QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

TRẦN VĂN TRÍ

Có ý tưởng kinh doanh mới chỉ là bước khởi đầu cơ bản trên con đường lập nghiệp, quan trọng hơn hết là ý tưởng đó được đưa vào thực tiển thế nào? Về mặt pháp lý, từ ý tưởng đi đến hiện thực trong kinh doanh phải trải qua một giai đoạn được gọi là đăng ký kinh doanh. Khi pháp luật công nhận một thực thể pháp lý đủ điều kiện tiến hành hoạt động kinh doanh thì khi đó ý tưởng mới thật sự được triển khai. Vậy, thực thể pháp lý đó là gì? Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu về Công ty cổ phần, một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay.

A. Khái quát về Công ty cổ phần (CTCP)

– CTCP là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty được phát hành cổ phần huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí quản lý trong công ty. Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
– Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
– Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
– Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
– CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư và có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
– CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc). Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.

Continue reading

BAN KIỂM SOÁT BỊ VÔ HIỆU HÓA NHƯ THẾ NÀO?

LY NGUYỄN

Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của ban kiểm soát (BKS) là hết sức quan trọng. Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT), tổng giám đốc/giám đốc (TGĐ/GĐ), nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; BKS còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong một công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch, HĐQT và TGĐ/GĐ công ty luôn nhìn nhận BKS dưới góc độ vừa là người “thổi còi”, giúp HĐQT ngừng ngay các sai phạm, để không đi quá xa; vừa là người hỗ trợ tích cực cho các hoạt động cải tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như quản lý tài chính, quản lý đầu tư, quản lý quan hệ cổ đông…

Thế nhưng, ở không ít các công ty, BKS chỉ đóng vai trò như con bù nhìn, được chính HĐQT và các cổ đông lớn dựng lên cho có và hoàn toàn bị vô hiệu hóa, thậm chí còn được xem là lực lượng hậu thuẫn, đứng sau, tiếp tay cho HĐQT, TGĐ/GĐ dấn sâu vào những hoạt động sai phạm, xâm phạm lợi ích các cổ đông nhỏ lẻ.

Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần thường bị vô hiệu hóa như thế nào?

Luật Doanh nghiệp, mặc dù có biện pháp bảo vệ cổ đông nhỏ thông qua điều khoản quy định tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên BKS, nhưng các ràng buộc trong luật lại khá lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở.

Điều 122, Luật Doanh nghiệp, (khoản 1, mục a) quy định thành viên BKS không được là “vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ và người quản lý khác”. Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết với các thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ không chỉ là các thành phần trên mà còn nhiều quan hệ khác như chú, bác, cô, dì ruột, anh, em nhà chú bác, cô, dì, anh, em vợ (chồng)… Nhiều công ty đã lợi dụng kẽ hở này để đưa người thân vào BKS nhằm có thêm tiếng nói ủng hộ hơn là để kiểm soát.

Continue reading

CẦN TÔN TRỌNG NGHỊ QUYẾT 71/2006/NQ-QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11 VỀ PHÊ CHUẨN VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã thoả hiệp nhiều vấn đề với các bên đàm phán. Trong đó, đoạn 502 và 503, Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Báo cáo của Ban công tác) quy định: các liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ và các liên doanh đã thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực có quyền thoả thuận trong điều lệ liên doanh tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%.

Để thực thi cam kết này, ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11  (Nghị quyết 71) phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó các cam kết WTO được áp dụng trực tiếp. Liên quan đến Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71 (Phần Phụ lục) quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

-Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông là 65% (Điều 52 và 104). Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế". Theo điều khoản trên, những quy định tại Nghị quyết 71 đã phải được thực hiện kể từ khi Nghị quyết này có hiệu lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn để thực hiện những quy định nêu trên của Nghị quyết 71.

Continue reading

“TỪ HẢI” CHẾT ĐỨNG VÀ CHẾT OAN!

LG. VŨ XUÂN TIỀN – – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 11-2010 đã đăng bài Có một “Từ Hải” thời nay của tôi và số 12-2010 có đăng bài “Từ Hải” không chết đứng! của tác giả Nguyễn Hữu Long, trao đổi lại về bài Có một “Từ Hải” thời nay nói trên. Sự việc hóa ra không đơn giản trong thực tế!

