LUẬT SƯ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ LUẬT SƯ CỦA NGƯỜI DÂN

ĐOÀN TIỂU LONG – Sài Gòn Giải phóng thứ bảy

1. Bất bình đẳng giữa hai loại luật sư

Tại phiên toà hình sự, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố thường được gọi là luật sư của Nhà nước, đối lập với người bào chữa là luật sư của người dân. Về bản chất, một vụ án hình sự cũng là một vụ kiện, trong đó Nhà nước thông qua luật sư của mình kiện một công dân vi phạm một số điều khoản nào đó của Bộ luật Hình sự. Việc tranh tụng tại toà giữa công tố viên và bị cáo hay luật sư của bị cáo, vì thế, cũng không khác gì việc tranh tụng giữa bên nguyên và bên bị trong bất kỳ vụ kiện tụng nào khác. Trong tiếng Anh, công tố viên – prosecutor – có nghĩa gốc là “người đi kiện”, xuất phát từ động từ prosecute là “kiện”. Trước toà, hai bên nguyên – bị đều bình đẳng với nhau, và điều này được khẳng định trong điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng hiểu thế nào là “bình đẳng trước Toà án” lại là cả một vấn đề. Từ trước tới nay, các chuyên gia pháp lý của ta đều nhất trí rằng “bình đẳng trước Toà án” chỉ là một nội dung của quyền “bình đẳng trước pháp luật” mà Hiến pháp quy định, tuy nhiên trước Toà án các bên chỉ bình đẳng về mặt tố tụng, tức là đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu và tranh luận, chứ không bình đẳng về mọi mặt. Chính đây là điều đáng suy ngẫm.

Do không nhận thức được rằng một vụ án hình sự cũng chỉ là một vụ kiện, lại bị lối tư duy “suy đoán có tội” – cứ bị bắt, truy tố là chắc chắn có tội – chi phối, chúng ta thường coi đó là một vụ xét xử tội phạm để trừng phạt, răn đe. Do đó tư thế của các bên trong phiên toà hình sự khác nhau rõ rệt. Chưa hề có bản án, chưa biết đúng sai ra sao, người ta đã thấy bị cáo mặc áo tù, bị còng tay, bị cảnh sát kèm chặt dẫu chẳng hề có dấu hiệu phản kháng hay bổ trốn; buộc phải đứng trước vành móng ngựa nghe công tố viên, rồi nhiều lúc cả hội đồng xét xử nữa, thi nhau mắng mỏ, quát nạt, trấn áp tinh thần. Luật sư bào chữa ngồi đâu đó phía sau, muốn nghe, muốn nhìn mặt thân chủ cũng khó. Trong khi đó công tố viên ngồi trên cao phía trước, sang sảng đọc cáo trạng, luận tội, thỉnh thoảng lườm xuống bị cáo và luật sư một cách đầy thị uy. Và lạ thay, một thời gian dài ai ai cũng coi đó là chuyện đương nhiên. Nó giống y như trong các bộ phim cổ trang của Tàu có cảnh xử án: đương sự quỳ mọp dưới đất, còn quan phụ mẫu, Bao Công chẳng hạn, ngồi trên cao đập bàn quát tháo. Hình ảnh này trái ngược hoàn toàn với hình ảnh ta thường thấy trong các bộ phim diễn cảnh phiên toà ở các nước có nền tư pháp phát triển, trong đó bị cáo ăn mặc rất lịch sự, chẳng mấy khi bị xiềng xích, còn luật sư thì tranh cãi nảy lửa với viên chưởng lý, tức công tố viên, và thường là thắng mới thú chứ! Phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” là một ví dụ.

Vì sao vậy? Vì trong ý thức của đa số chúng ta kiểm sát viên đại diện cho Nhà nước, còn luật sư chỉ đại diện cho một cá nhân, hơn nữa lại là cá nhân đang bị truy tố, mà đã truy tố là 99% đi tù, so thế quái nào được! Không thể có chuyện bình đẳng về tư cách, về vị trí ngồi, về trang phục, về khả năng tiếp cận hồ sơ, và cả về sự ưu ái của hội đồng xét xử giữa hai bên ở đây – người ta nghĩ thế.

Đó là biểu hiện rất rõ của quan điểm “Nhà nước cai trị”, sản phẩm của chế độ phong kiến châu Á hàng ngàn năm, trong đó vua là thiên tử, quan là cha mẹ, còn dân đen chỉ là con sâu cái kiến. Còn theo quan điểm “Nhà nước phục vụ” mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới thì sao?

2. Bộ máy không thể cao hơn chủ nhân, và luật sư cũng thế

Trong một chế độ dân chủ, Nhà nước là bộ máy do nhân dân lập ra để quản lý xã hội, và những công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước chỉ là những công bộc của dân, ăn lương của dân để thực thi những nhiệm vụ do người dân giao phó. Không lý nào bộ máy lại đứng cao hơn chủ nhân, công bộc đứng trên ông chủ. Vậy thì luật sư của bộ máy làm sao có thể đứng ngang hàng với luật sư của ông chủ, chứ đừng nói gì đến đứng trên. Ý tưởng sơ đẳng đó về một nền dân chủ đích thực tiếc thay không phải ai cũng nhận thức ra, kể cả trong số các chuyên gia pháp lý. Có lẽ vì thế mà trong Bộ luật tố tụng hình sự mới được sửa đổi tranh tụng vẫn chưa được công nhận như một nguyên tắc. Dường như nhiều người vẫn lo ngại rằng nếu chỉ hoàn toàn dựa vào tranh tụng thì các kiểm sát viên sẽ không đấu lại các luật sư chăng, và vì thế vẫn cần sự hỗ trợ của Hội đồng xét xử để giành phần thắng? Người ta có quyền đặt ra nghi vấn này, vì cho đến nay vẫn còn tồn tại một hiện tượng khá phi lý: trước khi vụ án được đưa ra xét xử bao giờ cũng có cuộc làm việc giữa ba bên: cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án, nhằm “thống nhất đường lối xét xử”. Luật sư không được phép có mặt trong cuộc họp này, và vì thế người ta rất dễ nghĩ rằng ba bên họp nhau là để bàn cách chống lại bị cáo cùng luật sư. Vậy thì còn cần đến phiên toà làm gì nữa?

Chúng ta đã có Nghị quyết 08 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp; một số nơi đã tiến hành những phiên toà mẫu, trong đó chỗ ngồi của công tố viên và luật sư bào chữa được xếp đối xứng nhau thể hiện sự bình đẳng trước Toà. Mới đây đã có quyết định là bị cáo ra toà không phải mặc áo tù nữa (nhưng chuyện còng tay thì vẫn bỏ ngỏ). Tại nhiều phiên toà, việc tranh tụng được tiến hành dân chủ hơn. Đó là những nỗ lực sơ khởi đáng ghi nhận. Mong sao những phiên toà mẫu đó không còn là mẫu nữa, mà sẽ trở thành thông lệ, để sau này con cháu chúng ta sẽ phải trợn mắt kinh ngạc khi nghe kể về những phiên toà xưa kia.

Theo Sài Gòn Giải phóng thứ bảy

Tranh tụng trong tố tụng dân sự – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Vừa qua, Nghị quyết 08 – NQ/ TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định). Tuy nhiên, để có thể thực hiện được nhiệm vụ này thì việc hiểu như thế nào là tranh tụng, nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ về mặt lý luận và thực tiễn mà còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta.

Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục.

Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.

ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:

Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay.

Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải.

Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Sự tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia, mà đại diện là Tòa án có thẩm quyền.

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án.

Xem xét những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy: Nếu tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác, bởi vì các đương sự chỉ khởi kiện ra Tòa án khi các đương sự không thể tự giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp của mình, họ cần đến Tòa án như là người “trọng tài” đứng ra phân xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Như vậy, tranh tụng không chỉ là mối tương quan giữa các đương sự mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Tòa án như quan điểm thứ hai thì mới chỉ nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chưa nói lên được bản chất của tranh tụng là gì?. Còn nếu quan niệm tranh tụng như quan điểm thứ ba thì chưa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được một bản án, quyết định mà chưa nói lên được các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm mục đích gì?

Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện. Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về vụ án về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án. Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên…trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, khởi tố, thu thập chứng cứ, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ để tiến hành xét xử lại.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi có sự tham gia tranh luận của các bên đương sự.

Từ cách hiểu như vậy, để đảm bảo sự sự nhận thức đúng đắn và thống nhất về khái niệm tranh tụng, thì chúng ta cần phải làm sáng tỏ các đặc điểm của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên tòa.

Với cách hiểu nghĩa rộng, quá trình tranh tụng trong tố tụng dân sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án không có nghĩa vụ điều tra

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy, họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đương sự.

٭ Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định

Pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nói chung và các chủ thể tham gia tố tụng dân sự nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng dân sự, vì vậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. Việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai, trực tiếp và bằng lời nói.

Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giả quyết vụ án. Những chứng cứ, tài liệu nào đó nếu không được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không được dùng làm căn cứ cho quyết định của Tòa án.

٭ Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Để có thể phán quyết một bản án công minh, làm sáng tỏ được các tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước Hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án.

٭ Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng.

Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên. Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa vai trò chủ động thuộc về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra nhân chứng, quyết định tiến trình và nhịp độ phiên tòa. Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày của họ.

Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng dân sự có thể đi đến kết luận: Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Xuất phát từ lý luận trên cho thấy tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyền con người. Thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu của các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra, xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở của tranh tụng trong tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng dân sự đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng quyền bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các đương sự nói riêng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Tranh tụng trong tố tụng dân sự còn là một bảo đảm cơ bản cho một nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng…, do đó tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự để các bạn đồng nghiệp tham khảo và cùng trao đổi.


Nghị quyết 08 – NQ/TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Nhà pháp luật Việt – Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr. 2.

Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá- thông tin, Hà Nội, tr. 1686.

Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, NXB TPHCM, tr. 621.

Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật TTDS Việt Nam, NXB Khai trí, tr. 367, 368.

Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam giải lược, NXB Đồng Nai, tr. 63.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀKhoa luật dân sự  – Đại học Luật Hà Nội

Vừa qua, Nghị quyết 08 – NQ/ TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định). Tuy nhiên, để có thể thực hiện được nhiệm vụ này thì việc hiểu như thế nào là tranh tụng, nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ về mặt lý luận và thực tiễn mà còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta.

Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục.

Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.

ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:

Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay.

Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải.

Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Sự tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia, mà đại diện là Tòa án có thẩm quyền.

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án.

Xem xét những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy: Nếu tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác, bởi vì các đương sự chỉ khởi kiện ra Tòa án khi các đương sự không thể tự giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp của mình, họ cần đến Tòa án như là người “trọng tài” đứng ra phân xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Như vậy, tranh tụng không chỉ là mối tương quan giữa các đương sự mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Tòa án như quan điểm thứ hai thì mới chỉ nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chưa nói lên được bản chất của tranh tụng là gì?. Còn nếu quan niệm tranh tụng như quan điểm thứ ba thì chưa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được một bản án, quyết định mà chưa nói lên được các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm mục đích gì?

Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về vụ án một cách trung thực, khách quan, toàn diện. Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về vụ án về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến chân lý khách quan của vụ án. Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên…trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, khởi tố, thu thập chứng cứ, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ để tiến hành xét xử lại.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm khi có sự tham gia tranh luận của các bên đương sự.

Từ cách hiểu như vậy, để đảm bảo sự sự nhận thức đúng đắn và thống nhất về khái niệm tranh tụng, thì chúng ta cần phải làm sáng tỏ các đặc điểm của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự và tranh tụng tại phiên tòa.

Với cách hiểu nghĩa rộng, quá trình tranh tụng trong tố tụng dân sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án không có nghĩa vụ điều tra

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy, họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đương sự.

٭ Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định

Pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nói chung và các chủ thể tham gia tố tụng dân sự nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng dân sự, vì vậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. Việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm có một số đặc điểm cơ bản sau:

٭ Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai, trực tiếp và bằng lời nói.

Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giả quyết vụ án. Những chứng cứ, tài liệu nào đó nếu không được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không được dùng làm căn cứ cho quyết định của Tòa án.

٭ Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Để có thể phán quyết một bản án công minh, làm sáng tỏ được các tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước Hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án.

٭ Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng.

Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên. Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa vai trò chủ động thuộc về các luật sư là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra nhân chứng, quyết định tiến trình và nhịp độ phiên tòa. Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày của họ.

Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng dân sự có thể đi đến kết luận: Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Xuất phát từ lý luận trên cho thấy tranh tụng trong tố tụng dân sự chính là thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyền con người. Thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu của các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra, xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở của tranh tụng trong tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng dân sự đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng quyền bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các đương sự nói riêng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Tranh tụng trong tố tụng dân sự còn là một bảo đảm cơ bản cho một nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng…, do đó tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự để các bạn đồng nghiệp tham khảo và cùng trao đổi.


Nghị quyết 08 – NQ/TƯ ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Nhà pháp luật Việt – Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr. 2.

Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá- thông tin, Hà Nội, tr. 1686.

Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, NXB TPHCM, tr. 621.

Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật TTDS Việt Nam, NXB Khai trí, tr. 367, 368.

Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam giải lược, NXB Đồng Nai, tr. 63.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN taij phiên toà dân sự sơ thẩm

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

ở phiên tòa, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo một trình tự nhất định bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng;

2. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm”.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại Điều 51 PLTTGQCVADS được thực hiện như sau: “1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Như vậy, theo quy định của các Điều luật đó thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục tranh luận. ở thủ tục xét hỏi Hội đồng xét xử đặt câu hỏi và nghe những người tham gia tố tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án. ở thủ tục tranh luận đương sự, những người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến về chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử thẩm tra các chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các tình tiết của vụ án. Thông qua tranh luận Hội đồng xét xử nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự , quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những quy định về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chúng ta có thể thấy đây là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của Thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa thẩm phán giữ vai trò chủ động, tích cực. Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Vai trò tích cực và chủ động của Thẩm phán còn được thể hiện ở việc tham gia vào quá trình xét xử tại phiên tòa như: yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án… Còn các đương sự không có quyền xét hỏi mà có chỉ quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm, được trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa như trên là chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào Tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai Hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì Hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Mặt khác, việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Ngoài ra, trên thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp “chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn. “Tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán báo cáo… án, việc xét xử có chủ định, bàn bạc từ trước. Vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức và “một số Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa coi phiên tòa chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trưóc rồi, quyết định của tập thể Thẩm phán ở tại, của cấp uỷ hoặc của Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, “chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghiã vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa” và cũng không ít trường hợp “Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

Do đó đã đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định lại theo hướng bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình trong tố tụng dân sự. Để đạt được mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của vụ án: “Tòa án sẽ thực sự đóng vai trò trọng tài nếu không phải tự đi thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự cung cấp. Điều này có nghĩa là nếu đương sự (hoặc tự mình hoặc có luật sư giúp đỡ) không xuất trình được chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.

Vì vậy, để thực hiện đúng định hướng như Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đề ra: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”, nên bỏ thủ tục xét hỏi, các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn Tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau:

Sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

¨ Dưới sự hướng dẫn của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày công khai tại phiên tòa nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của mình. Tiếp đó, các đương sự, những người tham gia tố tụng khác (người đại diện hoặc luật sư của họ) trình bày các yêu cầu cụ thể của mình.

¨ Để chứng minh cho các yêu cầu của mình nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lý lẽ, viện dẫn các quy định của pháp luật. (Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện Viện kiểm sát, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý).

¨ Bị đơn, người đại diện của bị đơn hoặc luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), các căn cứ pháp lý trên cơ sở đó đưa ra lập luận, lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của phía nguyên đơn.

¨ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc luật sư của họ cũng dựa vào chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với những người làm chứng khi khai báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đương sự, người đại diện của đương sự hoặc luật sư của đương sự phía bên kia.

Trong quá trình tranh luận giữa những người tham gia tố tụng, nếu có điểm nào chưa rõ thì Hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì họ có quyền đối đáp lại.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về các quy định của PLTTGQCVADS về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Mong rằng các ý kiến này được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.


(1) Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Xem: Lương Duy, “Thực tiễn tiến hành phiên tòa dân sự và một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật số 7/1998, tr. 10

Xem: Lạc Thảo, “án tại hồ sơ – Quan niệm không còn phù hợp”, Báo pháp luật ngày 12/3/2002, tr. 3

5) Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, NXB Pháp lý năm 1990, tr. 81.

Nguyễn quang Lộc (2002), “Luật sư dưới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số2/2002), tr. 27.

Xem: Thu Tâm, “Để luật sư có vai trò đích thực”, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002, tr. 7.

) Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH (RẤT MONG ĐƠN VỊ PHÁT HÀNH VÀ TÁC GIẢ THÔNG CẢM)

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+THU+H%C3%80%22

XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

ở phiên tòa, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo một trình tự nhất định bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng;

2. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm”.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại Điều 51 PLTTGQCVADS được thực hiện như sau: “1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Như vậy, theo quy định của các Điều luật đó thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục tranh luận. ở thủ tục xét hỏi Hội đồng xét xử đặt câu hỏi và nghe những người tham gia tố tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án. ở thủ tục tranh luận đương sự, những người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến về chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử thẩm tra các chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các tình tiết của vụ án. Thông qua tranh luận Hội đồng xét xử nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự , quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những quy định về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chúng ta có thể thấy đây là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của Thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa thẩm phán giữ vai trò chủ động, tích cực. Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Vai trò tích cực và chủ động của Thẩm phán còn được thể hiện ở việc tham gia vào quá trình xét xử tại phiên tòa như: yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án… Còn các đương sự không có quyền xét hỏi mà có chỉ quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm, được trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa như trên là chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào Tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai Hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì Hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Mặt khác, việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Ngoài ra, trên thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp “chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn. “Tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán báo cáo… án, việc xét xử có chủ định, bàn bạc từ trước. Vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức và “một số Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa coi phiên tòa chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trưóc rồi, quyết định của tập thể Thẩm phán ở tại, của cấp uỷ hoặc của Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, “chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghiã vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa” và cũng không ít trường hợp “Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

Do đó đã đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định lại theo hướng bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình trong tố tụng dân sự. Để đạt được mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của vụ án: “Tòa án sẽ thực sự đóng vai trò trọng tài nếu không phải tự đi thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự cung cấp. Điều này có nghĩa là nếu đương sự (hoặc tự mình hoặc có luật sư giúp đỡ) không xuất trình được chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.

Vì vậy, để thực hiện đúng định hướng như Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đề ra: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”, nên bỏ thủ tục xét hỏi, các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn Tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau:

Sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

¨ Dưới sự hướng dẫn của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày công khai tại phiên tòa nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của mình. Tiếp đó, các đương sự, những người tham gia tố tụng khác (người đại diện hoặc luật sư của họ) trình bày các yêu cầu cụ thể của mình.

¨ Để chứng minh cho các yêu cầu của mình nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lý lẽ, viện dẫn các quy định của pháp luật. (Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện Viện kiểm sát, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý).

¨ Bị đơn, người đại diện của bị đơn hoặc luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), các căn cứ pháp lý trên cơ sở đó đưa ra lập luận, lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của phía nguyên đơn.

¨ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc luật sư của họ cũng dựa vào chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với những người làm chứng khi khai báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đương sự, người đại diện của đương sự hoặc luật sư của đương sự phía bên kia.

Trong quá trình tranh luận giữa những người tham gia tố tụng, nếu có điểm nào chưa rõ thì Hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì họ có quyền đối đáp lại.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về các quy định của PLTTGQCVADS về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Mong rằng các ý kiến này được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.


(1) Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Xem: Lương Duy, “Thực tiễn tiến hành phiên tòa dân sự và một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật số 7/1998, tr. 10

Xem: Lạc Thảo, “án tại hồ sơ – Quan niệm không còn phù hợp”, Báo pháp luật ngày 12/3/2002, tr. 3

5) Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, NXB Pháp lý năm 1990, tr. 81.

Nguyễn quang Lộc (2002), “Luật sư dưới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số2/2002), tr. 27.

Xem: Thu Tâm, “Để luật sư có vai trò đích thực”, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002, tr. 7.

) Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH (RẤT MONG ĐƠN VỊ PHÁT HÀNH VÀ TÁC GIẢ THÔNG CẢM)

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+THU+H%C3%80%22

BÀI BIỆN HỘ CHO ÔNG CHÁNH ÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Giống như các chàng công tử quý phái thời La Mã cổ đại khi thấy những người thứ dân bị xét xử ở tòa, họ đã tình nguyện vào biện hộ không đòi chi phí; từ đó tạo nên nghề luật sư, và tiền trả cho luật sư được gọi là thù lao. Tôi không phải là quý tộc, ông Chánh án Tòa tối cao cũng chẳng phải là thứ dân; ông cũng chẳng khiến tôi làm; nhưng khi thấy ông bị Quốc hội chất vấn thì “máu nghề nghiệp” của tôi nổi lên và tôi xin nộp bản biện hộ này lên công luận để bênh vực cho ông. Vì thực sự là Ông Chánh án không hề nhờ tôi; nên tôi xin quý vị đang đọc giả vờ làm đại biểu để tôi có thể làm công việc của mình. Nếu Viện Kiểm sát có bản cáo trạng thì- là luật sư – tôi có bản biện minh trạng cho thân chủ của mình. Và nó như thế này.

Trong cuộc chất vấn, thân chủ chúng tôi đã được yêu cầu giải trình chín vấn đề: năm vấn đề liên quan đến nền tảng hệ thống tư pháp; bốn vấn đề mang tính vụ việc. Năm vấn đề đầu có thể rút lại còn ba là: bản án bị sửa và oan sai; dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết; duyệt án cùng tiền lệ của vụ Đồ Sơn. Cái gì là nền tảng thì sẽ lâu dài, từ xưa để lại và sau này vẫn còn. Cái gì là vụ việc thì sẽ ngắn, giải quyết xong thì hết. Ở đây tôi xin biện hộ cho thân chủ chúng tôi về các vấn đề có tính nền tảng còn xin để các vấn đề kia cho các đồng nghiệp khác.

1. Tổng quát

Đối với các vấn đề có tính chất là từ xưa để lại và sau này vẫn còn thì thân chủ chúng tôi mới tại chức trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi được quý vị tin tưởng và bổ nhiệm vào chức vụ hiện thời thì tình cảnh của thân chủ tôi giống như một người được cho vào ở một căn nhà xây đã lâu, về mỹ thuật thì nó rất đẹp, không nước nào có; nhưng về kỹ thuật thì thuộc loại tồi. Chính cái tính chất sau của nó mà nay khi nó bị mưa to gió lớn đánh vào, quý vị sốt ruột với thân chủ chúng tôi, chủ nhân căn nhà.

Với năm vấn đề mà quý vị đã nêu thì căn nhà kia giống như đang bị dột. Quả thật nó đang bị dột! Căn nhà bị dột thì thân chủ chúng tôi gánh chịu hậu quả ngay! Ấy là sự chất vấn của quý vị. Thế nhưng căn nhà kia không phải do thân chủ chúng tôi xây lên. Do đó, việc nó bị dột không phải lỗi của thân chủ chúng tôi. Từ quan niệm, kiểu thiết kế, đến lối xây dựng căn nhà đó, tất cả do những người trước để lại; mà những người trước ấy chính là các vị tiền nhiệm của quý vị. Họ đã thiết lập khi bỏ phiếu biểu quyết tán đồng, mà thường là 90% hay hơn. Căn nhà ấy đã được xây dựng với một nhiệt tình cách mạng; trong đó nhà nước nắm tất cả, và ban phát tất cả cho dân chúng như ước nguyện của họ. Làm như thế là để thiết lập một chế độ chính trị vạn lần đẹp hơn tất cả những cái đã có trong lịch sử trước kia. Do vậy, khi thiết kế căn nhà các kiến trúc sư đã không hề xem đến kinh nghiệm đã có hàng trăm năm nay của các hệ thống tư pháp khác vốn cũng đã trải qua những khó khăn như chúng ta và đã tìm ra giải pháp, tuy chúng mang tính tương đối nhưng mọi người bị buộc phải chấp nhận; nhờ thế nó tạo nên trật tự trong cuộc sống xã hội. Chúng ta chê bai tính tương đối của các hệ thống kia, cho rằng chúng thiếu tính triệt để và đã xây căn nhà của mình với mục đích đạt đến cái tuyệt đối vốn không có trên thế gian này: theo đuổi công lýý đến cùng! Do vậy căn nhà kia… bị dột! Và quý vị đang buộc thân chủ chúng tôi phải chịu trách nhiệm!

