên thực tế, trong một thời gian dài chúng ta chưa chú trọng đến việc xây dựng lực lượng Người bào chữa. Các tỉnh miền núi, trong đó có Gia Lai chưa thật sự quan tâm và cũng rất khó khăn trong việc xây dựng 3 lực lượng: Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, Bào chữa viên nhân dân. Trong khi đó, theo lộ trình đã đề ra, từ ngày 1.7.2009 tất cả các Toà án cấp huyện được tăng thẩm quyền xét xử- Như vậy sẽ không đủ nhân lực để thực hiện nhiệm vụ.

Continue reading

NGHỆ THUẬT THƯƠNG THUYẾT: LUẬT SƯ, BẠN HAY ĐỐI PHƯƠNG?

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG

Thương thuyết giống như một cuộc chơi: cuộc chơi nào cũng có luật của nó, cũng có thắng thua, có phe bạn và có đối phương. Thế nhưng, bạn đừng bao giờ quên còn có một phe thứ ba cũng rất quan trọng vì họ nắm trong tay kết quả cuối cùng của cuộc chơi.

Khi vào một cuộc chơi quốc tế, trong đó có đủ loại người, đủ loại quốc tịch, chúng ta lại có dịp làm quen với nhiều phe mới!

Thứ nhất là phe thông dịch. Bạn có biết thông dịch viên đôi bên có thể quyết định phần thắng thua, vì họ nói thứ tiếng mà bạn không rành. Nếu họ dịch sai, là bạn “lúa” đời!

Thứ hai là ngân hàng. Phe này cũng nắm cờ trong tay bạn ạ. Không ngân hàng là không tiền, mà không tiền thì khó làm được nhiều việc. (Sẽ đào sâu vai trò quan trọng của các ngân hàng trong một bài viết khác).

Chưa hết, ngồi vào bàn thương thuyết bên phe đối phương còn có các nhà tư vấn, các quân sư “quạt mo”. Tôi biết có đoàn chỉ đi thương thuyết khi có thầy tướng số đi kè kè. Chuyện tưởng như đùa nhưng mà có thật, vào những lúc gay cấn, cứ trước khi phát biểu phía bên kia lại gieo quẻ dịch, thương thuyết kiểu này khá chán ngán.

Trong số những người đảm nhận vai trò tư vấn trong đoàn đàm phán có một vị đặc biệt, đó là luật sư, người có bổn phận soi sáng cho các thành viên về luật trong nước, ngoài nước. Mỗi nước có hệ thống luật khác nhau, có tục lệ riêng, có cách xét xử đặc biệt. Luật sư là người mách cho chúng ta hành lang luật pháp ra sao.

Continue reading

ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN: TỪ PHÁP LUẬT NỘI DUNG ĐẾN TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN MINH HẰNG

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về chế định người đại diện của đương sự, đặc biệt liên quan đến các quy định về người đại diện theo ủy quyền. Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền, những vướng mắc nảy sinh từ việc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này trong thực tiễn thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự. Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Tương tự như trong pháp luật nội dung (Xem hộp 1), pháp luật tố tụng dân sự (từ Điều 73 đến Điều 78 BLTTDS) phân chia người đại diện ra làm 2 loại là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Hộp 1: Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản” (Điều 151). Người đại diện theo ủy quyền là “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có thể ủy quyền cho người khác phù hợp với quy định của Bộ luật này nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” (Điều 152). Điều 150 khoản 2 làm rõ hơn khái niệm hạn chế đối với người đại diện theo ủy quyền “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền”. Như vậy, khi hai bên (bên ủy quyền và bên được ủy quyền) thiết lập một quan hệ ủy quyền đồng thời thiết lập một quan hệ hợp đồng với tính chất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải trả thù lao nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, quan hệ ủy quyền luôn tồn tại 2 quan hệ:

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ĐỔI MỚI TỐ TỤNG THEO HƯỚNG TRANH TỤNG

NGUYỄN QUỐC VIỆT

Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan, không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đã được nghị quyết của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật…”.

Đổi mới tố tụng hình sự, làm cho tố tụng thật sự dân chủ, bảo đảm khách quan, không làm oan người vô tội là một trong những nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đã được nghị quyết của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật…”.