Trước hết, tác giả bài Có một “Từ Hải” thời nay xin cám ơn và trân trọng ý kiến trao đổi của tác giả Nguyễn Hữu Long. Tôi đồng ý với phân tích của tác giả vì nếu theo các quy định của Luật Doanh nghiệp thì kết luận “Từ Hải không chết đứng” là đúng.

Song, có một sự thật trong nền hành chính của nước ta là, dù quy định của pháp luật đã có nhưng không ít “Từ Hải” vẫn chết, vừa chết đứng, vừa chết oan.

Bởi lẽ, nguyên nhân làm cho “Từ Hải” chết không chỉ vì những quy định chưa đầy đủ và chặt chẽ của pháp luật mà còn phụ thuộc vào cách hành xử của các công chức thừa hành nhiệm vụ. Khi các công chức “lạnh lùng, vô cảm” và trả lại hồ sơ hoặc yêu cầu phải cung cấp những thủ tục không thể thực hiện thì dù có làm đúng luật, “Từ Hải” cũng vẫn “chết”.

Trường hợp ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB, trong câu chuyện ở bài Có một “Từ Hải” thời nay là ví dụ điển hình.

Không phải ông K. và những luật gia tư vấn cho ông K. không biết quy định tại điều 102 và điều 104 của Luật Doanh nghiệp 2005. Khi tổ chức đại hội đồng cổ đông lần thứ hai với hai cổ đông sáng lập chiếm 60% vốn điều lệ, ông K. đã trình cho cơ quan đăng ký kinh doanh hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật và tin rằng đó là hồ sơ hợp lệ, vấn đề sẽ được giải quyết. Song, cán bộ thụ lý hồ sơ đã yêu cầu ông K. bổ sung chứng cứ chứng minh rằng, hai cổ đông không dự họp đã ký nhận giấy mời họp nhưng không dự họp. Ông K. không có chứng cứ đó nên đành “ôm” hồ sơ quay về.

Khi triệu tập đại hội đồng cổ đông lần thứ ba, ông K. cho người đưa giấy mời họp đến nhà riêng của ông B. và ông Đ. và yêu cầu hai ông này ký xác nhận: Đã nhận giấy mời họp. Nhưng ông B. và ông Đ. đã không ký theo yêu cầu.

Continue reading

HƯỚNG DẪN TIẾN HÀNH HỌP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ HOẶC ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG TẠI VIỆT NAM

MỸ LY (Theo Mekong Capital và Luật Doanh nghiệp 2005)

1. Chuẩn bị cho cuộc họp

Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) là người chịu trách nhiệm điều khiển cuộc họp trừ trường hợp ủy quyền cho người khác. Người chịu trách nhiệm tiến hành họp có trách nhiệm chuẩn bị những phần sau đây:

1.1. Lên danh sách người dự họp

Danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty. Danh sách này phải lập xong chậm nhất ba mươi ngày trước ngày khai mạc họp Đại hội đồng cổ đông nếu Điều lệ công ty không quy định một thời hạn khác ngắn hơn.

1.2. Thông báo

Thông báo mời họp phải được gửi tới từng cổ đông hoặc các ủy viên HĐQT để họ biết được ngày và địa điểm tổ chức cuộc họp.

Điều 100.1 của Luật Doanh nghiệp quy định Người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi thông báo mời họp đến tất cả cổ đông có quyền dự họp chậm nhất 7 ngày làm việc trước ngày khai mạc nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn. Thông báo được gửi bằng phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của cổ đông.

Luật Doanh nghiệp không quy định thời gian gửi thông báo đối với các cuộc họp HĐQT hoặc những cuộc họp đại hội cổ đông bất thường, nhưng có thể quy định điều này trong Điều lệ công ty. Tốt nhất nên gửi thông báo trước tối thiểu là 2 tuần trước ngày họp để mọi người có thể thu xếp thời gian đến dự.