Do sự công bằng mà chúng ta theo đuổi, nên chăng thân chủ chúng tôi phải được đánh giá theo quan điểm (i) có nhận ra các điều trên không; (ii) đã chữa được đến đâu; chứ không phải theo quan điểm: tại sao, trách nhiệm thế nào và đến đâu?

Chúng tôi cho rằng thân chủ của chúng tôi phải được xem xét một cách công bằng hơn; bởi vì nhiều công việc chúng ta đang làm hiện nay và sau này, trong một số lãnh vực nào đó – trong đó có tư pháp – chỉ là sửa chữa những hậu quả để lại của nhiều thế hệ trước kia. Họ đã thực hiện công việc của mình dựa trên những qui luật rút ra từ kết quả của những cuộc nghiên cứu khoa học, công phu, theo một diện rộng và trải qua nhiều thời đại. Tuy nhiên họ đã không nhận ra được rằng đấy là quy luật rút ra từ những người đã chết và khi biến chúng thành luật pháp áp dụng cho từng cá nhân đang sống thì người sau không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp hành. Người đang sống không thể làm theo cách làm của người đã chết. Họ có thể theo gương về mặt tinh thần; nhưng không thể hành động theo khuôn khổ của người đã chết mà nay qui định thành “pháp lệnh” và bị chế tài. Mục đích việc làm không xấu, nhưng nó không khả thi và bây giờ để lại nhiều hậu quả, đặc biệt là về tâm lý. Vậy bây giờ chúng ta tất cả cần nhận ra điều này để cùng bắt tay sửa chữa trong địa vị, hoàn cảnh và khả năng của mình; chứ không phải tìm cách đổ tội cho ai đó. Nói đến đây, chúng tôi nghĩ đến những người đã từng thực hiện các việc kia; nay đứng ngoài chỉ trích làm như mình vô can! Thật đáng khen ngợi!

Vậy khi đặt ra trách nhiệm ấy cho thân chủ chúng tôi, thì nên chăng quý vị cũng đặt ra trách nhiệm cho chính mình rằng phải làm gì để giúp đỡ những người như thân chủ chúng tôi hầu họ có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiệm vụ của họ. Phải chăng quý vị chỉ quy trách để có thể nói với cử tri: “Vâng chúng tôi có nói rồi”; nghĩa là chỉ làm để cho nồi xúp de xì hơi an toàn rồi đâu vẫn vào đấy? Để không miên man trong phần tổng quát, chúng tôi xin đi vào các vấn đề cụ thể, phụ thêm cho những gì thân chủ chúng tôi đã trình bày.

2. Bản án bị sửa và oan sai

Bản án bị sửa và oan sai là do trình độ của thẩm phán. Vâng đúng vậy. Việc này liên quan đến: sự tuyển chọn thẩm phán, trình độ thẩm phán và sự trợ giúp thẩm phán nâng cao trình độ theo một cơ chế tự động và nội tại. Ba công việc này hiện nay ra sao? Chúng ta hãy nhìn vào sự thật. Vì nếu chúng chưa được giải quyết thì với việc phải “đôn” lái xe và đánh máy lên làm thẩm phán, dẫu có nói là “vơ vét” hay không cũng chỉ là từ ngữ sử dụng, râu ria của vấn đề.

a. Sự tuyển chọn thẩm phán

Mọi người trong ngành tư pháp đều biết hai sự kiện. Một là sinh viên tốt nghiệp thi vào làm thư ký tòa án thì phải mất khoảng bảy năm và phải vào Đảng mới đủ điều kiện làm thẩm phán. Hai là việc cho vào Đảng là quyết định của từng chi bộ tại các địa phương.
Thân chủ chúng tôi có thể làm gì trước hai thực tế này? Quý vị sẽ làm gì để khắc phục nếu không “vơ vét” như thân chủ chúng tôi?

b. Trình độ thẩm phán

Trừ một số do hoàn cảnh lịch sử để lại, các thẩm phán đều được đào tạo cơ bản ở các trường đại học luật. Kiến thức được trường luật trang bị sẽ giúp họ hành nghề sau này và mức độ trở nên thành thạo lâu hay chóng cũng tùy thuộc số kiến thức ấy. Điều này khiến chúng ta xem đến phương thức đào tạo sinh viên ở các trường luật.

Các vị đã thấy ngay từ khi thành lập, các trường đại học chuyên nghiệp đều do các bộ lập ra và nắm giữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nắm các trường đại học thuộc ngành nghệ thuật tự do (nhân văn, khoa học tự nhiên…). Sự kiện này cho thấy các trường đại học đào tạo sinh viên là để phục vụ mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của nhà nước. Do đó trong một thời gian dài sinh viên tốt nghiệp ra trường là làm cán bộ, công chức nhà nước hay vào các xí nghiệp quốc doanh. Trường luật không đi ra ngoài khuôn khổ này. Sinh viên luật được đào tạo để trở thành cán bộ hay công chức nhà nước; công việc của họ là viết luật cho dân chúng áp dụng. Họ phục vụ nhà nước. Dùng hình ảnh mô tả thì học xong “họ nhìn lên” nhà nước. Vì là người sẽ viết ra các “quy phạm pháp luật” nên luật trang bị cho họ được giảng dạy theo cách tại sao. Vậy họ được học “luật tại sao”. Và để trả lời người ta hướng họ về triết học. Luật trang bị cho sinh viên mang tính triết học và nó được gọi là “khoa học pháp lý”, rất nặng về câu chữ và lý luận. Khi quy về triết học thì không ai được đi ra ngoài các nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa. Và để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối, luật được giải thích là công cụ của chính trị, việc áp dụng nó thuộc về chủ quyền quốc gia. Khi tranh luận về luật, vấn đề quan điểm, lập trường luôn luôn được đặt nặng; người ta có khuynh hướng gạt bỏ những lập luận trái ngược rồi tự thưởng cho mình bằng cách kênh kiệu.

Tuy nhiên cuộc sống không phải do triết học thống lĩnh. Luật sở dĩ có vì nó cần thiết cho trật tự xã hội. Do đó, luật là để phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Nhà nước ban hành luật là để cho công dân áp dụng. Công dân áp dụng luật thì phải biết nó thế nào. Họ cần “luật thế nào”. Trong một quốc gia, về số lượng, thành phần nhà nước rất nhỏ so với thành phần dân chúng. Do đó sinh viên luật ra đời, để kiếm sống, họ phải phục vụ xã hội, phục vụ dân chúng. Ngay cả thẩm phán khi xét xử thì họ cũng phục vụ xã hội. Họ nói ai phải ai trái trong một cuộc tranh chấp đang diễn ra trước mặt họ theo luật pháp của quốc gia. Khi ấy, thẩm phán trực tiếp phục vụ xã hội, gián tiếp phục vụ nhà nước. Phục vụ xã hội thì bắt buộc “họ nhìn xuống” và phải biết “luật thế nào”. Trường luật đã trang bị cho họ “luật tại sao” và “họ nhìn lên”! Thẩm phán cũng vậy, luật sư cũng thế! Họ được đào tạo theo một đường; nhưng khi hành nghề thì phải làm theo một nẻo!

Vì chỉ được dạy “luật tại sao” nên sinh viên tốt nghiệp trường luật không có một ý niệm gì về một khả năng gọi là cách suy xét theo luật học (legal reasoning). Sự tài ba của thẩm phán và của luật sư nằm ở khả năng này. Đó là khả năng biết phân tích và tổng hợp sự việc đã xẩy ra (mà mình đang xem xét để quyết định đúng hay sai), rồi lần lượt chọn ra các mảng sự việc quan trọng, nhiều ít khác nhau, hầu đặt ra các câu hỏi, cuối cùng có câu trả lời rồi áp luật pháp vào. Từ đó mới có các quyết định thuyết phục được các bên can dự. Vâng, các bên chứ không phải nhà nước.

Khi muốn biết “luật thế nào” thì ngoài cách đặt câu hỏi theo phương pháp đã nêu thì thẩm phán phải biết với những câu hỏi tương tự thì người đi trước đã giải quyết như thế nào. Vậy là phải có nhiều kinh nghiệm của người xưa truyền lại; trong luật người ta gọi là án lệ. Trong hệ thống giảng dậy luật pháp của ta, hai thứ này không có! Trình độ thẩm phán, trong những năm đầu, gây ra bởi những sự thiếu vắng này. Vậy trình độ của thẩm phán có phải hoàn toàn là trách nhiệm của thân chủ chúng tôi không?

c. Cơ chế tự động giúp thẩm phán nâng cao khả năng

Tự một mình mình, thẩm phán không thể nâng cao khả năng. Đó là sự thật giống như một học sinh không có bạn. Thẩm phán phải được hỗ trợ. Trong một vụ án hình, thẩm phán được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích trái ngược nhau: kiểm sát viên và luật sư của bị cáo. Trong một vụ dân sự thẩm phán cũng được trợ giúp bởi hai bên có lợi ích khác nhau nhưng đều là luật sư. Chính khi nghe hai ý kiến khác nhau, thẩm phán xem xét và quyết định. Hệ thống tòa án chúng ta được khởi đầu bằng các vụ xử hình sự. Ở đó công lý được bảo đảm bằng một cơ cấu “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” do ba đơn vị thực hiện là công an, viện kiểm sát và tòa án. Ba đơn vị khác nhau thật, nhưng rất tiếc chúng cùng một gốc: tất cả đều là cơ quan nhà nước chưa nói đến chuyện họ cùng ở trong Ban Nội chính của một địa phương. Do đó oan sai đã xẩy ra. Phải có một đơn vị khác gốc thì mới thực sự có sự “ước chế và kiểm soát lẫn nhau” hữu hiệu. Pháp lệnh luật sư ở ta chỉ mới có từ năm 1987. Nhưng họ được đối xử ra sao?

Thứ nữa, các bản án của tòa không được công bố rộng rãi. Điều này làm cho sinh viên luật muốn học thực tế, muốn tạo khả năng suy luận cũng không có phương tiện. Vì không phổ biến rộng rãi bản án; nên thẩm phán có thể viết “ý kiến luật sư không xác đáng” mà không sợ luật sư phản đối; họ cũng chẳng phải lo rằng lý lẽ của mình sẽ bị đem ra công luận để mà chau chuốt câu văn, lập luận rõ ràng. Họ thiếu cả áp lực lẫn sự kích thích để phải tuyên các bản án rõ ràng với lý luận sắc bén.

Thiếu kích thích nằm ở chỗ nhiệm kỳ năm năm của họ. Một thẩm phán muốn tự mình nâng cao khả năng thì cần một thời gian dài. Thẩm phán có còn cố gắng chăng trước câu hỏi: “liệu có được bổ nhiệm kỳ sau không?” Chân thiện mỹ là một cái gì lâu dài và phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Năm năm một lần không phải là một thời gian dài. Nó dành cho các chức vụ chính trị để tránh sự lạm dụng quyền hành và khuyến khích thay đổi trong các biện pháp đề ra. Tính chất của luật pháp khác hẳn. Nó phải tạo ra sự ổn định và tiên đoán được; do dó nó cần bền vững và có biểu tượng của sự bền vững để hôm nay khi nhìn lại hôm qua mọi người biết về ngày mai. Thẩm phán là biểu hiện của sự bền vững đó. Nhiệm kỳ năm năm là không phù hợp cho cố gắng muốn nâng cao khả năng mình của thẩm phán cũng như cho biểu hiện về sự bền vững của tòa án. Có sự nhầm lẫn về bản chất giữa chính trị và tư pháp.

3. Dân kêu oan mà Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết

Vấn đề này liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự nhiều hơn là hình sự; bởi vì đa số các vụ hình sự đều trở thành chung quyết tại cấp phúc thẩm; chỉ có các vụ dân sự mới lên tới tòa tối cao.