Với những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, có thể nhận định: tố tụng hình sự của Nhà nước ta hiện nay – xét theo mô hình của tố tụng hình sự trên thế giới – là thuộc hệ thống tố tụng kiểu thẩm vấn. Nếu muốn đổi mới theo hướng tranh tụng thì chúng ta cần xem xét những vấn đề thuộc về quan điểm sau đây:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRIỆU TẬP ĐƯƠNG SỰ

VĂN LUẬN – TAND Quận Tân Phú, TPHCM

Đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thì thời gian ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đương sự, ví dụ: hai công ty tranh chấp về chất lượng của hàng hóa nên bên mua không đồng ý nhận hàng, vì vậy không cho bên bán nhập hàng vào kho của mình, buộc nên bán phải thuê kho để gửi hàng. Đối với số lượng hàng hóa lớn thì số tiền lưu kho là rất lớn và tăng lên từng ngày. Ngòai ra đối với một số hàng hóa thì nếu để lâu ngày có thể gây hư hỏng hoặc không sử dụng được.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nên tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sư 2005 qui định “Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại khỏan 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 có quy định “ Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khỏan 1 Điều này”. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa của các tranh chấp quy định tại Điều 29 và Điều 31 Bộ luật này là 03 tháng.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 154 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 qui định “Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Continue reading

LUẬT SƯ – TỪ THỰC TẾ NHÌN LẠI

ÁI CHÂN – HOÀI NAM

1. Lượng: thiếu, chất: mỏng

Nghề luật sư (LS) là một hoạt động bổ trợ tư pháp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền và trong xã hội nói chung. Giữ vị trí tối cần thiết như vậy, nhưng cả nước hiện chỉ có 5.334 LS và 2.000 người tập sự hành nghề LS trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến pháp luật từ dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính, đến thương mại, đầu tư, kinh doanh. Tính ra, tỷ lệ LS trên số dân ở Việt Nam là 1/20.700. Tỷ lệ này quá thấp so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, chẳng hạn ở Singapore là 1/1.000, ở Mỹ là 1/250… Bên cạnh đó, chất lượng của đội ngũ LS cũng còn không ít điểm hạn chế.

Thiếu hụt đầu vào lẫn đầu ra

Khá nhiều người trong xã hội hiện nay có quan niệm: muốn làm LS phải đi học luật, và đã học luật chắc chắn sẽ là LS. Vế đầu của quan niệm này đúng, bởi tất cả LS đều phải có bằng cử nhân luật, cũng như muốn là bác sĩ thì phải qua 6 năm đào tạo trong trường đại học y. Còn vế thứ hai thì sai. Theo PGS, TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TPHCM, một sinh viên vừa tốt nghiệp trường luật đòi hỏi trở thành LS ngay là điều không thể. Một thực tế là trong thời gian 4 năm học ở trường đại học luật, sinh viên không được học môn học nào về kỹ năng và đạo đức hành nghề của nghề LS. “LS là một nghề và được pháp luật điều chỉnh việc hành nghề của họ. Ở trường chúng tôi không đào tạo LS mà chỉ đào tạo cử nhân luật” – PGS, TS Mai Hồng Quỳ nhấn mạnh.

Qua tìm hiểu, mỗi năm Trường Đại học Luật TPHCM cho “ra lò” khoảng 2.000 cử nhân luật, trong đó phân nửa thuộc hệ tại chức. Ở phía Bắc, Trường Đại học Luật Hà Nội bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau cũng chỉ cho tốt nghiệp hơn 2.000 cử nhân luật/năm. Số lượng sinh viên khoa luật của gần chục trường đại học khác trong cả nước mỗi năm tốt nghiệp khoảng 6.000 người. Và chỉ 10% trong số này đi theo nghề LS. Nghĩa là mỗi năm, đầu vào để đào tạo nghề LS chỉ khoảng 1.000 người. Trong khi đó, theo Đề án phát triển đội ngũ LS phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đến năm 2015 cả nước cần đến 20.000 LS, và ít nhất 10% số LS này là LS chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Continue reading

ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

PGS.TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – Bộ trưởng Bộ Tư pháp

Cùng với sự phát triển của xã hội và pháp luật, nghề luật sư cũng ngày càng phát triển. Bên cạnh tư cách đại diện theo ủy quyền của khách hàng, luật sư còn tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Hoạt động của luật sư có tính phản biện xã hội, bảo đảm tính khách quan của vụ việc, giúp tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.

