BÀN VỀ “QUYỀN NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ” QUI ĐỊNH TẠI ĐIỀU 243 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN VĂN DŨNG – Học Viện Tư Pháp

Chế định “đại diện” được quy định tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo những quy định này, trong quan hệ dân sự và tố tụng dân sự có “người đại diện theo pháp luật” và “người đại diện theo ủy quyền”- được gọi chung là người đại diện hoặc người đại diện hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ của người “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền” không phải trong mọi trường hợp đều như nhau và giống nhau. Khi đặt trong tổng thể chung, có những quy định pháp luật gây nhầm lẫn hoặc gây tranh luận về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng. Quy định: “người đại diện của đương sự” tại Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự là một quy định như vậy.

Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.” Theo quy định này, có 3 đối tượng được quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm bao gồm, Đương sự; Người đại diện của đương sự; Cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án. Với hai đối tượng: đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo là chính xác, đúng quy định pháp luật và không cần bàn cãi. Bài viết này bàn về quy định người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án…

1. Những quy định của pháp luật về đại diện và về ủy quyền

a. Quy định pháp luật về đại diện.

Điều 139 Chương VII Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“ Điều 139. Đại diện.

1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

2…..

3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.”.

Theo quy định này, người đại diện luôn nhân danh (người khác) và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Continue reading

GIÁM HỘ, ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Chánh Toà Lao động, TANDTC

1. Những điểm mới về giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005)

Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS) nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.

Chế định giám hộ được quy định ở mục 4, Chương III Phần thứ nhất BLDS năm 2005 với 16 điều (từ Điều 58 đến Điều 73), với những sửa đổi bổ sung quan trọng so với các điều của tương tự của BLDS 1995.

1.1. Khái niệm giám hộ

Điều 58 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm giám hộ:

“ Giám hộ là cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi ( NLHV) dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)

So với khái niệm giám hộ quy định tại Điều 67 BLDS 1995 thì khái niệm giám hộ nêu ở Điều 58 BLDS 2005 ngoài việc sửa đổi từ ngữ còn sửa nội dung câu “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” bằng câu “người mất NLHV dân sự”.

Việc thay đổi này làm cho điều luật vừa ngắn ngọn vừa thể hiện được sự chặt chẽ và chính xác hơn. Vì khái niệm mất NLHV dân sự đã được quy định tại Điều 24 BLDS 1995, Điều 22 BLDS 2005. Vì vậy điều luật không cần mô tả lại những biểu hiện của người mất NLHV dân sự.

Continue reading

NGÀY XUÂN SUY NGẪM VỀ NGHỀ LUẬT SƯ

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM

Lẽ thường, xuân về Tết đến sẽ mang điều lành đến với mọi người, mọi nhà. Với những bài báo đầu năm 2010, cũng là khởi đầu Báo Pháp Luật TP.HCM “lột xác” thì giới luật sư được đưa lên “bàn mổ” với những điều dị nghị mang đậm sự phản cảm của dư luận.

Bốn số liền (từ ngày 01 đến ngày 04/01/2010) tờ báo phê phán một số luật sư là những “con sâu làm rầu nồi canh” trong hoạt động nghề nghiệp luật sư. Với tiêu đề: Tiền thầy bỏ túi, bài báo khái quát: “… không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân”. Phải chăng Báo Pháp Luật muốn tạo ra biệt lệ?

Là người trong giới luật sư, tôi thấm thía và đau đớn vô ngần. Đành rằng, không có nghề xấu, chỉ có người xấu vì “mía sâu có đốt, nhà dột có nơi”. Điều đáng buồn ở chỗ: từ xa xưa nghề luật sư được xã hội đề cao, coi trọng như là thiên chức. Nay lại có những con sâu làm tổn thương uy tín, hoen ố thanh danh những “hiệp sĩ” mà các bậc tiền bối đã dày công gầy dựng, vun đắp.

Chúng ta cần nghiêm khắc với bản thân: “tiên trách kỷ”. Trong lúc những đồng nghiệp chân chính, chấp nhận “thà cạp đất mà ăn” chứ không cam tâm làm điều xấu, thì đó đây có những “thầy cải” sẵn sàng “bán mình cho quỷ dữ”, nhắm mắt chạy theo tiền tài, vật chất!