Continue reading

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – Washington DC

Binh Pháp Tôn Tử có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thế có nghĩa là nếu đối thủ biết bí mật thương mại của ta thì ta trăm trận trăm thua. Bí mật thương mại của một công ty là tất cả những thông tin và kiến thức dùng trong công việc làm ăn của công ty mà chỉ có người của công ty biết được: công thức sản phẩm, danh sách các đối tác, danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, kế hoạch tiếp thị, v.v… Các loại thông tin này nếu bị lộ ra ngoài có thể đặt công ty trong tình trạng ra trận trong khi địch đã rõ hết đường đi nước bước của ta. Vậy thì làm thế nào để các công ty có thể bảo vệ được các bí mật thương mại của mình?

Bí mật thương mại khác với sở hữu trí tuệ (intellectual property) ở chỗ là tài sản trí tuệ như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark) và tác quyền (copyright) là tài sản công khai, phải đăng ký với Nhà nước cho mọi nguời biết. Phần thưởng cho việc đăng ký công khai là độc quyền khai thác trong một thời gian luật định. 

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì công ty còn độc quyền khai thác.  Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy.  Coca Cola là một trong những công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca Cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn). Cho đến ngày nay, Coca Cola vẫn thành công trong việc bảo vệ bí mật công thức này.  McDonald cũng có nhiều công thức làm thực phẩm bí mật không đăng ký bằng sáng chế với Nhà nước.

Dĩ nhiên là các đối thủ của một công ty có quyền tìm cách khám phá ra công thức bí mật bằng cách “thiết kế ngược,” nghĩa là phân tích một sản phẩm để tìm ra công thức chế tạo. Cách này hoàn toàn hợp pháp, và nếu công ty không đăng ký bằng sáng chế, thì công thức có thể bị mất. Tuy vậy, trong một số các lĩnh vực, như là thực phẩm chẳng hạn, thiết kế ngược để tìm đúng công thức cho ra đúng mùi vị không phải là việc dễ dàng.

Continue reading

CHÍNH PHỦ VÀ TẬP ĐOÀN

MẠNH QUÂN

image “Các tập đoàn, tổng công ty mạnh khoẻ thì Chính phủ cũng khoẻ”. Tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ làm việc với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (TCTNN) ngày 10.3, trước vẻ lúng túng của một vị tổng giám đốc khi tìm lời chúc đầu năm, phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã đỡ lời như vậy. Câu hỏi được đặt ra: sức khoẻ các tập đoàn, tổng công ty năm qua như thế nào?

Quý 1/2009, khi khủng hoảng kinh tế thế giới tác động mạnh đến Việt Nam, nhiều ngành sản xuất, dịch vụ suy giảm mạnh thì đã sớm có những dự báo cho rằng, không chỉ các doanh nghiệp tư nhân khốn đốn mà khối doanh nghiệp nhà nước, kể cả nhiều tập đoàn, tổng công ty cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, theo kết quả tổng hợp chung của ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp (thuộc Chính phủ) về tình hình sản xuất, kinh doanh của 19 tập đoàn, tổng công ty 91 và 61 tổng công ty 90 trong năm qua thì tình hình không đến nỗi tệ. Theo ông Phạm Viết Muôn, phó trưởng ban chỉ đạo, dù năm 2009 rất khó khăn nhưng nhiều tập đoàn, tổng công ty vẫn tăng trưởng. Tổng doanh thu 19 tập đoàn, tổng công ty 91 đạt 737.282 tỉ đồng, vượt 34,7% kế hoạch năm, tăng 2,7% so với năm 2008. Một số doanh nghiệp lớn có doanh thu tăng mạnh: tập đoàn Dầu khí vượt 28,2% kế hoạch doanh thu cả năm; tập đoàn Viễn thông quân đội tăng 80,9% so với năm 2008 và vượt kế hoạch năm 33,8%…

Tổng lợi nhuận trước thuế của tất cả tập đoàn, tổng công ty đạt 80.799 tỉ đồng, vượt 52,8% so với kế hoạch năm, tăng 5% so với năm 2008 trong đó 19 tập đoàn, tổng công ty đạt 49.589 tỉ đồng, vượt 46,1% kế hoạch năm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đạt 15,45% trong đó 19 tập đoàn, tổng công ty 91 đạt 18,19%. Tổng số tiền nộp ngân sách nhà nước của cả khối tập đoàn, tổng công ty năm qua đạt 175.406 tỉ đồng, vượt 40,5% kế hoạch năm và bằng 92,7% năm 2008. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 3,1 lần, trong đó của 19 tập đoàn, tổng công ty 91 là 1,67 lần.