1 – Có thể nói, tất cả các nước trên thế giới đều có sự quan tâm đặc biệt đến sự hình thành và phát triển của nghề luật sư. Tuy nhiên, ở mỗi nước, nghề luật sư được tổ chức theo các mô hình khác nhau. Sự đa dạng này xuất phát từ đặc thù lịch sử, văn hóa, hệ thống pháp luật và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Mặc dù vậy, các nước đều ghi nhận nghề luật sư là một nghề quan trọng trong xã hội, trước hết là công cụ hữu hiệu góp phần bảo đảm công lý, bảo vệ các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đồng thời có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế thông qua hoạt động tư vấn pháp luật ngày càng được đề cao.

Continue reading

NGHỀ LUẬT SƯ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ THỜI KỲ HỘI NHẬP: ĐỂ VƯƠN XA CẦN MỘT ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC

HUY ANH – QUỲNH LƯU

Nghề LS là một hoạt động bổ trợ tư pháp, có vị trí quan trọng đặc biệt trong Nhà nước pháp quyền, đặc biệt trong điều kiện thực hiện cải cách tư pháp, đổi mới và hội nhập quốc tế như ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở những quy định ngày càng thông thoáng hơn của pháp luật về LS cộng với sự nỗ lực, giới LS Việt Nam đã có nhiều điều kiện “vẫy vùng” để cung cấp các dịch vụ pháp lý hết sức đa dạng, đáp ứng yêu cầu xã hội.

LS tham gia tố tụng  – tăng tính khách quan

Tham gia tố tụng là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các LS hiện nay. Trong thời gian qua, các LS đã tham gia vào việc giải quyết hàng trăm nghìn vụ án. Nhờ thế, vai trò của LS trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất. Đặc biệt sau khi có Nghị Quyết số 08/NQ-TW (ngày 02/01/2002) của Bộ chính trị, vai trò của LS trong quá trình tham gia tố tụng đã được nâng lên một bước. Hoạt động tham gia tố tụng của LS đã góp phần quan trọng thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, một trong những yêu cầu trọng tâm của cải cách tư pháp, góp phần cải thiện một bước chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng thêm tính dân chủ, công bằng, khách quan của các phiên toà.

Có thể nói, những năm qua, đặc biệt từ giai đoạn chúng ta thực hiện công cuộc cải cách tư pháp thì đội ngũ LS Việt Nam đã làm rất tốt “sứ mệnh” người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân, bảo vệ công lý của mình. Các LS không chỉ bảo vệ được quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho thân chủ mà còn giúp các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án một cách minh bạch, khách quan; góp phần bảo vệ pháp chế.

Cũng vì thế, khi tham gia tranh tụng ý kiến của các LS ngày càng được các cơ quan tố tụng lưu tâm và tôn trọng, vị thế của LS trong các phiên toà ngày càng được nâng cao, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho LS tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được thì hoạt động tham gia tố tụng của LS còn những hạn chế, cần phải phấn đấu khắc phục.Mặc dù công cuộc cải cách tư pháp đang được tiến hành khẩn trương, nhưng ước tính hàng năm có tới 90% số vụ án do TAND các cấp giải quyết không có LS tham gia. Nguyên nhân có thể là phần lớn hoạt động tranh tụng của các LS Việt Nam mới chỉ “bó hẹp” trong các phiên toà hình sự và một số vụ án dân sự, hôn nhân gia đình; rất ít LS tham gia các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài cũng như các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại mà cá nhân, tổ chức là người nước ngoài…

Continue reading

ĐỘI NGŨ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM: PHÁT TRIỂN CHO TƯƠNG LAI

HƯƠNG GIANG

Nghề Luật sư (LS) ở Việt Nam đã trải qua hơn 64 năm phát triển. Nhưng phải đến thời kỳ đổi mới và hội nhập, nghề LS nói chung và đội ngũ LS nói riêng ở nước ta mới có những bước chuyển mình đầy triển vọng.

Số lượng tăng nhanh …

Cùng với sự phát triển của đất nước sau hơn 20 năm đổi mới, đội ngũ LS đã phát triển nhanh Hchóng về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao. Trong gần 7 năm (2001-2008), số lượng LS đã tăng 250% so với trước khi Pháp lệnh LS 2001 có hiệu lực. Để làm được điều này thực sự không dễ dàng khi nhận thức của xã hội về nghề LS chưa tương xứng với tốc độ phát triển. Đó thực sự là kết quả từ những nỗ lực không ngừng của bản thân giới LS trong quá trình hoàn thiện kỹ năng, nghiệp vụ và xây dựng vị trí trên cơ sở uy tín, đạo đức nghề nghiệp.