Nhà thơ Trần Tế  Xương đã từng cảnh báo:

Văn minh Đông Á trời thu sạch,
Này lúc cương thường đảo ngược ru!

Continue reading

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi

Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.

Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.

Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ

Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.

Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…

Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: LUẬT SƯ GIỮ BÍ MẬT CHO THÂN CHỦ ĐẾN ĐÂU?

HỒNG TÚ

Luật sư không được câu kết với cán bộ tố tụng, không được giúp đỡ khách hàng giải quyết công việc bằng những thủ đoạn, hành vi bất hợp pháp.

Đạo đức hành nghề của luật sư được các đại biểu tham gia hội thảo “Quản lý nghề luật sư: Kinh nghiệm của Việt Nam và Nhật Bản” rất quan tâm, nhất là khi sắp tới, nội dung này sẽ được Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành thành quy tắc. Vấn đề đầu tiên trong đạo đức hành nghề luật sư là mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Tố giác hay im lặng?

Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư. Khi đó họ sẽ cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin liên quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư”.

Nhiều đại biểu tán đồng ý kiến này. Tuy nhiên, luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) tỏ ra băn khoăn khi đặt giả thuyết: Nếu khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư phải làm thế nào? Đi báo cơ quan chức năng hay im lặng che giấu tội phạm?

Luật sư Toriyama Hanroku (Đoàn Luật sư Osaka) nêu kinh nghiệm của Nhật Bản để các đại biểu tham khảo. Theo ông, luật sư Nhật Bản không được phép tiết lộ thông tin của khách hàng. Tuy nhiên, nếu biết được khách hành của mình đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, luật sư được phép báo cho cơ quan chức năng sau khi đã làm hết các biện pháp khác nhưng không ngăn cản khách hàng được. Còn lại, tất cả các trường hợp khác luật sư đều không được tố cáo, đó là nguyên tắc nghề nghiệp.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 123/QĐ-TTg NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” với các nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Xây dựng và phát triển đủ số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư để đáp ứng nhu cầu tư vấn và tham gia tranh tụng các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có cơ quan Chính phủ, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Continue reading

LUẬT SƯ LÀM RẦU THÂN CHỦ

NHÓM PV BÁO PLTPHCM

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

1. Tiền thầy bỏ túi

Số lượng luật sư đã không nhiều, năng lực của một số luật sư chưa cao, chưa thể đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Ðã vậy, không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân.

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

Ứng tiền, dzọt mất

Trên thực tế, để nhận được thù lao, luật sư phải lao tâm khổ tứ nghiên cứu hồ sơ, đi lại, quan hệ lo vụ việc của thân chủ. Những hoạt động này rất khó định tên nên có những luật sư nhận tiền ứng trước của thân chủ rồi chẳng làm gì nhưng vẫn vin vào đó để biện hộ rằng “tôi đã làm hết khả năng”.

Năm rồi, luật sư D. (Đoàn Luật sư tỉnh Q.) vào “ngồi ké” một văn phòng luật sư ở quận Gò Vấp (TP.HCM) và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với ông L. Hai bên thỏa thuận sẽ “cưa đôi” khoản tiền gần 6 tỉ đồng nếu đòi được nợ. Đòi được đến đâu, “cưa” đến đó và ông L. đã ứng trước 30 triệu đồng cho luật sư…

Continue reading

QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT SƯ VỚI CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

Nghề Luật sư được xã hội trọng vọng, tôn kính. Ngay từ thời La Mã Cổ đại, người Luật sư được xem như một hiệp sĩ, nghề luật sư được coi như một thiên chức (chức vụ thiêng liêng). Ở miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng 30/4/1975, ban nhạc hài hước nổi tiếng AVT đã từng cất lời ca trên đài phát thanh Sài Gòn: Luật sư đắc vợ, nhiều tiền, từ hai tay trắng làm nên nhà lầu!

Được biết, người Sài Gòn đã có thói quen tìm đến luật sư khi hữu sự, chẳng may phải “đáo tụng đình”. Vì vậy mà tổ chức luật sư ra đời tại “thánh địa” nầy ngay từ năm 1867 tính tới nay là 142 năm (chỉ gián đoạn 14 năm: từ năm 1975 đến năm 1989).