Nói đến việc tòa án nhân dân tối cao có giải quyết hay không việc kêu oan của dân chúng thì phải nhìn vấn đề trong một tổng thể. Thứ nhất là việc xét xử ở cấp sơ thẩm rồi phúc thẩm; vì nếu hai cấp này đã giải quyết công minh vụ việc thì không cần phải đưa cấp tối cao. Thứ hai là bằng chứng vì việc xét xử ở các phiên tòa thực sự là việc xem xét bằng chứng mà các bên nêu ra để dựa trên đó luật được áp dụng và bản án được tuyên.

a. Việc xét xử ở các cấp tòa

Trong một vụ án có hai vấn đề tòa phải xem xét để ra bản án. Lấy một vụ đi vay tiền để nói cho dễ hiểu. A nói với B cho vay 5 tỉ và hẹn sau một năm sẽ trả lại. Nếu A không trả nợ hết mà bị đưa ra tòa thì ở đây có hai vấn đề: (i) việc đưa tiền cho vay và trả nợ và (ii) sự cam kết sẽ trả lại. Vấn đề (i) là sự kiện, còn (ii) là pháp lý. Vấn đề (i) liên quan đến bằng chứng, là đi tìm sự thật; vấn đề (ii) liên quan đến khả năng lập luận của thẩm phán để áp dụng luật có liên quan. Để bảo đảm sự công minh một vụ án được xét lần đầu tại cấp sơ thẩm; nếu bên nào không thích bản án sơ thẩm thì có quyền đem nội vụ lên cấp phúc thẩm rồi sau đó cấp tối cao.

Khi có hai vấn đề phải xem xét trong một vụ và ở các cấp tòa khác nhau thì luật tố tụng ấn định tòa các cấp sẽ xét xử cả hai vấn đề như nhau hay mỗi cấp chú trọng từng vấn đề khác nhau. Nghĩa là các tòa sẽ xét xử trùng nhau hay không. Do luật lệ về bằng chứng sẽ đề cập sau này tòa án ở chúng ta xem xét trùng lập ở cả ba cấp vì chúng ta coi trọng “sự thật khách quan”. Do cả ba cấp làm trùng nhau nên hiện nay việc xét xử các vụ dân sự của ta không có điểm dừng. Hệ thống ba cấp giống như cái thang có ba bậc, các bên tranh chấp có thể leo lên đến bậc cao nhất rồi lại xuống bậc thấp nhất rồi lại đi lên tiếp! Có vụ kéo dài đến cả chục năm. Bởi thế, sự hữu hiệu của hệ thống tòa án ta kém; niềm tin của dân chúng vào tòa án thấp. Khi thấy tòa xử kéo dài một vụ xù nợ, một người hàng xóm sẽ rút ra kết luận rằng cứ đi vay rồi xù cũng chẳng sao; tức là khi không sợ quyền uy của tòa án thì người ta lại càng hay làm sai rồi lại càng đưa ra tòa xử. Thủ tục tố tụng như thế này khuyến khích sự sai trái và làm tòa án bị tràn ngập công việc; tòa càng bị càng trở nên kém hữu hiệu. Do vậy mới có đề nghị – về mặt thủ tục là – tòa án tối cao không nên xem xét bằng chứng mới; nghĩa là không xử các việc mà dân chúng kêu oan. Khi nghe đề nghị như thế thì thân chủ chúng tôi cũng đã xem xét thấu đáo thủ tục xét xử ở các nước khác. Ở đó luật tố tụng của họ cho tòa phúc thẩm không xem xét bằng chứng mới; còn cấp tối cao chỉ xét xử khi quyết định của tòa phúc thẩm không đúng với hiến pháp.

Có vị đại biểu đã tuyên bố phải để cho dân kiện lên đến tòa tối cao hầu bảo đảm quyền khiếu nại của họ. Quyền ấy là cao nhất. Khi nói như thế vị đại biểu ấy đã cố thiết lập “sự tuyệt đối” trên thế gian này! Buộc cả ba cấp tòa phải xử như nhau. Điều mà đã gây ra sự thiếu kính trọng đối với tòa án, biểu tượng của quyền uy của quốc gia hiện nay. Chúng ta hãy xem ở các hệ thống pháp luật khác người ta làm như thế nào và họ có bảo vệ “quyền cao nhất” của người dân hay không?

Trong các hệ thống pháp luật khác – thông luật của Anh, Mỹ; dân luật của Pháp, Đức – luật tố tụng của họ quy định (qua văn bản hay tập tục) tòa sơ thẩm xem xét các vấn đề pháp lý lẫn sự kiện và tuyên án; nếu một trong hai bên kháng cáo thì tòa phúc thẩm chỉ xem các vấn đề pháp lý của bản án đã tuyên. Rất hiếm khi tòa phúc thẩm xem chứng cứ mới vì coi rằng tòa sơ thẩm đã làm đủ và đúng theo luật. Để làm việc ấy, luật tố tụng dân sự của họ được xây dựng trên hai nền tảng chính liên quan đến bằng chứng.

b. Luật về bằng chứng

Luật của ta chỉ liệt kê các loại chứng cứ mà không ấn định loại nào có giá trị hơn loại nào và để cho tòa thẩm định. Vì thế, luật mới sợ tòa dưới thẩm định sai và cho tòa trên được xem xét lại, không sợ trùng việc vì nguyên lý nền tảng là “sự thật khách quan”.
Ở Pháp hay Mỹ họ có luật về mức độ tin cậy của bằng chứng. Ở Pháp công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư (vì thế mới có công chứng viên). Ở Mỹ bằng chứng có giá trị phải là bằng chứng có liên quan (relevant), chứ không phải là của bất cứ ai (hearsay), hay của những ai được phép không phải tiết lộ (privileged). Để ý ta thấy luật của họ lấy bằng chứng (một sự kiện vật chất) làm nền tảng; còn chúng ta lấy sự thẩm định của thẩm phán làm gốc; (tức là lấy con người). Vì bằng chứng là nền tảng nên luật tố tụng của Mỹ cho phép hai bên “đào bới” bằng chứng. Nguyên đơn có thể xin tòa buộc bị đơn phải trưng ra bằng chứng dẫu bất lợi cho mình. Họ không cho giấu bằng chứng. Luật của Pháp cho xét xử bằng giấy tờ; nghĩa là thẩm phán dựa theo các bản lý đoán của hai bên mà quyết. Mỗi bên cứ nêu bằng chứng và lập luận lên tòa; qua luật sư, họ phải gửi bản sao cho bên kia xem. Bên kia sẽ trả lời, nêu bằng chứng khác để đánh đổ lập luận vừa nhận. Cứ việc “lời qua tiếng lại” đến khi không còn gì nói nữa thì hai bên xin tòa nghị án. Thẩm phán không tác động gì trong quá trình này. Bên nào đưa bằng chứng thiếu thì ráng mà chịu.

Như thế nghĩa là luật của cả hai hệ thống buộc các bên phải trưng ra hết mọi bằng chứng ở cấp sơ thẩm; các bên chủ động đẩy diễn tiến phiên tòa; thấy đủ hết rồi mới xin tòa xử. Vậy khi tòa đã xử thì không thể kêu ca nữa về bằng chứng, về “sự thật” đã đưa ra. Kháng cáo lên tòa trên là chỉ phàn nàn về cách lập luận của chánh án; tức là xin xem xét các vấn đề pháp lý để tăng hay giảm hình phạt.

Luật tố tụng của chúng ta để chánh án chủ động trong xét xử, lại không đặt ra mức độ tin tưởng của chứng cứ; chỉ nhấn mạnh “sự thật khách quan” và để cho lòng người xác định; nên mới xẩy ra những gì chúng ta đã thấy. Lịch sử phát triển của nền tư pháp trên thế giới cho thấy chính người dân tranh chấp trước, họ đến xin tòa giải quyết cho họ. Ở thế đó, tòa để cho hai bên chủ động; giúp họ tìm bằng chứng, chứ không đi lấy hộ; ai có bằng chứng “thật hơn” thì tòa dựa vào đó và sẽ lập luận. Nếu hai bên làm sai từ đầu (thí dụ hợp đồng vô hiệu) thì tòa bảo “không cưỡng chế thi hành được” (unenforceable). Và hai bên về tự giải quyết lấy, ai làm bạo thì đã có luật hình. Như là một quy luật tâm lý, khi phải tự xử mình lúc làm sai, thì người ta sẽ tìm cách làm đúng ngay từ đầu.

Luật pháp của chúng ta làm ngược lại, giao cho tòa án sứ mạng bảo vệ quyền lợi của công dân; buộc thẩm phán phải chủ động. Hễ cứ có việc gì xẩy ra, anh Việt kiều lừa tiền, lừa tình chẳng hạn, thì dư luận đặt ngay câu hỏi: cơ quan nào có trách nhiệm, ai quản lý! Ít ai bảo: “Anh, chính anh phải chịu trách nhiệm, anh phải tự quản lý anh.” Cá nhân nào cũng sợ “làm mất lòng người khác” nên bán cái cho xã hội. Xem như thế những vấn đề tiềm ẩn trong hệ thống luật pháp của chúng ta còn liên quan đến nhận thức.

c. Uy lực của bản án đã xử

Luật pháp phải có tác dụng là bảo cho công dân biết; (i) nếu anh làm như thế thì (ii) anh sẽ bị đối xử như vậy, như vậy”. Vế (i) giúp người dân ổn định, vế (ii) giúp họ tiên đoán được. Sự tiên đoán kia phải dựa trên thực tế tức là các quyết định tòa án đã ra; vì giữa cách đối xử mà luật định và biện pháp tòa án đưa ra có khác nhau (do có xét đến hoàn cảnh cụ thể). Để giúp cho luật pháp tiên đoán được, các hệ thống khác đặt ra nguyên tắc là đối với các vụ án có cùng một tính chất thì kết quả của vụ án trước ràng buộc vụ án sau. Cùng nguyên tắc nhưng kỹ thuật sử dụng của mỗi hệ thống khác nhau. Bên thông luật gọi một bản án chung thẩm là tiền lệ (precedence); dân luật gọi là án lệ (jurisprudence). Tòa sơ thẩm ở Anh, Mỹ khi xử bị bắt buộc phải tra cứu và áp dụng tiền lệ. Tòa sơ thẩm ở Pháp không bị buộc phải tuân theo án lệ, nhưng khi bản án bị kháng cáo thì tòa phúc thẩm sẽ dẫn án lệ. Vậy, tòa dưới “chẳng dại gì” mà không tuân theo án lệ.

Cách sử dụng tiền lệ, tra cứu án lệ, tạo nên một sự hơi khác biệt trong cách thức áp luật vào sự kiện của các thẩm phán ở hai hệ thống kia; nhưng cả hai đều giống nhau trong phương pháp suy luận khi phân tích sự kiện. Đó là tài năng của thẩm phán. Và ở hai cấp tòa thì trình độ này khác nhau; cho nên vấn đề pháp lý được tòa phúc thẩm xem xét khi bản án bị kháng cáo và chỉ vấn đề này.

Chính trên cái tổng thể này mà tòa phúc thẩm ở các hệ thống khác họ không xem xét chứng cứ mới; hoặc có thì rất ít. Chính nhờ vào (i) tín lực của bằng chứng và cách buộc đưa ra nó; (ii) quyền của tòa bác hay nhận; (iii) án lệ; và (iv) xét lại khả năng lập luận của thẩm phán ở tòa dưới (tức là vấn đề pháp lý của nội vụ) nên ở họ không có chuyện “án dân sự xử kiểu nào cũng được”. Tòa án có uy. Dân nghĩ đến tòa án là đã sợ; nên ngần ngại nuốt lời đối với gì mình đã cam kết.

Các nước phát triển – mà luật pháp của họ được coi là một nguồn gốc của luật quốc tế – họ làm như thế. Nếu thân chủ chúng tôi có nêu vấn đề lên ở đâu đó thì có phải là một cái lỗi hay không? Chúng ta có nên tiếp tục thiết lập sự tuyệt đối trong hệ thống tòa án của chúng ta không, sau bao nhiêu hậu quả của nó đã thấy?

Gần đây trong báo giới có bàn về câu hỏi tòa phúc thẩm có xem xét chứng cớ mới hay không; tức là một vấn đề cũng giống như chúng tôi đang biện hộ cho thân chủ ở đây. Có các câu trả lời khác nhau đã được đưa ra. Người bảo có và lý do là để “tìm ra sự thật khách quan nhất”. Nguời bảo không thì nói rằng đó là để tránh sự “không công bằng” và xóa “áp lực sổ đen” cho thẩm phán.