Tuy nhiên, so với nhu cầu về dịch vụ pháp lý hiện nay và xu thế gia tăng nhanh của nhu cầu này trong những năm tới, thì số lượng LS ở nước ta còn chưa tương xứng. Nếu so sánh số lượng LS trên số dân với một số nước trong khu vực và trên thế giới thì thấy rõ tỉ lệ này ở nước ta còn quá thấp (tỷ lệ số LS trên dân số ở Việt Nam là 1/20.700, ở Singapore là 1/1.000, ở Mỹ là 1/250 v.v…). Thậm chí tỉnh Lai Châu chưa có đủ LS để thành lập Đoàn LS. Mặt khác, số lượng LS ở nước ta phát triển quá chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, trung du, hạn chế khả năng cung ứng dịch vụ pháp lý đáp ứng nhu cầu của nhân dân, ngay cả trong việc thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáo mà luật định phải có sự tham gia của LS.

Với chất lượng ấn tượng

Từ xuất phát điểm đầy khó khăn, chất lượng đội ngũ LS ở nước ta vẫn không ngừng thay đổi diện mạo qua các giai đoạn phát triển. Số LS có trình độ tương đương đại học luật giảm đến nay chỉ còn 128 người (tương đương 3,05% tổng số LS). Ngày càng nhiều LS được đào tạo nghề tại Học viện Tư pháp – cơ sở duy nhất hiện nay được đào tạo nghề LS ở nước ta. Thời gian qua, hầu hết những LS trẻ được kết nạp vào các đoàn LS đều là những cử nhân luật và đã học qua lớp đào tạo nghề LS 6 tháng về lý thuyết và 18 tháng thực hành kỹ năng hành nghề, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp LS tại các tổ chức hành nghề LS.

Có nhiều người đã theo học các khoá đào tạo nghề LS ở nước ngoài, tập sự hành nghề trong các tổ chức hành nghề LS nước ngoài tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Đã có những LS đủ trình độ tham gia, thực hiện những dịch vụ pháp lý lớn và phức tạp, đặc biệt đã có khoảng 10 tổ chức hành nghề LS chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, và cũng đã có 1,2% số LS có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo trong hoạt động chuyên môn, tham gia thương lượng, đàm phán, tranh tụng.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VIỆC GIỚI THIỆU BẦU VÀ ĐỀ NGHỊ MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN NƠI KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;
Căn cứ Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 Ủy ban Thường vụ Quốc hội về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Sau khi thống nhất với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giới thiệu bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân đối với những Tòa án nhân dân huyện, quận, mà ở đó không tổ chức Hội đồng nhân dân như sau:

I. VỀ CƠ CẤU, SỐ LƯỢNG, TIÊU CHUẨN HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ HỒ SƠ NHÂN SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN

Về cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn Hội thẩm Tòa án nhân dân và hồ sơ nhân sự của người được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2004/TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 1 tháng 3 năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân.

II. VỀ VIỆC CHUẨN BỊ NHÂN SỰ VÀ GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM

Việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước một: Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, căn cứ vào nhu cầu xét xử của đơn vị mình thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận về cơ cấu, thành phần, số lượng nhân sự dự kiến đưa ra bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận.

Bước hai: Căn cứ kết quả thống nhất ở bước một, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận chủ trì và phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, xem xét lại đội ngũ Hội thẩm Tòa án nhân dân đương nhiệm những trường hợp vẫn đảm bảo tiêu chuẩn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đủ điều kiện thì đưa vào danh sách giới thiệu bầu. Nếu còn thiếu thành phần nào thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận hiệp thương với các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự kiến giới thiệu người bầu làm Hội thẩm Tòa án nhân dân.

Bước ba: Sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận lập danh sách và hồ sơ nhân sự được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận để báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Continue reading

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG VÀ HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ THẨM VẤN

THS. LẠI THỊ THU HÀ – Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC

Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn là hai mô hình tố tụng hình sự rất phố biến trên thế giới. Điển hình của mô hình tố tụng tranh tụng là các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn là các nước theo mô hình luật lục địa, tiêu biểu là Cộng hòa Pháp.

Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản, thậm chí trái ngược nhau, cả hai hệ thống đều có một đặc điểm chung là nhà nước độc quyền trong việc xác định có hay không có một vụ việc phạm tội và quyết định hình phạt với một mục đích cơ bản và chủ yếu là ngăn ngừa việc trả thù cá nhân. Đồng thời, hai hệ thống cũng đều phải đổi mặt với những khó khăn tương tự. Thứ nhất là số lượng các vụ án về hình sự ngày càng tăng, đặc biệt là ở các vùng đô thị và tội phạm cổ cồn trắng, những giới hạn về nguồn lực đối với tòa án, cơ quan công tố và các nhà chức trách thực thi pháp luật về vấn đề tài chính, ngân sách. Điều đó dẫn đến kết quả chung: thứ nhất là khuynh hướng tùy nghi quyết định không truy tố; thứ hai là việc chậm trễ một cách đáng kể trong xét xử hình sự, dẫn đến sự mất công bằng đối với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Cả hai hệ thống có sự cố gắng chung để tìm giải pháp cho vấn đề chậm trễ như tăng cường việc áp dụng phiên tòa rút gọn nhiều hơn và cố gắng tìm kiếm sự cân bằng giữa "tùy nghi" và "tính hợp pháp". Và điều này đã dẫn đến một xu hướng về mô hình thứ ba – mô hình pha trộn tức là kết hợp giữa các yếu tố hợp lý của mô hình tranh tụng và mô hình thẩm vấn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích những nét khác biệt cơ bản giữa hai hệ thống nhằm làm rõ những mặt tích cực và hạn chế của từng hệ thống tố tụng hình sự. 

          Thứ nhất, về vấn đề về chứng cứ

Mặc dù hệ thống tranh tụng có những điều tương phản với hệ thống tố tụng thẩm vấn, trong thực tế, pháp luật của hệ thống tố tụng thẩm vấn cũng ghi nhận quyền của người bị buộc tội chống lại việc buộc tội và chứng minh sự vô tội của mình. Trong hệ thống tranh tụng, các bên tố tụng hành động độc lập và chịu trách nhiệm đưa ra các chứng cứ trước thẩm phán, người có vai trò trung lập và bị động cùng với bồi thẩm đoàn. Còn trong hệ thống tố tụng thẩm vấn, trách nhiệm cuối cùng về việc tìm ra sự thật thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tư pháp, có trách nhiệm thu thập cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho người bị buộc tội. Trong hệ thống tố tụng tranh tụng, cả bên buộc tội và bên gỡ tội có vai trò bình đẳng và được coi là hai bên đối lập. Còn trong hệ thống thẩm vấn, người bị buộc tội không được coi là một bên tố tụng của vụ án.

Continue reading

LUẬN LÝ CỦA LUẬT SƯ

LS. PHAN TRUNG HOÀI

Suốt cả buổi chiều tối ngày thứ Năm (26.3.2009), tôi liên tục nhận được những cú điện thoại gọi vào từ Mũi Né (Phan Thiết). Họ là những người nông dân miệt biển đầy nắng gió của dải đất miền Trung vừa từ Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận trở về với đời thường sau quyết định trả tự do của Hội đồng xét xử Toà án Nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Trong giọng nói của họ, và cả những người vợ từng khóc hết nước mắt khi chồng bị bắt, vẫn còn thảng thốt, vì dường như họ vẫn chưa tin được đó là sự thật. Những ngày tháng trong tù cho họ thấy một thế giới khác và lúc này, họ hiểu hơn ai hết ranh giới của tù tội và giá trị của tự do.

Khi phiên toà đã diễn ra được hơn ba ngày, ngay cả khi đã trình bày quan điểm bào chữa trước toà, đêm về tôi vẫn thao thức, không sao ngủ được. Nhận trách nhiệm bào chữa cho 4 người nông dân bị quy buộc tội “lừa đảo”, tôi mang theo cả gánh nặng trách nhiệm trước những người vợ và con cái họ Suốt những ngày diễn ra phiên toà, trong mỗi bữa trưa và tối về tôi không nuốt nổi hạt cơm khi nhìn thấy những khuôn mặt buồn bã, những lo lắng khôn nguôi vì người thân của họ đang ở trong tình trạng suy sụp vì sức khoẻ.