Để tạo được truyền thống danh giá tốt đẹp, giữ được sự tin cậy và trọng nể của người đời thì luật sư và tổ chức hành nghề luật sư suy nghĩ và hành động mẫu mực, thao thức với lời căn dặn được lưu truyền từ ngàn xưa: mua danh ba vạn, bán danh ba đồng; hoặc mất tiền bạc có thể làm ra tiền bạc, mất uy tín là mất tất cả.

Là luật sư, hơn các giới khác trong xã hội, chúng ta cần tuân thủ triệt để quy định pháp luật và ứng xử nhân văn trong làm việc và lối sống. Ở chừng mực nào đó, dân thường vi phạm pháp luật có thể được tha thứ hoặc châm chế do lạc hậu về kiến thức và nhận thức. Nhưng những “thầy luật” mà vi phạm pháp luật thì thật đáng chê trách. Trong số những điều tối kỵ của nghề luật sư là hành vi “chạy án”. Tại hội nghị tổng kết hàng năm của Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh, chúng ta luôn mạnh mẽ lên tiếng: cương quyết nói “không” với chạy án.

Khái niệm “chạy án” được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng nói theo dân gian là việc làm “đổi trắng, thay đen” trong hoạt động tố tụng làm sai lệch sự thật khách quan được thể hiện trong bản án để hưởng lợi bất chính. Là người “phụ tá công lý”, chúng ta xem công lý là kim chỉ nam, là vị thần bất khả xâm phạm. Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi đất lành chim đậu, với hào khí Nam bộ không cho phép chúng ta làm ngơ trước bất công, mà phải tỏ rõ thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (thấy việc nghĩa không làm thì không phải là người có dũng khí).

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

LS. NGUYỄN THÀNH VĨNH

Trong một chế độ dân chủ, đã nói đến Toà án là phải nói đến luật sư, nói đến công tác xét xử thì không thể nói đến vai trò của luật sư. Vì nội dung cơ bản của dân chủ là quyền của công dân, quyền của con người. Và một trong những người bảo vệ quyền con người là luật sư.

Chức năng, nhiệm vụ của luật sư đã được quy định tại Luật Luật sư. “Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 (Hết hiệu lực) của Hội đồng Bộ trưởng từng nói “Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cua công dân, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hộichủ nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị định đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công dân lên hàng đầu. Chiến lược cơ bản của chế độ ta là chiến lược con người, là “tất cả vì dân”, “tất cả vì hạnh phúc của con người”.

Để đạt được mục đích cao cả đó, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công lý. Luật sư, qua việc làm sáng tỏ sự thật về vụ án và vận dụng đúng đắn pháp luật cóliên quan, góp phần tích cực cùng với Toà án, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế. Do đó, sự đảm nhận một vai trò rất quan trọng trong bộ máy xét xử, và là một bánh xe cần thiết, không thể thiếu được trong bộ máy xét xử.

Vai trò của luật sư càng cần thiết và quan trọng trong việc giải quyết các vụ kiện hành chính. Vì từ trước tới nay, công dân chỉ có quyền khiếu tố đến cơ quan hành chính, quyền này được các Hiến pháp của Nhà nước ta và Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và 1991 quy định. Nhưng quyền đó nhiều khi không thực hiện được trong thực tế. Vì người bị kiện chính là “quan toà”. Đôi khi đơn khiếu tố được giải quyết bằng một chỉ thị hành chính. Nhưng chỉ thị đó không có hiệu lực thi hành và thường không được thi hành.

Continue reading

QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA ĐƯỢC BẢO ĐẢM

NGUYỄN THÁI QUÍ

Quy định về quyền của người làm chứng là một trong những điểm mới và tiến bộ của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS). Song, đã gần 5 năm triển khai thực hiện, quy định mới này vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án mà Tòa án giải quyết. Do đó, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây, khi tham gia tố tụng người làm chứng chỉ có nghĩa vụ khai báo trung thực mà không có bất kỳ quyền lợi gì. Khắc phục những hạn chế đó, tại Điều 66 BLTTDS không chỉ quy định cụ thể nghĩa vụ mà đã bổ sung thêm các quyền của người làm chứng, đó là: quyền được hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật; quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Đây là điểm tiến bộ của BLTTDS, tuy nhiên do mang tính nửa vời nên các quy định này khó thực thi.