“Nếu lỗ còn kéo dài thì phải kiên quyết sắp xếp lại bằng cách cổ phần hoá, bán, khoán hay cho thuê doanh nghiệp”.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

Continue reading

“TỪ HẢI” KHÔNG CHẾT ĐỨNG!

NGUYỄN HỮU LONG

Bài viết “Có một ‘Từ Hải’ thời nay” của tác giả Vũ Xuân Tiền đăng trên TBKTSG số 11-2010 kể chuyện Công ty cổ phần KHB không thể thay đổi người đại diện pháp luật công ty do không thể triệu tập được đại hội đồng cổ đông có số cổ đông tham dự đại diện cho ít nhất 75% số cổ phần có quyền biểu quyết.

Trong bốn lần triệu tập họp, thành phần tham dự vẫn chỉ có hai người (ông K. và ông H.), chiếm 60% số vốn điều lệ của công ty; còn hai người còn lại (ông B. và ông Đ.), chiếm 40% vốn điều lệ công ty, thì liên tục vắng mặt.

Bài viết cũng cho rằng “Luật Doanh nghiệp quy định, để thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty phải có số phiếu nhất trí đại diện cho ít nhất 75% số vốn có quyền biểu quyết”. Từ đó, bài viết kết luận, việc thay đổi người đại diện pháp luật của Công ty KHB đi vào bế tắc và ông K. – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty trở thành “Từ Hải thời @” – bị “chết đứng” vì không có cách nào tháo gỡ.

Thực ra, trong trường hợp này, Luật Doanh nghiệp không hề để cho “Từ Hải” phải chết đứng. Điều 102, Luật Doanh nghiệp quy định rất rõ:

1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

2. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 điều này thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

3. Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 2 điều này thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai. Trong trường hợp này, cuộc họp của đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp”.

Continue reading

KHÔNG THỂ LẬP MỘT CÔNG TY CỔ PHẦN NẰM NGOÀI LUẬT DOANH NGHIỆP

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Sự kiện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị thành lập một Công ty cổ phần Mua – bán điện (EPTC) đã làm sôi động dư luận trong những ngày qua. Các nhà nghiên cứu, giới luật sư, luật gia và cả Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã lên tiếng. Vậy EPTC là gì? Nó được sinh ra nhằm những mục đích gì? Phía sau nó là những bài toán gì?

Thực trạng thị trường điện

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng ta cần có đôi điều nhận định về thực trạng của thị trường điện Việt Nam hiện nay. Không cần tranh cãi nhiều cũng hoàn toàn có thể kết luận rằng, thị trường điện Việt Nam hiện nay là thị trường độc quyền. Cao hơn nữa, đó là thị trường độc quyền tuyệt đối. Bởi lẽ, thiếu điện phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng đã, đang và sẽ còn là thách thức lớn đối với nhà nước ta. Toàn bộ hệ thống từ sản xuất, truyền tải, phân phối đến bán điện đang nằm trong tay EVN – một doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, về phía cung, EVN là độc quyền. Về phía người tiêu dùng, kể cả tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt, cũng không thể mua điện ở một địa chỉ nào khác là EVN. Tất nhiên, để thắp sáng, người dân cũng có thể sử dụng đèn dầu hỏa thay cho điện. Song, đến hôm nay, khi khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão mà lại khuyến khích người dân dùng đèn dầu hỏa thay cho điện thì cũng đồng nghĩa với việc “kéo Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá”. Vì vậy, với việc bán điện, EVN cũng độc quyền tuyệt đối. Sự độc quyền tuyệt đối của EVN từ sản xuất đến tiêu thụ điện đã gây ra biết bao đau khổ cho cả người sản xuất (các nhà máy điện độc lập ngoài EVN) và người tiêu dùng – các nhà máy, công trường và hơn 80 triệu dân Việt Nam. Cho nên, xóa bỏ sự độc quyền này là đòi hỏi cấp bách của sự phát triển và bảo đảm sự minh bạch, công bằng trong đời sống xã hội.