Có những khi, tôi không đủ tự tin để nói lại với thân nhân gia đình họ, bởi đằng sau những tiếng vỗ tay của người dân khi nghe luật sư tranh tụng tại phiên toà không đủ át đi một sự thật các bị cáo đang đối diện với bản án tù giam theo đề nghị của công tố viên. Còn có một sự lo lắng không nói lên thành lời, chính là tình trạng “thỉnh thị án”, “án bỏ túi” mà dư luận râm ran bấy lâu nay. Hơn hai mươi năm va đập trong các vụ án hình sự, tôi thấu hiểu thứ vũ khí duy nhất làm nên sức mạnh của một luật sư đó chính là luận lý chưa chắc đã được hiển hiện nhiều trong thực tế.

Bây giờ ngẫm nghĩ lại, thấy đôi khi mình cũng cố chấp, hay bi kịch hoá đời sống tố tụng. Những người cầm cán cân công lý đã có một quyết định dũng cảm khi “xử nghiêm với quan, khoan hồng với dân”, bởi suy cho cùng, cả một thiết chế nhà nước trong một phạm vi địa phương là chính quyền tỉnh Bình Thuận không thể là “người bị lừa” được!

Continue reading

LUẬT SƯ VIỆT NAM: “MẤT KHÁCH” NGAY TRÊN SÂN NHÀ

TRẦN HIẾU

Tính đến 31.12.2008, cả nước có 1.479 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 1.284 văn phòng luật sư, 80 công ty luật hợp danh và 115 công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Riêng ở Hà Nội có 370 tổ chức hành nghề luật sư và TP HCM có 690 tổ chức. Có thể thấy thời gian qua các tổ chức hành nghề luật sư phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây lại là sự vắng bóng của các tổ chức và luật sư “nội” trong các vụ giải quyết tranh chấp thương mại.

Nhiều mà vẫn thiếu

Theo Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư Tư vấn Độc Lập, Trọng tài viên PIAC, Việt Nam gia nhập WTO đã tạo một sân chơi lớn mang tính toàn cầu cho các doanh nghiệp trong nước. Nhưng do còn lạ lẫm với luật lệ mới bên cạnh cơ hội luôn tiềm ẩn nguy cơ và rủi ro.

Thực tế Việt Nam hội nhập WTO trong những năm qua cũng cho thấy, xu hướng phát sinh tranh chấp quốc tế ở Việt Nam rất đa dạng: tranh chấp liên quan đến các doanh nghiệp của Việt Nam có hoạt động ở nước ngoài như vụ kiện của Vietnam Airlines tại toà án Ý; Việc ông Bửu Huy, Phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Hải Sản An Giang bị bắt tại Bỉ; Tàu Cần Giờ của Công ty vận tải biển Sài Gòn bị bắt giữ tại Tanzania; Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản bị kiện chống bán phá giá tôm, cá… là những ví dụ cụ thể. Còn các tranh chấp đầu tư quốc tế thì có: vụ kiện của Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình theo Hiệp định bảo hộ đầu tư ký giữa Hà Lan và Việt Nam. Việc xử lý vụ ô nhiễm môi trường gần đây có liên quan đến công ty Vedan, vụ PCI… Và trong tương lai sẽ không tránh khỏi việc phát sinh tranh chấp liên quan đến các cơ quan hành chính, nhà nước của Việt Nam mà theo đó Chính phủ Việt Nam có thể sẽ phải giữ vai trò bất đắc dĩ như là một bên tranh chấp trước các tổ chức tài phán quốc tế theo các cam kết quốc tế.

Một thực tế đáng qua tâm ở đây là để cáng đáng những vụ việc như trên, trong số gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư của cả nước hiện nay thì chỉ có khoảng 10 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài…

Doanh nghiệp nội thuê luật sư ngoại

Theo kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp trong năm 2008 thì 30% doanh nghiệp được hỏi đánh giá tốt về chất lượng dịch vụ của luật sư, 66,3% doanh nghiệp đánh giá trung bình và 3,7% doanh nghiệp đánh giá kém.