Thứ nhất, về chi phí cho người làm chứng. Khác với tố tụng hình sự, trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, do đó Điều 143 BLTTDS quy định: “Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương sự chịu”. Cụ thể là: “Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng, nếu lời làm chứng phù hợp sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trong trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng thì chi này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị chịu”.

Continue reading

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ ĐẾN NĂM 2020: ĐIỂM TỰA CHO LUẬT SƯ VIỆT NAM

THIÊN LONG

"Từ nay đến năm 2020, số luật sư (LS) sẽ tăng gấp 3 lần (hiện là 5.500 người), tỷ lệ LS trên dân số khoảng 1/12.000 người. Số LS được đào tạo bài bản, trang bị đủ các kỹ năng tranh tụng, tư vấn pháp luật ít nhất đạt 90% và hình thành được ít nhất 150 LS, 30 tổ chức hành nghề LS đạt tiêu chuẩn quốc tế". Đó là những nội dung chính của đề cương Chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 do các nhà hoạch định chính sách đề ra.

Theo LS Trần Hữu Huỳnh (Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), từ năm 2005 đến 2008, cả nước đã ban hành 17.196 văn bản qui phạm pháp luật. Hiện cả nước có khoảng gần 400.000 doanh nghiệp (DN) đăng ký hoạt động. Trong đó, có khoảng gần 300.000 DN hoạt động thực tế. Với số lượng văn bản pháp luật "khổng lồ" và DN không ngừng phát triển như vậy, nhu cầu dịch vụ pháp lý là rất lớn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới đây của các cơ quan chức năng, trong năm 2001, chỉ có 6% số DN từng sử dụng dịch vụ LS, năm 2006 là 13% và rất nhiều tranh chấp "đáng giá" được giải quyết bởi LS nước ngoài. Qua khảo sát, 60% số DN đánh giá chất lượng dịch vụ là trung bình, 30% đánh giá trên trung bình, chỉ 8% cho là "ổn". "Không nên xây dựng chiến lược phát triển LS chỉ chú trọng về số lượng, hay phát triển ở vùng, miền nào Điều quan trọng là phải đảm bảo cho mọi người dân, DN khi cần sử dụng dịch vụ pháp lý (LS) là có. Và đào tạo, bồi dưỡng LS thế nào để có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan đặt ra". LS Trần Hữu Huỳnh nêu quan điểm và chiến lược phát triển đội ngũ LS đến năm 2020 nên đặt mục tiêu xây dựng môi trường cho LS phát triển, không nên đưa ra tiêu chí cụ thể như "LS quốc tế". Bởi vì tiêu chuẩn này khá mù mờ và duy ý chí. Ngoài ra, Nhà nước cần đa dạng các hình thức đào tạo, chứ một mình Học viện Tư pháp đảm nhận sẽ thiếu tính cạnh tranh.

Continue reading

CẢM NHẬN CỦA MỘT LUẬT SƯ: VIỆC NHỎ HAY VIỆC LỚN

LS. ĐOÀN THỊ LAN

Một dịp thật vô tình. Tôi được tham dự một phiên tòa phúc thẩm xét xử tranh chấp thừa kế, vụ việc đã được Tòa án Nhân dân (TAND) quận Gò Vấp xử sơ thẩm ngày 13/04/2009, nguyên đơn, bị đơn vụ kiện, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo và tòa dân sự thành phố xét xử phúc thẩm vào ngày 29/05/2009.

Dưới sự chủ tọa của thẩm phán phó chánh tòa dân sự thành phố, việc xét xử được diễn ra nhanh chóng gọn, chưa hết 2 tiếng đồng hồ kể cả thời gian nghị án, bản án phúc thẩm đã được tuyên theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND quận Gò Vấp vì đã vi phạm tố tụng dân sự và thiếu cơ sở pháp lý để tuyên án.
Rời phiên tòa trong cái nắng nóng gay gắt của tháng 5 không làm tôi mệt mỏi nhưng cảm nhận của tôi đối với các nguyên đơn, bị đơn theo đuổi vụ kiện tôi thấy mệt mỏi cho họ. Mất thật nhiều thời gian, công sức mà bị hủy án vì lý do chủ quan của cơ quan xét xử cũng thấy nhiều điều trăn trở. Sau một phiên xử đối với người làm công tác pháp luật, bản án đã tuyên, thế là xong, việc còn lại là của bộ phận khác. Trong vụ kiện này tôi cảm nhận được 2 điều:

1- Việc chia thừa kế theo pháp luật đã có qui định rõ ràng tại các văn bản pháp luật và Nghị quyết 02 ngày 10/08/2004 của hội đồng thẩm phán vấn đề này tôi  nghĩ những người ngồi xét xử chắc chắn phải hiểu rõ hơn ai hết, trường hợp nào được thụ lý chia tài sản thừa kế, trường hợp nào không thụ lý được vì đã hết thời hiệu khởi kiện.

Continue reading

ĐƯƠNG SỰ – CHỦ THỂ ĐẦU TIÊN VÀ QUAN TRỌNG NHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

QUÁCH MẠNH QUYẾT – LỚP DÂN SỰ B  KHÓA 31 CHÍNH QUI, ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự có ba đặc điểm cơ bản:

– Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn ra suyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra phán quyết. Khởi đầu là việc chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, tiếp đến là hoạt động chứng minh của bị đơn bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có), hoạt động chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của Viện kiểm sát (nếu có)… và kết thúc khi tòa án chứng minh cho phán quyết của mình thông qua một bản án có giá trị bắt buộc thi hành.

– Bản chất của chứng minh chính là việc sử dụng chứng cứ.

Hai yếu tố cấu thành vụ án dân sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu tố khách quan (bao gồm đối tượng – mục đích khởi kiện và nguyên nhân – cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước tòa án). Hoạt động chứng minh được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án. Điều này có nghĩa là yếu tố cấu thành vụ án đã vốn có, vốn đã tồn tại, nay chỉ đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất. Hay nói cách khác, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án.

Continue reading

VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. NĂM 2009

Người thực hiện: Quách Mạnh Quyết 

Giới tính: Nam   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS31B 

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Trần Phương Thảo

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của đề tài

Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Là luật hình thức độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như: Luật Dân Sự, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Thương Mại, Luật Lao Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc trưng cơ bản của Luật Dân Sự như tính bình đẳng, tự quyết và thoả thuận giữa các bên… đòi hỏi Luật tố tụng dân sự cũng phải thể hiện được bản chất tương ứng trong việc đánh giá và xác định vai trò quan trọng của các đương sự, đặt họ vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay.

Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt (bãi nại) tranh chấp. Trong đó, hoạt động chứng minh là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt động này là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Có thể nói mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của toà án chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.

Continue reading

VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – Vấn đề cơ bản nhất của tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. NĂM 2009

Người thực hiện: Quách Mạnh Quyết

Giới tính: Nam   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS31B 

Năm thứ: 3/4    

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Trần Phương Thảo

GV THS

Khoa: Luật Dân Sự

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của tài khoản

Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các luật phạm pháp làm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các công việc dân sự. Là luật hình thức độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như: Luật Dân sự, Luật Hôn nhân Và Gia Đình, Luật Thương mại, Luật Lao Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc cơ bản của Luật Dân sự như tính bình đẳng, tự quyết và giữa các bên… Hỏi Luật tố tụng dân sự cũng phải có bản chất tương thích trong công việc giá cả và xác định vai trò quan trọng của các nghi lễ, đặt họ vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình quyết định công việc dân sự. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay.

Quá trình tiến tụng kéo dài từ khi tòa án thụ lý việc việc dân sự cho đến khi có Phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt (bãi suy) tranh chấp. Trong đó, chứng minh hoạt động là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể có thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt động này là cơ sở để bảo vệ quyền lợi và hợp pháp hữu ích của mình đồng thời là cơ sở để xây dựng các phán quyết của mình. Có thể nói mục tiêu của hoạt động tụng niệm là bằng chứng và bản án, quyết định của tòa nhà chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.

Continue reading

HÙNG BIỆN – NGUỴ BIỆN

LS. TRẦN CÔNG LY TAO

Trong đời sống xã hội, các chính khách trổ tài hùng biện khi vận động tranh cử vào các chức vụ trọng yếu như Nghị sĩ Quốc hội, Thủ tướng, Tổng thống… Sự hùng biện của “thầy cãi”  chẳng những chỉ thể hiện bằng ngôn ngữ đanh thép, xoáy vào lòng người mà còn bao hàm cả sự diễn cảm qua ánh mắt, nụ cười, khi cần pha chút hài hước. Luật sư nhập vai một diễn giả giàu bản lĩnh và nghị lực, xem cử toạ như “con cháu trong nhà”. Có tự tin luật sư mới mạnh dạn khi “diễn thuyết” một cách thao thao bất tuyệt trước chốn pháp đình. Luật sư hùng hồn nhấn mạnh điểm mấu chốt liên quan tới nhân vật then chốt mà luật sư bảo vệ trong vụ án. Thỉnh thoảng luật sư đưa mắt về phía họ nhằm bày tỏ sự quan tâm của luật sư đối với thân chủ. Luật sư cố gắng tránh tật nói lắp, nói ngọng. Chúng ta nên kiên trì sửa chữa khuyết tật ấy, nếu không giọng nói của luật sư ấp a, ấp úng, lập cà, lập cập chắc hẳn sẽ là vở hài kịch nơi công đường.

Nghề luật sư là một trong số nghề nghiệp mang đậm tính chất hùng biện. Có lẽ vì thế mà ở nước ta, ngay từ những ngày đầu mới hình thành vào cuối thế kỷ 19 giới “thầy cãi” được mệnh danh là trạng sư.

Tiếng nói của luật sư ở chốn pháp đình thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khán thính giả; trong đó có Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên (KSV), luật sư đồng nghiệp, phóng viên báo chí, bị cáo, bị hại, những đương sự khác… tham dự phiên toà. Nội dung luận cứ của luật sư dù có súc tích, sắc sảo đến đâu mà diễn đạt thiếu mạch lạc, hùng hồn, chẳng những không lôi cuốn mà còn làm cho cử toạ chê bai.

Cách thức diễn đạt luận cứ của luật sư (tương tự biện minh trạng đối với vụ án hình sự, lý đoán đối với vụ án phi hình sự mà luật sư nước ta thể hiện tại toà án trước năm 1975) được xem là thước đo năng lực lý luận của luật sư, nhằm thuyết phục HĐXX tin rằng bị cáo, đương sự mà luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi vô tội  hoặc ít ra sai phạm chưa đến mức độ như đại diện viện kiểm sát quy buộc. Đây cũng là thời điểm thích hợp để luật sư trình bày quan điểm pháp lý nhằm thuyết phục HĐXX cân nhắc, đánh giá vụ án một cách khách quan, toàn diện để có một phán quyết phù hợp thấu tình, đạt lý.  Continue reading

ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRONG VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG

ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM – Bộ Luật Tố tụng Hình sự (năm 2003) có hiệu lực hơn 4 năm qua thực tế là đã bước đầu thể chế hóa các quan điểm về cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã nêu. Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Tố tụng Hình sự chủ yếu là “bảo đảm tranh tụng dân chủ và phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp) cũng đã nhấn mạnh “Cần chọn tòa án là khâu đột phá trong cải cách tư pháp… tòa án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước, của nền công lý nước ta, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN…”.

Để có thể nhận xét, đánh giá hoạt động của luật sư trong 2 năm qua, kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực 01/01/2007 đến nay, chúng tôi xin nêu số liệu thống kê luật sư tham gia tranh tụng trong 2 năm 2007- 2008 (tính từ 01/10/2006 đến 30/09/2008) như sau:

Năm

Hồ sơ tòa án thụ lý

Hồ sơ tòa án đã giải quyết

Luật sư tham gia theo HĐ với khách hàng

Luật sư tham gia theo CQĐT-VKS-TA yêu cầu

2007 2.132 vụ 2.117 vụ 312 lượt (15%) 677 lượt (32%)
2008 1.989 vụ 1.973 vụ 346 lượt (17,5%) 718 lượt (36%)

Số lượt luật sư tham gia (theo cả hai hình thức HĐ với khách hàng và do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu) nói trên là khá cao theo tỷ lệ chung của toàn ngành. Có thể lý giải điều này bởi lẽ Tòa Hình sự- TAND TP.HCM giải quyết hồ sơ sơ thẩm, chủ yếu là án có khung hình phạt lên đến chung thân, tử hình. Do vậy, nếu bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS) và tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

Continue reading

LUẬT SƯ NỘI BỘ, ANH LÀ AI?

LS. TRẦN DUY CẢNH

Báo chí hàng ngày thường hay nhắc đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một sân chơi lớn mang tính toàn cầu với những luật lệ còn rất lạ lẫm đối với doanh nghiệp trong nước. Rồi chuyện Vietnam Airlines thua kiện, việc một doanh nhân Việt Nam bị bắt và yêu cầu dẫn độ sang Mỹ, chuyện bán phá giá ở Mỹ và châu Âu… Toàn những thông tin mà cách đây vài năm nhiều doanh nghiệp trong nước chưa từng nghe, biết. Các doanh nghiệp có thói quen làm việc “quên luật lệ” đang cảm thấy chơi vơi vì sự thiếu hiểu biết pháp luật và họ nghĩ ngay đến việc tuyển dụng luật sư nội bộ hoặc thuê hãng luật bên ngoài để lấp đầy chỗ trống đó.

Luật sư “trong nhà”

Thật ra, khái niệm luật sư nội bộ không phải là mới mẻ đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Trước đây và kể cả bây giờ, tại các doanh nghiệp nhà nước đều tồn tại một bộ phận có tên gọi là phòng pháp chế. Luật sư công ty được gọi là cán bộ pháp chế. Về thực chất, trong thời bao cấp, phòng pháp chế và cán bộ pháp chế chỉ thực hiện các quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp chứ không được tham gia vào quá trình ra quyết định của doanh nghiệp thông qua các hoạt động nghề nghiệp của mình.

Các doanh nghiệp nước ngoài thì gọi bộ phận pháp lý của họ là phòng luật và nhân viên làm việc ở đó là luật sư công ty (in-house lawyer). Người đứng đầu phòng luật thường gọi là luật sư trưởng hay trưởng phòng luật (General In-house Lawyer hoặc đơn giản là Legal Manager). Luật sư công ty dĩ nhiên phải là luật sư, nghĩa là thành viên của một đoàn luật sư nào đó và có thẻ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp. Nếu các đồng nghiệp khác làm việc cho hãng luật hay cho văn phòng luật sư thì họ lại làm việc cho doanh nghiệp với tư cách là người làm thuê hưởng lương nên gọi là luật sư công ty. Chính nơi hành nghề luật sư đã định danh cho họ.

Continue reading

XÉT HỎI HAY TRANH TỤNG?

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Trong Nghị quyết VIII, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…”.

Để đáp ứng được những đòi hỏi trên đây, cần phải có sự thay đổi trình tự, cách xét hỏi, tranh tụng và cách đánh giá chứng cứ đã được vận hành trong các phiên toà trước đây. Việc xét hỏi tại các phiên toà hình sự lâu nay thường diễn ra theo trình tự như sau: Chủ toạ phiên toà xét hỏi toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án. Tiếp đến là các Hội thẩm nhân dân. Công tố viên hỏi về những vấn đề mà bị cáo phủ nhận tội của họ. Bào chữa viên hỏi về những vấn đề có lợi cho người được họ bảo vệ. Trình tự xét hỏi trên đây bộc lộ một số nhược điểm: Chủ toạ phiên toà trở thành người độc diễn trong xét hỏi, trở thành người có trách nhiệm phải chứng minh việc buộc tội hay việc bào chữa. Điều này gây cho những người tham gia tố tụng, những người tham dự phiên toà có ấn tượng là toà thiếu khách quan. Hiện tượng bao sân của Chủ toạ phiên toà khiến người tham dự dễ dàng biết được Toà đã nghiêng về phía nào. Điều này là tối kỵ vì nó làm xói mòn lòng tin của quần chúng vào tính khách quan, không thiên vị của Toà.

Sẽ là hợp lý hơn khi Toà – chủ toạ phiên toà trở lại đúng vị trí của mình là người điều khiển, người chủ toạ phiên toà, là người cầm chịch việc xét hỏi, hướng cho những người xét hỏi đi đúng trọng tâm, đúng những vấn đề cần hỏi mà không lạc đề.

Continue reading