Thưa qúy vị, vai trò của hệ thống xét xử không phải là để làm việc ấy. Vai trò của tòa án là bảo đảm niềm tin của công dân vào chế độ; là duy trì chế độ; là bảo đảm sự ổn định và tiên đoán được của luật pháp, hầu tạo sự an tâm cho công dân, khuyến khích họ làm đúng qua đó phát triển sự lương thiện trong xã hội. Đấy mới là nguyên lý của hoạt động xét xử.
Khi thiết lập hệ thống tư pháp chúng ta hầu như không để ý đến nguyên lý này vì chúng ta khởi đầu từ tòa án nhân dân, xét xử những vụ hình sự; mãi sau này mới xét những vụ dân sự; nên ta đã đem những nguyên tắc xét xử của hình sự sang dân sự vốn khác tính chất. Mối quan tâm chính khi xử một vụ hình là chấm dứt tội phạm, răn đe người khác, và phạm nhân đi tù. Đó là những mục tiêu ngắn hạn và tác động của nó lan tỏa không rộng; vì không phải ai cũng muốn vi phạm hình sự. Trái lại tác động của một bản án dân sự lan tỏa rộng, do đó nó kéo dài. Bởi vì hành vi dân sự (vay nợ) hay việc dân sự (sinh con) chính là cuộc sống, và ai cũng phải sống. Vay tiền thì ai cũng có một hai lần làm trong cuộc đời mình. Một bản án dân sự bênh con nợ sẽ khuyến khích người dân xù nợ, và việc này rất dễ lan rộng vì nó có lợi nếu làm. Khi người đi vay xù nợ thì người có tiền sẽ không muốn cho vay, tiền của người sau biến thành vàng chôn dưới đất. Nền kinh tế thiếu tiền mặt thì làm sao phát triển?

Ưu tư của thân chủ chúng tôi là vào những vấn đề này chứ không phải “quyền cao nhất” của dân chúng; khi nhìn sang các hệ thống khác mà người ta đã có cách giải quyết.

4. Duyệt án – Vụ Đồ Sơn

Hai vấn đề này là những thứ nằm tiềm tàng từ lâu trong hệ thống tòa án của ta. Vấn đề đầu thân chủ chúng tôi đã phát biểu tại diễn đàn Quốc hội. Về vấn đề sau thì nó không phải chỉ mới xuất hiện trong thời gian nhiệm chức của thân chủ chúng tôi. Nó là những gì thuộc về tính chất của ngôi nhà.

Tòa án có thực sự độc lập không? Chúng ta phải xem, phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới thấy hết vấn đề được. Nguyên tắc độc lập xét xử luôn được khẳng định; chỉ có điều ta có muốn làm hay không. Đồ Sơn là một bài học rất lớn mà báo chí đã nói thay ngành tòa án. Thân chủ chúng tôi ủng hộ việc lên tiếng của báo chí. Phải để cho cơ quan tư pháp độc lập. Quý vị có thể nói rằng pháp luật qui định độc lập thế rồi, sao tòa án không độc lập? Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Khi một anh sống ở địa phương, quyền lợi gắn bó ở đó, bổ nhiệm, nhận xét, khen thưởng đều gắn với cấp ủy, chính quyền địa phương thì anh lựa chọn thế nào? Thưa quý vị phải nhìn thẳng vào sự thật chứ ạ!

Để kết thúc bài biện minh này, thì trách nhiêm thực sự mà thân chủ chúng tôi chịu, theo thiển ý, chỉ là nhận thức ra được tình hình của căn nhà đến đâu và đã sửa chữa nó được đến mức nào chứ không phải về những vấn đề nền tảng mà quý vị đã nêu vốn do tính chất bẩm sinh của căn nhà gây ra. Thân chủ chúng tôi nếu có sai sót chỉ là ở cách thức trình bày chứ không phải ở nội dung. Nhưng sau khi biết những gian truân của thân chủ chúng tôi khi ở trong căn nhà dột, hẳn quý vị cũng cảm thông với thân chủ chúng tôi và sẽ sẵn sàng giúp đỡ thân chủ chúng tôi trong cố gắng tân trang căn nhà. Đó là việc làm cần thiết của tất cả chúng ta cho tổ quốc thân yêu này: nhận ra vấn đề, cùng chung sức làm, thay vì quy trách.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

LƯƠNG TÂM NGƯỜI THẨM PHÁN

PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng, vì pháp luật của chúng ta chồng chéo, thiếu hụt, mâu thuẫn nên thẩm phán xứ kiểu gì cũng được. Để khắc phục hiện tượng này người thẩm phán phải có lương tâm và phải cỏ trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong các vụ việc xét xử phức tạp.

Vì luật của Quốc Hội ban hành cho nhiều trường hợp chú không thể cho từng trường hợp cụ thể. Thậm chí pháp luật có thể là tối nghĩa, và có thể là chồng chéo lên nhau. Nhưng người thẩm phán chỉ được xử theo một kiểu nhất định mà lương tâm, đạo đức thẩm phán của mình cho phép. Xử theo một kiểu khác đi là sai và cần phải xử lại.

1. Cơ sở của việc Tòa án phải xét xử theo lương tâm

Cơ sở của việc thẩm phán và các chức danh tư pháp khác phải xét xứ phải buộc tội theo lương tâm là ở chỗ các đạo luật cũng như những quy định của luật do các cơ quan lập pháp ban hành ra không thể dành riêng cho từng trường hợp cụ thể. Nhưng người thẩm phán cũng như người buộc tội, công tố uỷ viên, cũng như nhiều người phải cầm cân nẩy mực khác buộc phải áp dụng các điều khoản đó cho từng trường hợp cụ thể với đầy đủ các sự kiện pháp lý đi kèm của trường hợp. Sự áp dụng này phải mang tính chất sáng tạo, mà không rập khuôn một cách máy móc. Thế mới gọi là người thẩm phán với trí phán đoán của mình, mà không phải là một cái gì khác. Việc áp dụng luật của các thẩm phán là một hoạt động sáng tạo. Điều này thể hiện ở chỗ các thẩm phán và các chức danh tư pháp khác phải phân tích sự vật, sự kiện (sự kiện pháp lý) xảy ra, đồng thời phải phân tích luật, tìm quy phạm phù hợp ứng với trường hợp cần phải áp dụng. Chính việc biến các quy định của pháp luật được nhà nước quy định chung cho nhiều trường hợp để áp dụng cho một trường hợp cụ thể với những tình huống sự vật, sự kiện cụ thể với không gian thời gian nhất định của sự kiện, để đạt đúng mục đích yêu cầu của quy phạm chung đề ra là hoạt động sáng tạo của thẩm phán.

Ngược lại, nếu không là như vậy, tức là chỉ nhất nhất phải tuân theo một cách máy móc các quy định của luật, thì chi bằng hãy sáng tạo một loại máy, với những chương trình có sẵn có thể do các hành vi của con người theo các quy định của pháp luật, thì có lẽ là một trong những đảm bảo của sự công bằng và vô tư nhất khi thi hành các quy định của pháp luật.

Xét xử theo lương tâm của thẩm phán mới có thể lấp đi sự thô thiển, sự cứng nhắc của pháp luật dẫn đến nhiều trường hợp nếu áp dụng chúng không những không đạt được mục đích được đề ra của luật, mà còn gây ra một hậu quả không lường, đánh mất niềm tin vào Nhà nước và công lý của nhân dân, mà trước hết nhất là của những người phải chịu sự thi hành của pháp luật. Họ đang bị đứng trước một thử thách muôn vàn khó khăn, mà không có một sức lực nào của họ có thể ngang hàng với người đang thi hành công vụ của Nhà nước, chỉ còn chờ đợi ở tính công bằng, tính trách nhiệm và tính đạo đức của những người đang thay mặt cho công quyền mà thôi.

Cũng như các nghề khác, càng độc lập bao nhiêu, thẩm phán càng phải có lương tâm, càng phải có trách nhiệm bấy nhiêu. Việc thành lập ra một loại tòa án công bình ở hệ thống pháp luật Ănglôxắcxong (Common law) những thế kỷ XVI – XVIII trước đây của Anh, Mỹ, cũng không ngoài mục đích để tránh những sự bất công do hệ thống pháp luật cứng nhắc của họ gây ra:

“Một hệ thống nguyên tắc pháp lý mệnh danh là công bằng phát sinh bởi các quyết định của vị chưởng ấn trong trường hợp đương sự xin nhà Vua phúc thẩm các bản án, căn cứ vào luật thường, mà họ coi là bất công. Mọi hệ thống pháp luật tới một thời kỳ nào, cũng phải giải quyết vấn đề bảo vệ sự cứng rắn của pháp luật và đồng thời ngăn ngừa sự cứng rắn đó gây tác hại đến quyền lợi của cá nhân. Bên Anh vị Chưởng Ấn hành động thay mặt vua. Những nguyên tắc công bằng được ấn định rõ rệt và đã trở thành (khoảng giữa thế kỷ XIX), những nguyên tắc được áp đụng để bổ túc những khuyết điểm của luật thường và sửa chữa những sai lầm, vụng về do luật gây ra”.

Cho đến thế kỷ XIX, những Tòa án xử theo nguyên tắc công bằng khác biệt với Tòa án thường. Nhưng bằng những đạo luật về Tư pháp năm 1873 đến 1975 đã chấm dứt sự phân biệt giữa Tòa án thường, xử theo án lệ và Tòa án của vị Chưởng Ấn xử theo nguyên tắc công bằng, và quy định các Tòa án đều phải xét xử theo cả luật thường (án lệ) và luật theo nguyên tắc công bằng. Nếu có sự mâu thuẫn giữa luật thường và nguyên tắc công bằng, thì luật công bình sẽ thắng.

Cũng như một tấm Huy chương vậy, sự xét xử theo lương tâm của thẩm phán, cũng như của những người tiến hành tố tụng khác không có một định lượng nào có thể đó được. Do đó không ít những người đã chế diễu rằng luật công bình thay đổi theo chiều dài bàn chân của Viên Chưởng Ấn – người chuyên đi giải quyết các khiếu nại vì thiếu sự công bằng của các bản án theo quy định cứng nhắc của cá văn bản pháp luật.

Một khi thẩm phán xét xử theo lương tâm thì nguyên tắc độc lập chỉ tuân theo pháp luật có vấn đề không? Theo tôi trong trường hợp này không hề bị xâm phạm. Chính vì tuân theo pháp luật và độc lập đã cho phép thẩm phán và các chức danh tư pháp không áp dụng các điều khoản luật pháp một cách máy móc cho những trường hợp có thể dẫn đến hiệu quả xấu, chứ không phải là bản thân điều luật sai. Việc này có thể dẫn đến việc kháng nghị, kháng cáo của những người tham gia tố tụng, Tòa án phải xử lại theo thủ tục xét xử ở cấp cao hơn. Sở dĩ như vậy, vì lương tâm của thẩm phán không có gì để đo được còn sự kháng nghị, hay kháng cáo vẫn có cơ sở là các quy định của luật pháp.

Trong trường hợp này, nếu anh xét xử theo một lương tâm đúng, thì cho dù có xử lại đi chăng nữa, thì cũng phải y án, mà không thể có điều ngược lại. Việc này càng chứng tỏ lương tâm của thẩm phán là đúng, và uy tín của thẩm phán lại càng lên cao. Còn chuyện xử theo lương tâm sai, thì lại là một chuyện khác.

Làm nghề gì cũng đều chứa đựng một sự rủi ro nhất định. Thế mới gọi là nghề. Sự hy sinh vì nghề trong trường hợp cấp xét xử cao hơn nữa không công nhận cũng là chuyện dễ có thể xảy ra. Nhưng theo thời gian cái gì đúng rồi cũng phải được nhận ra.