Những con số này phần nào thể hiện sự đánh giá tích cực của xã hội đối với những nỗ lực của các luật sư trong việc không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, chất lượng luật sư thì còn nhiều điều phải bàn. Đơn cử như trình độ ngoại ngữ. Theo thống kê, chỉ 1,2% trong tổng số gần 4.000 luật sư đang hành nghề có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh trong thương lượng, đàm phán và tranh tụng trực tiếp bằng tiếng Anh. Chính vì thế, trong nhiều vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, luật sư Việt Nam tham gia bị thua thiệt là điều khó tránh khỏi. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ doanh nghiệp đã từng thuê luật sư hỗ trợ trong các hoạt động kinh doanh thương mại chỉ là 47,27% . Và mức độ thuê cũng rất thấp: năm 2007, chỉ có 5% số doanh nghiệp thuê luật sư trên 7 lần và có tới 37,65% không thuê luật sư. 34,95% nhu cầu của doanh nghiệp khi thuê luật sư chủ yếu vẫn là tư vấn về các vấn đề pháp luật, 25,86% thuê để giải quyết tranh chấp, 13,13% thuê để thương lượng, đàm phán, ký kết hợp đồng.

Continue reading

THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 76/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP

HOÀNG QUỐC HÙNG – Thanh tra Bộ tư pháp

Thực hiện Quyết định số 140/QĐ-TTR ngày 20/6/2008 của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp về việc thành lập Đoàn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh tra do Thanh tra Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp cùng với Vụ Bộ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành làm việc tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, Văn phòng Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh và 140 tổ chức hành nghề luật sư và chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, cụ thể:

– Tại thành phố Hà Nội, Đoàn đã thanh tra tổng số 66 tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 35 văn phòng luật sư, 01 chi nhánh văn phòng luật sư, 12 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 06 trung tâm tư vấn pháp luật;

– Tại thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn đã thanh tra tổng số 74 các tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 45 văn phòng luật sư, 4 chi nhánh văn phòng luật sư, 18 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 02 trung tâm tư vấn pháp luật.

Đoàn Thanh tra xin báo cáo Bộ trưởng khái quát về tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số vấn đề nổi cộm, vướng mắc từ kết quả thanh tra như sau:

I. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Đối với Sở Tư pháp thành phố Hà Nội

1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội

– Theo báo cáo của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, tính đến thời điểm thanh tra số lượng các tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam: 312 tổ chức (249 văn phòng luật sư và 63 công ty) và 18 chi nhánh các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài: 22 tổ chức;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề tư vấn pháp luật: 11 Trung tâm.

+ Số lượng tổ chức hành nghề luật sư bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động:  05 (đều là tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và lý do bị thu hồi là: 02 trường hợp do luật sư – trưởng văn phòng bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư; 03 trường do luật sư – trưởng văn phòng là công chức nhà nước, thôi không làm luật sư.

Continue reading

KỶ LỤC CỦA MỘT LUẬT SƯ GỐC VIỆT

TUYẾT LINHimage

THANHNIEN – Trong số hàng trăm luật sư người gốc Việt tại Mỹ, luật sư trẻ Luân Phan được xem là một trong những người thành công nhất.

Mới đây Luân Phan đã được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Luật sư người Mỹ gốc Việt khu vực Nam California. Trong các năm 2004, 2005 và 2006, anh được bầu là "Ngôi sao đang lên" (Rising Star) của Nam California. Mới đây, Tạp chí Law and  Politics and Los Angeles bầu chọn anh là "Siêu luật sư" (Super Lawyer) năm 2008. Vì đâu anh được tín nhiệm cao như vậy? Đó là tính cách làm việc hết mình đem lại thắng lợi cho thân chủ trong các vụ kiện và đặc biệt, một vụ kiện hồi năm ngoái mà luật sư Luân giúp thân chủ được bồi hoàn khoản tiền 96,4 triệu USD đã trở thành kỳ tích trong giới luật sư ở Los Angeles và làm điển hình để trường luật Loyola – nơi Luân tốt nghiệp – lôi cuốn sinh viên. Câu chuyện được kể lại dưới đây được xem như vụ kiện thắng nhiều tiền nhất cho một nguyên đơn trong lịch sử xử án của tiểu bang California.

Khi bác sĩ và bệnh viện phớt lờ 

Vụ kiện liên quan đến một bé sơ sinh tên là Aidan, đã bị hư não bộ vĩnh viễn mà trách nhiệm thuộc về Bệnh viện Verdugo Hills (VHH) và bác sĩ trị liệu chính Nishibayashi. Aidan chào đời tháng 3.2003, là một đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy nhiên, cháu có nguy cơ đối diện với việc phát triển một chứng bệnh gọi là kernicterus (bệnh vàng nhân não) – một chứng bệnh chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh trong vòng từ ngày thứ hai đến ngày thứ tám khi mới chào đời, mà nếu không ngăn chặn thì sẽ làm hư não bộ. Điều đáng nói là trước khi Aidan chào đời 2 năm, tức là từ năm 2001, các cơ quan y tế chính yếu ở Mỹ, kể cả Học viện Nhi khoa (AAP) và Trung tâm Ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật đều đã báo động trên cả nước về nguy cơ bệnh kernicterus tăng cao ở trẻ sơ sinh. Kèm theo lời cảnh báo là hướng dẫn ngăn ngừa bệnh mà AAP đã phổ biến từ năm 1994. Tất cả các bệnh viện đều phải bảo đảm tiến hành các chính sách và biện pháp thích hợp trong việc chẩn đoán, trị liệu để không một trẻ sơ sinh nào mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo đó.