Continue reading

BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ: NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam

Để huy động triệt để nguồn vốn đang nhàn rỗi trong nhân dân tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên góp vốn, các cổ đông chỉ góp vốn với một tỷ lệ nhỏ ( gọi chung là các cổ đông thiểu số). Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định của Luật Doanh nghiệp trong thực tế đã và đang gặp một số vướng mắc lớn cần được nghiên cứu, tháo gỡ.

Quy định của Luật

Về việc thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
“3. Quyết định của đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định;
b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định”.
Khoản 2 Điều 52, cũng có quy định tương tự đối với việc thông qua các quyết định của hội đồng thành viên của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên.

Những vướng mắc từ thực tiễn…

Trước hết, quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số. Song, do quá nhấn mạnh đến việc bảo vệ các cổ đông thiểu số nên không ít trường hợp gây những khó khăn không đáng có cho việc quản trị công ty. Các cụm từ: “ít nhất 65%”, “ít nhất 75%” và “tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định” là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản trị các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và các công ty cổ phần. Xin nêu một ví dụ điển hình như sau:

Continue reading

QUYỀN DỰ HỌP ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG CỦA CỔ ĐÔNG NHỎ CÔNG TY CỔ PHẦN HIỆN NAY

THS. TRƯƠNG VĨNH XUÂN – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia khu vực IV

Hiện nay, cổ đông có tỷ lệ vốn góp cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần (CTCP) chiếm số lượng rất lớn, đặc biệt là từ khi xuất hiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Song song với mức phát triển về số lượng của cổ đông nhỏ là sự vi phạm quyền lợi của họ trong CTCP, trong đó quan trọng là quyền dự họp Đại hội cổ đông. Thông qua thực tiễn đã xảy ra tại các CTCP hiện nay, chúng tôi mong muốn sẽ có những phân tích và đánh giá đem lại tính khách quan khi xem xét vấn đề này.

1. Cổ đông nhỏ là ai?

Cổ đông là những người góp vốn vào công ty. Muốn trở thành cổ đông CTCP, cá nhân hoặc tổ chức hoặc góp vốn thành lập công ty hoặc mua cổ phần từ cổ đông khác. Cổ đông có nhiều loại, tùy từng tiêu chí mà chúng ta có các loại cổ đông khác nhau. Dựa vào khối lượng vốn góp, chúng ta có cổ đông nhỏ và cổ đông lớn1. Việc xác định cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn không có ý nghĩa khi góp vốn, mà chỉ có ý nghĩa khi các cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ.

Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật DN) xác định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 10% tổng số cổ phần trở lên sẽ có thêm một số quyền khác so với cổ đông phổ thông2. Đồng thời, Luật DN cũng quy định mức cổ đông sở hữu 5% tổng số vốn điều lệ có thể tham gia Hội đồng quản trị3 và mức này cũng là cơ sở để cổ đông phải đăng ký/báo cáo với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó4.

Luật Chứng khoán 2007 quy định: Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành5. Theo quy định của luật này, cổ đông nhỏ là cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty.

Continue reading

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP: CÓ MỘT “TỪ HẢI” THỜI NAY…

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Đã hai năm nay, nhiều người thân gọi đùa ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB (vì lý do tế nhị, tên công ty và các nhân vật đã được thay đổi) là ông Từ Hải thời @, tức là ông K. đang bị “chết đứng”. Nhưng không phải ông K. chết đứng vì ái tình mà vì sự việc hy hữu của công ty cổ phần nơi ông là chủ tịch hội đồng quản trị. Kể câu chuyện của ông K. thiết nghĩ cũng bổ ích và lý thú đối với việc kinh doanh và luật pháp ở Việt Nam.