3. Hai trường hợp cụ thể

Trường hợp 1:

Vào thế kỷ XIX, tại Pháp có một vụ án nổi tiếng là vụ cô Me’nard ăn cắp bánh mỳ. Cô Me’nard nghèo khổ có con nhưng không có chồng. Trong cơn túng quẫn vì quá đói, Me’nard đã đập vỡ kính một cửa hiệu và lấy cắp bánh mỳ, bị bắt đưa ra tòa. Vụ án được đưa ra tòa tiểu hình Château – Thierry xét xử chánh án Magnaud đã tha bổng Me’nard với lập luận như sau: “Thật đáng tiếc rằng, trong một xã hội được tổ chức chu đáo, lại có một thành viên của xã hội này nhất là người mẹ của một gia đình có thể thiếu bánh mỳ để ăn mà không phải do lỗi của chính mình, khi một trường hợp như vậy xảy ra và được xác định rõ như trường hợp của cô Me’nard, thẩm phán phải có nghĩa vụ giải thích một cách nhân đạo những quy định thiếu mềm dẻo của luật pháp, sự bần cùng và đói khát có thể làm cho con người mất đi một phần của tự do ý chí và cũng có thể trong một chửng mực nào đấy, làm giảm đi ở người này khái niệm về cái đúng, cái sai, một hành vi thông thường đáng trách cứ sẽ mất đi rất nhiều cái tính chất gian xảo khi người vi phạm chỉ hành động vì nhu cầu khẩn thiết phải tìm cho mình một miếng ăn thuộc nhu yếu phẩm hàng đầu, mà không có miếng ăn như vậy tự nhiên sẽ không giúp được việc tạo ra thể chất của chúng ta.

Tòa Thượng thẩm Amiens đã bảo thủ, không chấp nhận lập luận trên của Tòa sơ thẩm nhưng cũng phải tha bổng cho bị cáo Me’nard vì không có ý gian xảo trong vụ việc.

Trường hợp 2:

Trong bài ký sự pháp đình với cái tiêu đề là: “Trước số phận một con người” của tác giả Lâm Hạnh là một phóng viên pháp đình, đăng trên báo Pháp luật số ra ngày 16/10/2003 với một nội dung là:

Vì nể bạn mà Sinh viên Trần Thanh Giang, sinh viên khoa tại chức Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã bị Tòa án tuyên án phạt 7 năm tù giam, với tội danh “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong khi đó hai bạn của Giang bị phạt hành chính vì chỉ bị bắt lần đầu.

Ngay từ những dòng đầu tiên tác giả của bài viết đã nhấn mạnh: “Sau buổi xử tôi (tác giả bài ký sự) tìm gặp Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán Lê Thanh Bình. Anh nói giọng buồn buồn: Theo luật định, bị cáo Trần Thanh Giang có tội. Điều đáng buồn ở đây là thiếu hiểu biết về pháp luật, mà một Sinh viên chăm chỉ, giàu nghị lực đã phạm pháp. Nếu biết khung hình phạt của tội danh này cao như thế, chắc chắn Giang đã không cả nể bạn bè như vậy. Khi đọc hồ sơ, tôi đã thấy xót xa. Thú thực là chúng tôi không muốn xét xử phiên tòa này một chút nào. Phiên toà khiến bất cứ một người cầm cân nẩy mực nào cũng phải chua xót và càng xử chúng tôi càng thấy nghẹn ngào . Một câu chuyện thật thương tâm. Bảy năm tù dành cho một chàng trai trẻ, không chỉ cánh cửa Trường Đại học đóng lại, mà cuộc đời của Trần Thanh Giang đã bước sang một bước ngoặt mới, nhiều khó khăn…”.

Trong trường hợp này thẩm phán và các thành viên của Hội đồng đã không quyết định án theo lương tâm của mình. Nếu như thẩm phán Lê Thanh Bình cùng các thành viên Hội đồng xét xử được xử theo lương tâm và trách nhiệm của mình thì không thể nào có thể áp dụng khung hình phạt của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý đối với học sinh Trần Thanh Giang như vậy. Nhưng rất đáng tiếc lâu nay nguyên tắc này không được nhắc tới.

Sự khô khan của các quy định luật pháp thế hiện ở chỗ đó, sự cứng nhắc của luật pháp cũng nằm ở những chỗ như vậy. Hiện tượng này không những chỉ xảy ra ở nước ta, mà cũng xảy ra ở các nước phát triển khác. Khắc phục hiện tượng này như đã phân tích ở phần trên họ cũng phải sử dụng đến nguyên tắc lương tâm và trách nhiệm đạo đức của nghề thẩm phán.

Nhưng rất tiếc rằng vấn đề trên hầu như không được nêu trên thành một nguyên tắc trong việc hành nghề của luật, cho nên các thẩm phán cũng như các chức danh tư pháp khác không dám làm gì khác hơn là phải theo những điều quy định trong luật.

Theo Tạp chí Tia sáng

NHU CẦU LUẬT SƯ

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – WaShington DC

Luật sư không chỉ là một chuyên viên luật, mà còn phải là một partner (đối tác) của thân chủ trong các kế hoạch kinh tế thưong mại cũng như kế hoạch tranh tụng. Hiểu đựợc partner của mình, hiểu được công việc của partner, hiểu luật và dùng luật để giúp partner hoạch định công việc một cách hợp pháp và hiệu quả, đó chính là công việc của luật sư.

Ngoài việc hiểu biết luật, luật sư cần có một số kỹ năng tối thiểu như sau:
Khả năng phân tích vấn đề:  Điều quan trọng nhất mà trường luật cần dạy là kỹ năng “suy nghĩ như luật sư”. Đó là kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng đặt câu hỏi như một người điều tra. Ví dụ: “Nếu giết người trong khi tự phòng vệ một cách hợp lý thì không có tội”.  Thế nào là “tự phòng vệ”? Thế nào là “hợp lý”?   Ai làm gì ai?  Ai bị điều gì mà phải tự phòng vệ?  Thực ra có cần phải tự phòng vệ lúc đó không? Tự phòng vệ bằng cách nào? Vũ khí nào?   Vũ khí đó có hợp lý không? 
Có hằng trăm câu hỏi cho một vụ việc mà một điều tra viên hay luật sư sẽ phải hỏi. Kỹ năng phân tích vấn đề là kỹ năng quan trọng nhất cho một luật gia. Rất tiếc là các trường luật của ta thường thích dạy từ chương hơn là đào tạo sinh viên đặt cậu hỏi để phân tích vấn đề một cách rốt ráo.
Lawyer-AllPosters.jpgKhả năng nghiên cứu và sưu tầm:  Là khả năng đi tìm các câu trả lời sau khi đã có câu hỏi. Đây là khả năng tìm tòi luật pháp và án lệ Việt Nam, cũng như luật pháp và án lệ các nước trong những vấn đề mà Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Trong thời đại hiện nay nó còn có nghĩa là khả năng tìm tòi trên mạng toàn cầu.
Khả năng am hiểu các hoạt động kinh tế xã hội mà mình tư vấn  
Khả năng đón đường: Một hợp đồng ký ngày hôm nay là để phòng ngừa những bất trắc có thể xảy ra vài năm sau. Người luật sư phải dự đoán trước được những bất trắc này, càng nhiều càng tốt.  
Thưc ra, nhiều Cty cũng chỉ nhờ đến luật sư khi bị kiện ra toà.  Các công ty cũng nên tập thói quen dùng luật sư để phòng bệnh hơn là chữa bệnh. Tư vấn một hợp đồng trước khi chưa ký tốn chỉ một tí tiền mà có thể tránh được tranh tụng sau này, rẻ rất nhiều so với việc đưa nhau ra toà khi hợp đồng có vấn đề.

Đạo đức nghề nghiệp:
Đòi hỏi luật sư phục vụ thân chủ tối đa, trong giới hạn luật pháp cho phép. “Phục vụ thân chủ tối đa” đòi hỏi người luật sư tìm các biện pháp tốt nhất cho thân chủ dù rằng đôi khi các biện pháp này có thể không tốt cho luật sư, chẳng hạn ra trọng tài kinh tế cho đỡ tốn kém thay vì ra toà.”Trong giới hạn luật pháp cho phép” có nghĩa là luật sư không thể tư vấn thân chủ làm những việc phi pháp.  Các trường luật cũng nên có môn đạo đức nghề nghiệp trong chương trình giáo dục sinh viên luật.

Lao Động số 236 Ngày 11/10/2007 – SAGA.VN

NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG CỦA LUẬT SƯ VIỆT NAM BÊN THỀM HỘI NHẬP

LS. NGUYỄN VĂN CHIẾN – Trưởng VPLS Nguyễn Chiến

Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác bởi lẽ ngoài những yêu cầu về trình độ và kiến thức chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp luật sư. Đây là một nét đặc thù rất riêng của nghề luật sư và điều đó tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư.

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy của xu thế toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư; đồng thời tiếp tục thực hiện tốt Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đối với yêu cầu cấp bách đòi hỏi đất nước nhằm có một đội ngũ luật sư tài năng và đạo đức như lời của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã phát biểu tại Hội nghị tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW và triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW: “…Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà…đội ngũ luật sư cần xác định rõ vai trò, vị trí của mình để phấn đấu vươn lên không chỉ về trình độ nghề nghiệp mà còn cả trong việc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp”. Điều đó cho thấy những vấn đề liên quan đến luật sư và tổ chức, hoạt động luật sư, đặc biệt là kỹ năng hành nghề của luật sư luôn được Đảng và nhà nước quan tâm. Theo đó, việc hành nghề của luật sư hôm nay đòi hỏi phải có sự nâng cao và đổi mới về kỹ năng hành nghề để bắt kịp những yêu cầu của tiến trình đổi mới và hội nhập. Một trong các vấn đề xin được đề cập để các luật sư chúng ta cùng suy nghĩ và trao đổi trong hội thảo hôm nay là nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư Việt Nam bên thềm hội nhập.

Có thể nhận thấy rằng trong hệ thống tư pháp của Việt Nam hiện nay đã hình thành hai loại thủ tục tố tụng cơ bản và đặc thù – đó là tố tụng hình sự và tố tụng phi hình sự bao gồm tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Điều này cho thấy khi hành nghề, các luật sư cũng tham gia tranh tụng dưới hai hình thức chủ yếu là tranh tụng trong các VAHS và tranh tụng trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và hành chính (được gọi chung là tranh tụng trong các vụ án phi hình sự). Đối với việc luật sư tham gia tranh tụng trong các VAHS thì mục đích chủ yếu nhất và thường xuyên nhất là nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở đó để Toà án có sự ghi nhận về quan điểm của luật sư mà đưa ra một bản án có lợi cho bị cáo. Ngoài ra, các luật sư có thể tham gia tranh tụng trong các VAHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác bị xâm hại là cá nhân hay tổ chức. Tuy nhiên sự tham gia của các luật sư trong trường hợp này không đồng nhất với sự tham gia của luật sư trong các vụ án phi hình sự bởi vì cái đích của luật sư hướng tới trong quá trình tranh tụng ở các vụ án phi hình sự là quyền lợi cụ thể đương sự trên cở sở yêu cầu của đương sự cần được giải quyết trong vụ án đó. Mặc dù khác biệt như vậy nhưng các kỹ năng tranh tụng của luật sư trong vụ án hình sự hay phi hình sự đều có các bước tiến hành mang tính chuyên nghiệp và được mô thức hoá cao đối với các công việc trước khi tham gia phiên toà, trong và sau khi tham gia phiên toà các cấp.