Continue reading

THANH TRA CHUYÊN NGÀNH TRONG LĨNH VỰC LUẬT SƯ: NHIỀU SAI PHẠM CẦN CHẤN CHỈNH

THU HẰNG

“Năm 2009 sẽ là năm chúng tôi thực hiện quyết liệt các cuộc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư và tư vấn pháp luật”, ông Hoàng Quốc Hùng – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp đã cho PV Báo PLVN biết như vậy ngay trong ngày đi làm đầu tiên của năm mới. Bởi lẽ, năm 2008 vừa qua được coi là năm đột phá của thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực nói trên. Đây cũng là năm đầu tiên hoạt động này được tiến hành theo Nghị định 76/CP (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp). Chỉ qua thanh tra tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã phát hiện hàng loạt sai phạm.

“Sờ” đâu sai đó.

Theo báo cáo của Sở Tư pháp Hà Nội, hiện Hà Nội có 356 tổ chức hành nghề luật sư và 18 chi nhánh, trong đó có 25 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Còn tại TP. Hồ Chí Minh, số lượng các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam là 626 tổ chức, 155 chi nhánh và 16 văn phòng giao dịch; Có 37 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Đoàn Thanh tra Bộ Tư pháp đã thanh tra 66 tổ chức và chi nhánh tại Hà Nội; 74 tổ chức, chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh. Theo ông Hoàng Quốc Hùng thì có đến 95% các tổ chức, chi nhánh bị thanh tra đều có sai phạm. Tuy nhiên sai phạm chủ yếu là về hình thức, ví dụ Hợp đồng thuê trụ sở của một số tổ chức hành nghề luật sư đã hết hạn nhưng chưa gia hạn hợp đồng; Sử dụng trụ sở không đúng địa chỉ được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động; các vi phạm về biển hiệu; hoặc không thực hiện việc thông báo cho Sở Tư pháp khi mở các chi nhánh ở ngoài địa phương; các vi phạm về thủ tục đăng báo…

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tổ chức hành nghề luật sư vi phạm nghiêm trọng Nghị định 76/CP về nội dung như hoạt động ngoài lĩnh vực hành nghề ghi trong giấy đăng ký hoạt động;Hành vi để người khác (không phải là thành viên, không ký hợp đồng lao động và không có văn bản uỷ quyền) tiến hành ký kết các hợp đồng dịch vụ pháp lý nhân danh tổ chức hành nghề luật sư của mình- Hành vi vi phạm Luật Khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, nhiều vụ việc

hợp đồng dịch vụ pháp lý không được làm bằng văn bản – vi phạm Điều 26 Luật Luật sư (Điều 26 quy định: Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý (trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức) và hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có đủ 6 nội dung chính). Đây là vi phạm rất phổ biến của các tổ chức hành nghề luật sư, điển hình có những văn phòng luật sư thực hiện hàng ngàn vụ việc mà không hề ký hợp đồng dịch vụ với khách hàng bằng văn bản. Tuy nhiên, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP lại không có quy định về nội dung này. Ngược lại nhiều văn phòng luật sư có hợp đồng nhưng lại không ghi mức thù lao đã thoả thuận với khách hàng.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 131/2008/NĐ-CP NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT LUẬT SƯ VỀ TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, việc thành lập, giải thể, quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.

2. Nghị định này áp dụng đối với Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Điều 2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư

1. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và trong phạm vi toàn quốc để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư; thực hiện chức năng tự quản của luật sư nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn cao, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của tổ chức mình.

Điều 3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật.

2. Tuân theo Điều lệ được phê duyệt theo quy định của pháp luật.

3. Kết hợp chức năng tự quản với quản lý nhà nước.

4. Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch.

5. Tự chủ về tài chính.

Continue reading