Tóm tắt sự việc

Đầu năm 2008, bốn người tâm đắc gồm các ông K., H., B., Đ. hợp tác, góp vốn thành lập Công ty cổ phần KHB, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, tư vấn chuyển giao công nghệ, tổ chức sự kiện, đào tạo, quảng cáo… vốn là thế mạnh về chuyên môn của cả bốn người, đặc biệt là của ông K. và ông H. – những người đã có học vị tiến sĩ chuyên ngành. Số vốn điều lệ của công ty là 1 tỉ đồng, trong đó ông K. góp 300 triệu, ông H. 300 triệu, ông B. 200 triệu và ông Đ. 200 triệu đồng. Đáng lưu ý là ông B. và ông Đ. là hai anh em ruột. Ông B. được bầu làm Tổng giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty, còn ông K. là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Tháng 3-2008, việc góp vốn hoàn tất. Công ty đã thuê văn phòng và khai trương hoạt động. Ngay khi góp vốn, một sự kiện không bình thường đã xảy ra: ông Đ. đề nghị ông K. cho vay 200 triệu đồng để góp vốn và sẽ trả trong thời hạn 10 ngày. Ông K. đã đồng ý cho vay, ông Đ. đã có tên trong danh sách các cổ đông sáng lập và phiếu thu tiền góp vốn là 200 triệu đồng.

Nhưng sau đó, dù đã đôn đốc rất nhiều lần, ông Đ. vẫn không thanh toán trả cho ông K.Từ tháng 5 đến tháng 8-2008, ông B. – Tổng giám đốc công ty – đã lập nhiều giấy biên nhận “tạm ứng” tiền của công ty với tổng số tiền 400 triệu đồng. Sau khi đã “ứng” đủ 400 triệu đồng, ông B. bỗng dưng biến mất, không hề đến công ty nữa.

Continue reading

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI VIẾT ĐIỀU LỆ CHO CÔNG TY

LG. TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam không định nghĩa bản điều lệ là gì mà chỉ liệt kê các nội dung chính nó phải có (Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2005)[1]. Luật công ty mẫu của Mỹ cũng không định nghĩa Bản điều lệ là gì. Còn từ điển về luật của Mỹ thì giải nghĩa đó là những điều khoản hành chính do một tổ chức lập nên để quy định công việc quản trị bên trong và giao dịch với bên ngoài của tổ chức ấy.

Nói một cách dễ hiểu thì Bản điều lệ là bản thỏa thuận giữa những người sáng lập công ty với các cổ đông và giữa các cổ đông với nhau cùng được soạn căn cứ trên những khuôn mẫu chung của luật pháp (luật doanh nghiệp, luật thuế, luật lao động, luật tài chính, kế toán…) để ấn định cách tạo lập, hoạt động và giải thể của một doanh nghiệp.

Trên ý nghĩa đó cho thấy, bản điều lệ giống như một bản hợp đồng có “tính chất quy định”. Tuy nhiên, vì công ty là “tổ chức do luật pháp đặt ra” nên khác với các bản hợp đồng thông thường, bản điều lệ có thể trưng ra được cho những người thứ ba và buộc họ phải chấp nhận “tính chất đối kháng” khi giao dịch với công ty. Ví dụ, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…

Do “tính chất đối kháng” của bản điều lệ nên các ngân hàng và những người muốn mua, đầu tư công ty xem bản điều lệ rất kỹ; thậm chí cả các văn bản mà đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị ban hành theo các quy định của bản điều lệ để biết công ty được làm gì nhằm ràng buộc nó vào hành vi mà nó muốn thực hiện với họ (vay tiền, hay bán Công ty, kêu gọi đầu tư…).

Continue reading

TẬP ĐOÀN KINH TẾ: CỞI TRÓI!

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Nghị định 101 của Chính phủ đã góp phần xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 31.12.2008, tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn kinh tế nhà nước (Dầu khí, Than Khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông) là 128.786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối năm 2007, chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Những con số này cho thấy hoạt động của các tập đoàn kinh tế đang có nhiều vấn đề.

Thực tế, các tập đoàn kinh tế đang gặp khó khăn trong việc xác định mối quan hệ và liên kết giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phận quản lý trong bộ máy quản lý tập đoàn). Các tập đoàn kinh tế cho rằng, nguyên do nằm ở việc thiếu khung pháp lý điều chỉnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của tập đoàn là quan trọng, nhưng vấn đề không chỉ ở khung pháp lý.

Địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế

Nhằm đóng góp vào khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế tại Việt Nam, ngày 5.11.2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước (Nghị định 101). Theo Điều 4 Nghị định 101, tập đoàn kinh tế nhà nước được thí điểm thành lập theo nghị định này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ – công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

Continue reading

KIỂM SOÁT VIÊN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÀ TỔ CHỨC

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Vào ngày 01/7/2010, thời hạn chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước kết thúc, đương nhiên các công ty nhà nước đồng loạt chuyển thành công ty TNHH một thành viên là tổ chức. Khi đó nhà nước là một chủ sở hữu vô hình của các công ty TNHH một thành viên, còn tài sản của nhà nước lại được giao cho một số ít người quản lý trong bối cảnh pháp luật còn nhiều lỗ hổng để cho những người quản lý đó xâm hại đến tài sản của nhà nước.

Hiện nay, vấn đề quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức chưa được thực sự quan tâm. Bởi vì, loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến so với công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Sau ngày 01/7/2010 (thời điểm cuối cùng để chuyển đổi các DNNN), nếu các DNNN không tiến hành cổ phần hoá hoặc không chuyển đổi thì đương nhiên các doanh nghiệp đó sẽ trở thành công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức trở thành vấn đề bức thiết và gay gắt nhất, không tìm hiểu kỹ có thể sẽ dẫn đến những sai lầm về quản trị.

Kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức là một cá nhân do tổ chức là chủ sở hữu bổ nhiệm để kiểm soát các hoạt động của công ty nên vài trò của kiểm soát viên rất lớn. Ý nghĩa của việc quy định chức danh kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức vì chủ sở hữu là một thực thể pháp lý vô hình, không thể trực tiếp quản lý hay điều hành công ty nên phải có một người thay mặt chủ sở hữu kiểm soát các hoạt động của công ty cũng như giám sát những người quản lý, điều hành nhằm đảm bảo tài sản của chủ sở hữu không bị thất thoát.

Continue reading

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại TP.HCM – NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TẦN XUÂN BẢO

1. Đặt vấn đề

Luật Doanh nghiệp (DN) ra đời đã có tác động rất tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nửụực ta, kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp thuộc khu vưc ngoài Nhà nước mới đăng ký liên tục tăng lên. Tính đến hết tháng 6/2005 đã có gần 140 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký (trong 9 năm 1991-1999 có khỏang hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 180 nghìn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong thời gian 2000-6/2005 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999).

Riêng đối với TP.HCM, chỉ sau 5 năm thực hiện luật DN, số lượng doanh nghiệp thành lập mới của thành phố tăng nhanh chóng. Từ đó đã thu hút được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng vốn đầu tư cho xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên do Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời Luật Doanh nghiệp lại được thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp chung của nước ta còn chưa đầy đủ, đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc, trở ngại là điều không thể tránh khỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần phân tích, đánh giá, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn để có cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý các DN của Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.

2. Những khó khăn vướng mắc

Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,qua khaỷo saựt thửùc teỏ,noồi leõn moọt soỏ những vấn đề chính sau đây:

Continue reading

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SAU ĐĂNG KÝ KINH DOANH TẠI TP.HCM – NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ KIẾN NGHỊ

TS. TẦN XUÂN BẢO

1. Đặt vấn đề

Luật Doanh nghiệp (DN) ra đời đã có tác động rất tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nửụực ta, kể từ năm 2000 số lượng doanh nghiệp thuộc khu vưc ngoài Nhà nước mới đăng ký liên tục tăng lên. Tính đến hết tháng 6/2005 đã có gần 140 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký (trong 9 năm 1991-1999 có khỏang hơn 40.000 doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở nước ta lên khoảng 180 nghìn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong thời gian 2000-6/2005 cao gấp 3,5 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999).

Riêng đối với TP.HCM, chỉ sau 5 năm thực hiện luật DN, số lượng doanh nghiệp thành lập mới của thành phố tăng nhanh chóng. Từ đó đã thu hút được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng vốn đầu tư cho xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố và các Tỉnh lân cận. Tuy nhiên do Luật Doanh nghiệp mới ban hành, đồng thời Luật Doanh nghiệp lại được thực hiện trong bối cảnh hệ thống luật pháp chung của nước ta còn chưa đầy đủ, đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc, trở ngại là điều không thể tránh khỏi. Bài viết này nhằm mục đích góp phần phân tích, đánh giá, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn để có cơ sở khoa học và thực tiễn quản lý các DN của Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.

2. Những khó khăn vướng mắc

Trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh,qua khaỷo saựt thửùc teỏ,noồi leõn moọt soỏ những vấn đề chính sau đây:

Continue reading

THỰC TRẠNG KINH DOANH ĐA NGÀNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TRẦN THỊ NGUYỆT & TRẦN TRUNG VĨ – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

TÓM TẮT

Tập đoàn kinh tế và các Tổng công ty Nhà nước là mô hình doanh nghiệp thể hiện sức mạnh kinh tế của một đất nước. Vấn đề quản lý và năng lực quản lý của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm cả ở phương diện kinh tế và phương diện xã hội. Hiện nay, các doanh nghiệp khổng lồ này đang bị xã hội lên tiếng chỉ trích về xu hướng mở rộng kinh doanh đa ngành xa rời ngành kinh doanh chính. Vấn đề quản lý Nhà nước đối với phần vốn Nhà nước đang bộc lộ sự bất hợp lý.

Việc tìm ra một mô hình cơ quan quản lý Nhà nước phù hợp để quản lý các doanh nghiệp này là một việc làm bức thiết. Bài viết này đề cập tới mô hình tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam hiện nay và vấn đề năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước trong xu hướng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.

Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay không hiếm các doanh nghiệp có quy mô lớn tồn tại dưới dạng tập đoàn kinh tế hay tổng công ty Nhà nước. Do điều kiện phát triển kinh tế đặc thù của Việt Nam mà các tập đoàn kinh tế hay tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở các quyết định hành chính của Nhà nước chứ không phải được hình thành trên nhu cầu tích tụ nội tại hoặc theo nhu cầu của thị trường như ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường khác. Chính vì thế, vấn đề quản lý và năng lực quản lý của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm cả ở phương diện kinh tế và phương diện xã hội.

Theo các số liệu thống kê của Bộ Tài chính Việt Nam đến hết năm 2008, vốn đi vay của 70 tập đoàn kinh tế và tổng công t y Nhà nước đã là hơn 448 ngàn tỷ VND, gấp 4 lần số vốn chủ sở hữu. Điều đáng chú ý ở đây là vấn đề hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước này như thế nào khi mà họ đã sử dụng vốn đó vào các mục đích kinh doanh ngắn hạn, vào các lĩnh vực nhiều rủi ro, nhạy cảm, đầu tư dàn trải. Bài viết này bàn về hai vấn đề: năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh của hệ thống tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam hiện nay trong xu hướng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.

Continue reading

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐỘC LẬP: QUI ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN

LÊ HOÀNG TÙNG

Thời gian gần đây, một số công ty cổ phần Việt Nam đã bày tỏ mong muốn và xúc tiến các thủ tục cần thiết để đăng ký niêm yết tại nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình đó gặp không ít khó khăn mà các yêu cầu về cơ chế quản trị nội bộ và thành viên HĐQT độc lập là một trong các vướng mắc.

Thành viên Hội đồng quản trị độc lập

Trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý thường không phải là cổ đông nắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông. Do đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường niêm  yết thường yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có sự tham gia của các thành viên HĐQT độc lập (Independent directors – ID). Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các quốc gia trong quy định về ID, nhưng tựu chung có thể thấy ID bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tính độc lập như sau:

1. Độc lập trong quan hệ nhân thân

– Không từng là nhân viên, người quản lý điều hành của công ty, người đại diện vốn của công ty mẹ tại công ty trong vòng 3-5 năm trước đó.

– Không có mối quan hệ, liên kết với người quản lý điều hành, nhân sự cấp cao của công ty, cổ đông lớn (sở hữu một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của công ty trở lên).

Continue reading