Hiện nay, bên cạnh hoạt động trợ giúp pháp lý tham gia các phiên toà hình sự theo sự chỉ định của Toà án trong các trường hợp pháp luật hình sự quy định, nhu cầu của bị can, bị cáo cũng như các đương sự cần đến sự giúp đỡ của luật sư trong các vụ án hình sự, phi hình sự ngày càng nhiều với những yêu cầu đa dạng, không giống nhau. Chúng ta biết rằng kỹ năng của luật sư khi bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng mà có thể đánh giá được sự thành công là những tác động và ảnh hưởng của luật sư xuyên suốt trong tiến trình tố tụng để duy trì quan điểm bào chữa, quan điểm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân luật sư, từ đó làm cho Toà án có quan điểm xét xử công bằng, nghiêm minh, tuyên án có lợi tối đa cho thân chủ của mình. Do vậy, trải qua các giai đoạn từ khi khách hàng tìm đến mình – chuẩn bị tham gia phiên toà – tham gia phiên toà xét xử các cấp và sau phiên toà thì luật sư cần lưu ý những vấn đề liên quan đến kỹ năng tranh tụng như sau:

I – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRƯỚC KHI THAM GIA PHIÊN TOÀ

Trước khi tham gia phiên toà, kỹ năng tranh tụng của luật sư thể hiện trong giai đoạn này là một khâu quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công của việc bào chữa hay bảo vệ quyền lơị cho khách hàng. Có rất nhiều công việc phải làm thông qua kỹ năng tác nghiệp, hành nghề của luật sư trong giai đoạn này. Tuy nhiên trong xu hướng tranh tụng hiện nay, chúng tôi chỉ có một vài ý kiến tham gia đối với một số vấn đề cần đổi mới sau đây:

Thứ nhất, hiện nay trình độ nhận thức pháp luật của khách hàng đã có sự thay đổi nâng cao hiểu biết hơn rất nhiều do những thay đổi và các điều kiện tác động của xã hội và cộng đồng. Điều này bắt buộc các luật sư phải chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng của mình. Vẫn biết rằng người hành nghề luật sư cần am hiểu về mọi lĩnh vực pháp luật, nhưng trong xu hướng hội nhập hiện nay các vụ án hình sự và phi hình sự rất đa dạng, xuất hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống cho nên luật sư cần xác định cho mình lĩnh vực tranh tụng chuyên sâu để hành nghề. Bên thềm hội nhập, chúng ta cũng không thể đi khác với xu hướng hành nghề của các luật sư trên thế giới hiên nay. Luật sư của các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law hay Common Law đều hành nghề theo hướng chuyên môn hoá một lĩnh vực cụ thể. Ở các nước đó chúng ta không xa lạ gì khi nghe đến tên gọi “luật sư hình sự”, “luật sư về thừa kế”, “luật sư về hôn nhân & gia đình”, “luật sư về ngân hàng”, “luật sư về chứng khoán”, “luật sư về bảo hiểm”, “luật sư về bất động sản”, thậm chí có “luật sư về bồi thường thiệt hại”, “luật sư chuyên về tai nạn giao thông”….Kỹ năng hành nghề đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư sẽ tác động trực tiếp đến quyền lợi của thân chủ, bởi vậy chỉ khi luật sư nhận vụ việc có kiến thức chuyên sâu, hiểu biết tường tận, cập nhật được toàn bộ các các quy định pháp luật về một lĩnh vực cụ thể để ứng dụng chúng như một thói quen, bên cạnh đó là sự kết hợp kinh nghiệm bản thân thường xuyên tham gia tranh tụng trong các vụ án thuộc lĩnh vực cụ thể đó thì mới có thể cho phép người luật sư ấy được khách hàng đặt trọn niềm tin. Khi nhận vụ việc từ khách hàng, luật sư với kiến thức thức chuyên sâu, kinh nghiệm tranh tụng cũng đã phần nào giúp cho thân chủ nhìn thấy yêu cầu của họ sẽ được các cơ quan tư pháp giải quyết tới đâu trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành, chưa kể đến các kỹ năng tác nghiệp với các chủ thể khác liên quan khi hành nghề. Mặt khác, khách hàng của luật sư hôm nay không chỉ dừng lại là những khách hàng mang quốc tịch Việt Nam mà họ còn là khách hàng mang quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, các luật sư cần chủ động, linh hoạt hoàn thiện mọi điều kiện hành nghề cần thiết cho bản thân để mở rộng đối tượng phục vụ cho mình, hướng tới phục vụ cho cả các khách hàng nước là cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Ngoài ra, bên cạnh việc chuyên môn hoá lĩnh vực pháp luật cụ thể để nâng cao kỹ năng tranh tụng, luật sư phải căn cứ vào lĩnh vực chuyên sâu hành nghề của mình là gì để đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức pháp luật mới, đặc biệt là pháp luật quốc tế liên quan cũng như các kiến thức ngoại ngữ, tin học. Điều này sẽ giúp cho luật sư hướng tới cơ hội tham gia tranh tụng tốt tại các phiên toà của các vụ việc có yếu tố nước ngoài hay xét xử tại nước ngoài. Xu hướng hội nhập buộc các luật sư trẻ của chúng ta phải tự hoàn thiện đầy đủ các kiến thức chuyên môn cũng như khả năng ngoại ngữ, tin học để tự tin hành nghề, độc lập tranh tụng tại bất cứ đâu, cho dù nơi xét xử nằm ngoài biên giới Việt Nam. Chúng ta sẽ không thể có các luật sư tranh tụng các vụ kiện kinh doanh – thương mại giỏi trên thương trường quốc tế nếu luật sư của chúng ta không có khả năng ngoại ngữ lưu loát khi tranh tụng, không hiểu biết về quy tắc UNCITRAL, về pháp luật của WTO liên quan tới GATT, GATS, TRIMS, TRIPS…cũng như pháp luật của các nước có chủ thể tham gia tố tụng hữu quan . Ngày nay, hình ảnh nhiều luật sư sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin như truy cập Website, gửi nhận thư điện tử, truyền dữ liệu là hình ảnh, âm thanh…..không còn xa lạ với chúng ta khi nhìn thấy họ tác nghiệp và hành nghề. Vì vậy, việc đầu tiên để các luật sư nâng cao kỹ năng tranh tụng của mình trong các vụ án hình sự hay phi hình sự là yêu cầu chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, hoàn thiện kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học trước khi tiếp nhận vụ việc từ khách hàng và chuẩn bị tham gia phiên toà.

Thứ hai, bên cạnh việc chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, tin học luật sư cần phải đổi mới kỹ năng tiếp xúc và làm việc với khách hàng khi nhận bào chữa hay bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Để làm được điều này, các VPLS cần giúp cho các luật sư các Form mẫu giấy tờ rõ ràng, mang tính chuyên nghiệp, đơn giản mà không mang nặng tính hành chính để giúp cho việc giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng được nhanh chóng, thuận tiện. Bên cạnh đó, cũng cần công khai Bảng tính mức thù lao, danh sách các luật sư được chuyên môn hoá trong từng lĩnh vực tranh tụng cụ thể, tiến trình tố tụng để giải quyết yêu cầu của khách hàng để khách hàng được biết trước khi ký Hợp đồng. Kỹ năng tiếp xúc khách hàng hiện nay buộc luật sư phải kết hợp và coi khách hàng như một người cộng sự trong quá trình giải quyết vụ việc của họ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc luật sư cần có sự nhận thức mới về quan hệ giữa luật sư với khách hàng. Đã qua đi cái thời mà khách hàng chẳng hiểu biết và cũng không cần biết về vụ việc, miễn là giao “trọn gói” cho luật sư thực hiện yêu cầu giúp đỡ pháp lý của mình. Tham gia tranh tụng hôm nay, luật sư chúng ta cần phải nhận thức là chúng ta đang “hợp tác” với khách hàng chứ không phải khách hàng đang “nhờ vả” chúng ta để chúng ta cho mình cái quyền quyết định mọi thứ không cần hỏi ý kiến khách hàng ngay cả khi họ là những người trình độ văn hoá thấp, thiếu hiểu biết pháp luật. Cho nên, luật sư trong quá trình trao đổi với khách hàng cần thông tin thường xuyên về tình hình công việc luật sư đang thực hiện, đặc biệt cần phải làm cho khách hàng nhận diện bản chất của vụ việc một cách trung thực, rõ ràng. Đối với những thông tin không cần thiết có ý kiến của khách hàng hoặc được xử lý trên cơ sở luật định, cần thông qua trợ lý luật sư hoặc tự mình luật sư có thể gửi thư điện tử, fax thông báo cho họ biết; còn đối với các thông tin mới phát sinh cần có sự trao đổi trực tiếp và luật sư cần biết ý kiến, quan điểm chính thức của khách hàng thì bắt buộc luật sư phải mời khách hàng tới làm việc tại VPLS để thống nhất theo quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Cuộc sống hôm nay trong điều kiện của nền kinh tế thị trường đa thành phần, mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng trở nên rất nhạy cảm bởi một bên yêu cầu dịch vụ pháp lý và một bên thực hiện dịch vụ ấy. Nếu chúng ta không có sử đổi mới nhận thức về quan hệ của chúng ta với khách hàng và không làm tốt tinh thần “hợp tác” của mối quan hệ ấy trên cơ sở luật định thì khó tránh khỏi các vụ khách hàng khiếu nại, khởi kiện luật sư, yêu cầu luật sư bồi thường thiệt hại…mà không cần biết luật sư có lỗi hay không hoặc có hay không thiệt có thực tế!

Thứ ba, một vấn đề nữa cần được đặt ra để nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư hiện nay là đổi mới phương pháp nghiên cứu Hồ sơ vụ án và đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ. Xuất phát từ yêu cầu của thân chủ mà luật sư xác định trọng tâm công việc cho mình để tham gia tranh tụng và đi vào nghiên cứu hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, luật sư cần phải biết rút ngắn thời gian nghiên cứu hồ sơ tại cơ quan Toà án bằng việc vận dụng các phương tiện kỹ thuật như dùng máy ảnh kỹ thuật số, máy scan để tăng khoảng thời gian nghiên cứu sâu hơn tại VPLS hoặc gia đình khi có điều kiện. Khi nghiên cứu hồ sơ, đòi hỏi các luật sư của chúng ta hôm nay phải có sự thay đổi về đánh giá chứng cứ. Trong tố tụng hình sự, các cơ quan và những người tiến hành tố tụng giữa vai trò chính trong việc thu thập chứng cứ, còn trong tố tụng phi hình sự (tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính) thì đương sự lại giữ vai trò chính trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ cho cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do vậy, bằng kỹ năng của mình luật sư cần phải nhận diện đúng về chứng cứ và nguồn chứng cứ được các bên cung cấp trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, tránh tình trạng tư duy sai lầm về tố tụng “án tại hồ sơ”. Luật sư không đọc hồ sơ để viết Bài bào chữa hay Bản luận cứ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, mà luật sư phải nhận thức đọc hồ sơ để biết mình phải làm gì cho thân chủ, để chủ động đưa ra các kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng khi cần thiết, để phiên toà xét xử không chỉ mang tính thủ tục và hình thức mà phải diễn ra trên cơ sở tranh luận công khai tại phiên toà mới có thể ra đời một bản án hay quyết định công bằng, đúng pháp luật, bảo vệ tối đa quyền lợi của thân chủ chúng ta.

Thứ tư, một vấn đề tác động đến kỹ năng tranh tụng của luật sư là nhận thức của luật sư về đường hướng giải quyết yêu cầu của thân chủ. Bên cạnh việc tuân thủ đúng quy định pháp luật nội dung và hình thức để giải quyết vụ việc thì luật sư cần có nhận thức của chính mình về đường hướng giải quyết yêu cầu khách hàng đặt ra. Luật sư tham gia tranh tụng hôm nay phải nhận thức và đổi mới tư duy về quyền con người – bởi quyền con người luôn được tôn trọng và ngày một nâng cao cho dù thân chủ chúng ta là bị cáo, người bị hại hay các đương sự. Do vậy, đối với việc tham gia tranh tụng trong VAHS luật sư đừng quá lệ thuộc vào kết luận điều tra, cáo trạng hay quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án mà có tư duy làm sao để bảo vệ thân chủ tối đa – hãy quyết định đường hướng giải quyết vụ việc trong nhận thức của luật sư trên cơ sở luật định mặc dù trước đó đã có những chứng cứ buộc tội, bất lợi cho thân chủ. Còn trong tố tụng phi hình sự, xu hướng hiện đại cho thấy các vụ án đều hướng đến vấn đề hoà giải mà không cần tới việc xét xử của Toà án. Do vậy, đối với tranh tụng phi hình sự, bên cạnh việc quan tâm và bảo vệ lợi ích tối đa cho thân chủ luật sư phải nhận diện đúng yêu cầu của thân chủ, bản chất của vụ việc để có sự đánh giá khách quan và hướng thân chủ đến với hoà giải nếu điều đó cũng là mong muốn của thân chủ, hoặc thân chủ không mong muốn nhưng việc xét xử sau này sẽ bất lưọi cho họ nếu căn cứ theo quy định pháp luật…Chúng tôi cho rằng một xã hội dân sự có nền tư pháp dân chủ, văn minh là xã hội không phải có thật nhiều các bản án được tuyên thấu tình, đạt lý mà phải là xã hội ít tranh chấp, nếu có tranh chấp thì trước tiên phải được giải quyết bằng con đường hoà giải mà các bên vẫn đạt được quyền lợi cho mình chứ không chỉ tưu duy theo lối quyền lợi của mình chỉ có thể đạt được khi có bản án có hiệu lực của cơ quan Toà án. Chúng tôi muốn gợi ý để các luật sư tranh tụng phi hình sự quan tâm và đổi mới nhận thức về vấn đề này. Điều này cũng là xu hướng chung hiện nay được giới luật sư của các nước đang phát triển coi trọng và áp dụng.

II – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG KHI THAM GIA PHIÊN TOÀ

Kỹ năng tranh tụng của luật sư trong giai đoạn tham gia phiên toà là kết quả của kỹ năng tranh tụng được chuẩn bị chu đáo từ giai đoạn trước. Có thể nói, không có quá nhiều vấn đề về kỹ năng tranh tụng của luật sư cần bàn đến trong giai đoạn này bởi vì chủ yếu luật sư phải giải quyết tốt công việc của mình theo một trình tự tố tụng tại Toà án được pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của đất nước, xu hướng cải cách tư pháp được Đảng và nhà nước quan tâm và quyết tâm thực hiện, chúng tôi xin được trao đổi đôi điều về kỹ năng tranh tụng của luật sư như sau:

Một là, về vấn đề hoãn phiên toà. Chúng tôi cho rằng kỹ năng tranh tụng của luật sư giỏi không nằm ở việc có thể tìm biện pháp để đưa ra nhiều lý do vắng mặt của đương sự, của luật sư….để xin hoãn phiên toà, vì sớm muộn thì phiên toà vẫn được tiến hành theo quy định pháp luật và quyền lợi của thân chủ mình vẫn được thể hiện bằng việc tuyên án của Toà án. Vấn đề hoãn phiên toà sẽ gây tốn kém thời gian, vật chất, công sức cho rất nhiều chủ thể trong đó có luật sư chúng ta. Do vậy, chúng tôi muốn các luật sư trẻ ý thức hơn về vấn đề này để phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng làm sao cho phiên toà sớm được tiến hành, không phải hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Đây là trách nhiệm của luật sư chúng ta và trong bối cảnh đổi mới của đất nước hôm nay, mong rằng vấn đề này sẽ được giới luật sư chúng ta ghi nhận khi thực hiện kỹ năng tranh tụng của mình trong giai đoạn tham gia phiên toà.

Hai là, vấn đề tranh luận tại phiên toà. Như đã đề cập trên đây về vấn đề phải loại bỏ tư duy sai lầm của luật sư về vấn đề “án tại hồ sơ” khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nay xin trở lại với vấn đề đó bởi giữa việc nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong hồ sơ với kỹ năng tranh luận tại phiên toà có mối liên hệ rất mật thiết. Nói như vậy không có nghĩa coi việc nghiên cứu quy định pháp luật, nghiên cứu hồ sơ vụ án là phụ mà chúng tôi chỉ muốn đề cập tới vấn đề làm sao để các luật sư đừng quá lệ thuộc vào hồ sơ vụ án, không chuẩn bị tốt cho mình kỹ năng phần tranh luận công khai tại phiên toà. Xu hướng tranh tụng gần đây và đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO buộc chúng ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế và pháp luật quốc tế, chắc chắn vấn đề tranh tụng công khai tại phiên toà sẽ là con đường xác định sự công bằng, lẽ phải để tuyên án. Do vậy, các luật sư trẻ cần phải tích cực tham gia, tham dự các phiên toà nhiều hơn để đúc kết kinh nghiệm cho mình; đồng thời ngoài việc lập sẵn cho mình kế hoạch xét hỏi, cần biết dự đoán các vấn đề cần tranh tụng công khai tại phiên toà trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ kết hợp với quan điểm bào chữa/bảo vệ của luật sư. Để làm được điều này, các luật sư trẻ cần phải giành thời gian để tự hùng biện quan điểm bào chữa hay bảo vệ của mình đối với yêu cầu của thân chủ. Kỹ năng nói, tốc độ nói, giọng nói, phong thái, tư thế đi lại tại phiên toà là những vấn đề bắt buộc luật sư phải quan tâm và xử lý tốt mới giúp luật sư tự tin. Xu hướng hiên nay, các luật sư phải đặc biệt quan tâm nhiều hơn kỹ năng của mình đối với phần tranh luận công khai tại phiên toà. Do vậy bài bào chữa hay bản luận cứ nên để dưới dạng “mở” có thể thay đổi linh hoạt cho phù hợp với diễn biến phiên toà chứ không nên theo cách chuẩn bị cổ điển “đóng” bằng cách viết sẵn để đọc và trình bày trước Hội đồng xét xử. Luật sư của các nước theo pháp luật Common Law mặc dù chịu sự điều chỉnh rất lớn của các “án lệ” trước đó, nhưng không vì thế mà họ không thể hiện tốt kỹ năng tranh luận để bảo vệ tối đa cho thân chủ mình, trái lại tại các phần tranh luận luật sư luôn là người chủ động, điều khiển phần tranh luận theo đúng mục tiêu cần đạt tới của mình. Điều này có ý nghĩa quyết định đối với việc thuyết phục Hội đồng xét xử tuyên một bản án có lợi cho thân chủ mình hơn là việc ngồi để hoàn chỉnh Bài bào chữa/Bài bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.

Ba là, về Bài bào chữa hay Bài luận cứ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ. Chúng tôi cho rằng xã hội hôm nay là xã hội pháp quyền, do vậy pháp luật vẫn là mục tiêu tối thượng buộc các chủ thể tố tụng phải hướng tới và tuân thủ. Xu hướng trình bày luận cứ bào chữa hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ hiện nay nên được luật sư trình bày đơn giản, ngắn gọn, mạch lạc dựa trên các căn cứ pháp luật, chứng cứ của hồ sơ vụ án, các tình tiết mới cũng như kết quả tranh luận tại phiên toà. Do vậy luật sư không nên đề cập qua nhiều tới phạm trù đạo đức, tình cảm con người để lấy đó làm lý lẽ gỡ tội hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình. Luật sư vẫn quan tâm tới việc chia xẻ với khách hàng nhưng không thể coi đó là cơ sở lập luận gỡ tội hay bảo vệ khách hàng. Để làm được điều này đòi hỏi các luật sư phải ý thức được vấn đề quyết định để gỡ tội hay bảo vệ quyền lợi cho thân chủ mình là các cơ sở pháp lý chứ không tranh tụng theo hướng “tình cảm” con người.

Cuối cùng, về văn phong diễn đạt của luật sư trình bày tại phiên toà. Đây cũng là một vấn đề tuy nhỏ những khá ảnh hưởng tới uy tín tranh tụng của luật sư. Nhà văn Ciceron khi biên tập cuốn sách “những bài viết hay nhất” được Nhà xuất bản xã hội tại Paris, Pháp xuất bản năm 1925 có đưa ra các yêu cầu về văn phong là 05 tiêu chuẩn: trong sáng, ngắn gọn, phù hợp, rõ ràng và dễ chấp nhận. Thiết nghĩ văn phong pháp lý của luật sư chúng ta trước tiên phải đảm bảo các yêu cầu chung đó bên cạnh các yêu cầu đặc thù của nghề luật như không dùng câu từ trìu tượng, không dùng ngôn ngữ đời thường hay dung văn phong cảm thán, khoa trương. Chúng tôi có điều kiện tham gia tranh tụng tại khá nhiều phiên toà hình sự và không ít lần được nghe một số luật sư trẻ trình bày luận cứ gỡ tội với cách gọi hơi thái quá, chẳng hạn “Vị đại diện VKS kính mến” hay “Hội đồng xét xử công minh”, “Bà hội thẩm tài ba” hay có những luật sư đưa ra nhận định rằng “lập luận của vị đại diện VKS là vô cùng trong sáng, vô tư…”!(?) …Thú thực lời lẽ của luật sư đó khi trình bày cho người nghe cảm giác thấy khó nghe và phản cảm bởi khi ở phiên toà, chúng ta hành nghề luật và hãy biết nói với nhau bằng luật và chỉ có vậy mới khẳng định được kỹ năng tranh tụng của luật sư. Để nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư tại phiên toà, thiết nghĩ cũng cần lưu tâm nhiều hơn nữa đến vấn đề mà chúng tôi đề cập trên đây.

III – NÂNG CAO KỸ NĂNG TRANH TỤNG SAU PHIÊN TOÀ

Phần cuối, chúng tôi muốn đề cập tới kỹ năng của luật sư sau phiên toà – đây cũng là một nội dung rất có ý nghĩa và làm nổi bật vai trò cũng như kỹ năng tranh tụng của luật sư.

Trước hết, nói về Biên bản phiên toà. Hiện nay trong công cuộc cải cách tư pháp, các cơ quan và những người tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng để giải quyết các vụ việc một cách cẩn trọng, công minh và phù hợp. Theo đó, các công việc và thủ tục hành chính của họ có hướng mở hơn, không cứng nhắc, lệ thuộc như trước. Biên bản phiên toà là một trong những văn bản cho phép những người tham gia tố tụng khẳng định quyền của mình. Luật sư Việt Nam chúng ta ít có thói quen xem và bổ sung, kiến nghị sửa đổi Biên bản phiên toà, trong khi đối với luật sư các nước khác đây là văn bản quan trọng nhất khẳng định các quyền còn lại của thân chủ họ sau khi tuyên án. Bởi vậy, theo xu hướng hội nhập hôm nay, chúng tôi muốn trao đổi vấn đề nay để các luật sư chúng ta, đặc biệt là các luật sư trẻ mới hành nghề cần phát huy tối đa quyền của những người tham gia tố tụng để xin phép Toà án xem Biên bản phiên toà sau khi tuyên án. Hãy làm cho nó trở thành thói quen để buộc những người tiến hành tố tụng phải tuân thủ và bảo đảm việc ghi Biên bản phiên toà một cách trung thực, đầy đủ tránh ảnh hưởng tới lợi ích của thân chủ chúng ta.

Sau cùng, xin được bàn về quan hệ của luật sư với thân chủ sau phiên toà, các luật sư trẻ cần chú ý kỹ năng tiếp xúc khách hàng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ công việc luật sư thực hiện trên cơ sở Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký mà luật sư còn phải lưu tâm tới yếu tố tình cảm con người, lòng yêu thương đồng loại. Luật sư có kỹ năng tranh tụng giỏi hôm nay không chỉ là luật sư giỏi luật, bào chữa/bảo vệ hay, thuyết phục được Toà án ra bản án công bằng đảm bảo quyền lợi cho thân chủ mình mà luật sư còn phải biết chia xẻ với khách hàng sau xét xử. Về mặt pháp lý, Hợp đồng dịch vụ pháp lý được thanh lý đồng nghĩa với việc luật sư hoàn thành trách nhiệm của mình với thân chủ nhưng về mặt tình cảm, hợp đồng ấy còn đọng lại nơi khách hàng những ấn tượng về luật sư. Do vậy, nếu luật sư có thể hướng dẫn cho họ biết cách làm đơn kháng cáo, hướng dẫn cách thăm nuôi cho gia đình họ, tôn trọng và bảo đảm việc giữ bí mật cho khách hàng, giới thiệu những đồng nghiệp là các luật sư giởi chuyên sâu trong các vấn đề mới phát sinh mà luật sư nhận thấy mình không đáp ứng tốt được yêu cầu mới của thân chủ…thì chắc chắn quan hệ giữa luật sư chúng ta và khách hàng sẽ bền lâu và họ luôn coi chúng ta là người đầu tiên họ tìm đến khi cần giúp đỡ về các vấn đề pháp lý. Do vậy, trước những thay đổi của xã hội chúng ta bên thềm hội nhập, việc nâng cao kỹ năng tranh tụng của luật sư không chỉ ở góc độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề mà còn phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của luật sư với thân chủ ngay cả khi đã hoàn thành công việc luật sư đằng sau phiên toà. Điều này chỉ có thể đạt được trên cơ sở tôn trọng truyền thống đạo đức con người Việt Nam, có tình thương đồng loại và ý thức cộng đồng của luật sư. Nói điều này có thể ai đó sẽ nghĩ là sáo rỗng, nhưng thực tế cuộc sống đặt ra cho chúng ta phải nhận thức để hành động như vậy, bởi lẽ không luật sư nào mong muốn khách hàng quay lưng lại với luật sư và không có luật sư nào đang tâm quay lưng lại với khách hàng, cho dù họ là ai.

SOURCE: ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI