THẾ NÀO LÀ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG?

HUY NAM

Không đơn giản chỉ là loại “hơn trăm cổ đông, trên mười tỉ bạc”, công ty có năm ba cổ đông vẫn có thể là anh đại chúng. Đại chúng là một khuôn khổ được luật chế định, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi vào theo ước lệ sau khi tiến hành một bước đi nào đó. Để có thể hiểu rõ về công ty đại chúng ta sẽ bắt đầu từ công ty nội bộ.

Thế nào là công ty nội bộ? Công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) thường là dạng công ty nhỏ, sở hữu bởi một số ít người, không được gọi vốn rộng rãi, không có giao dịch chứng khoán, ít bị áp lực giám sát, yêu cầu minh bạch theo thủ tục (về sổ sách, báo cáo) không cao, loại được khả năng bị thâu tóm, và một số đặc điểm khác tùy theo luật mỗi nước.

Nhìn chung số cổ đông được giới hạn dưới 50.Ở Mỹ, loại công ty nội bộ điển hình có tình trạng pháp lý gọi là “S Corporation”. Theo luật thuế thu nhập của Mỹ, S Corporation không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, toàn bộ lợi nhuận công ty và cổ tức được đưa về cho cổ đông khai thuế (nghĩa là không bị đánh thuế hai lần).

Để được xem là S Corporation, công ty phải đáp ứng một số yêu cầu bắt buộc. Theo đó, công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100 người. Cổ đông phải là người phàm xác thịt (không phải là tổ chức) và phải là công dân Mỹ, đây chính là công ty 100% vốn trong nước vậy.

Công ty nội bộ thường là loại có địa bàn hoạt động hẹp, hiện diện theo địa phương, được tổ chức theo đặc điểm ngành nghề và không (hay chưa) có nhu cầu huy động vốn lớn. Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh loại này có vốn thành lập nhỏ, chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là đủ.

Continue reading

BÀN VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

GS.TS. HỒ SĨ THOẢNG

Hội đồng quản trị (HĐQT) trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) xuất hiện lần đầu tiên trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995. Từ đó, thiết chế này được áp dụng đại trà trong các DNNN, trước hết là trong các tổng công ty Nhà nước. Ngay từ đó, trong một số cuộc thảo luận về vấn đề cơ quan quản lý và điều hành DNNN, ý kiến về sự cần thiết có HĐQT vẫn còn phân tán. Lý do có trọng lượng nhất đưa đến sự hình thành HĐQT là để bảo đảm cho sự vận hành nghiêm túc cơ chế “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra nếu để một mình tổng giám đốc (TGĐ)/giám đốc (GĐ) điều hành doanh nghiệp.

Đương nhiên, đó là lý do hết sức xác đáng. Chỉ có doanh nghiệp tư nhân do một người làm chủ thì mới không có và không cần có sự quản lý của tập thể nào cả. Trong các công ty cổ phần với hàng ngàn, hàng vạn, thậm chí hàng triệu cổ đông thì đương nhiên không có hình thức quản lý nào hợp lý hơn là các cổ đông bầu những người đại diện cho mình vào HĐQT. Nghĩa là các cổ đông thực hiện quyền làm chủ công ty thông qua những người đại diện của mình trong HĐQT. Tuy nhiên, vấn đề trở nên hết sức phức tạp đối với trường hợp DNNN hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

HĐQT đại diện cho ai?

Về mặt lý thuyết, chủ sở hữu DNNN là Nhà nước (Chính phủ, các Bộ, ủy ban nhân dân các cấp), HĐQT là người thay mặt Nhà nước. Nhưng chỉ đi thêm một bước nữa vấn đề đã trở nên phức tạp. Ai là người được Nhà nước giao trách nhiệm làm chủ sở hữu DNNN thực sự? Đã 10 năm trôi qua từ khi Luật DNNN ra đời với một lần sửa đổi, đối với DNNN trung ương, câu trả lời vẫn là các Bộ. Tuy nhiên, các Bộ cũng không thực thi đầy đủ vai trò là chủ sở hữu thật sự. Rất nhiều Bộ có quyền can thiệp vào hoạt động của DNNN, nhưng khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì hầu như không ai là người chịu trách nhiệm.

Continue reading

QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ – NHỮNG THÁCH THỨC LỚN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Cty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) không có tư cách pháp nhân, không phải một doanh nghiệp. Vì vậy, đặt vấn đề quản trị TĐKT dường như là vô nghĩa. Song, xét cả về lý thuyết và thực tiễn, vấn đề không đơn giản như vậy. TĐKT hình thành, tồn tại và phát triển được là nhờ những liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau. Do đó, quản trị TĐKT chính là quản trị những liên kết đó. Vậy, quản trị TĐKT có những đặc thù gì? Và từ những đặc thù đó, có những thách thức gì? Cần giải quyết những vấn đề gì để nâng cao năng lực quản trị trong các TĐKT ở nước ta hiện nay?

Đặc trưng của quản trị các TĐKT

“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh”. Đó là một trong những khái niệm về TĐKT. Khái niệm trên cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất của TĐKT là không có tư cách pháp nhân. Trong khi đó, theo Luật Dân sự,  một doanh nghiệp, một công ty độc lập có tư cách pháp nhân lại có và buộc phải có đầy đủ bốn điều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Vì vậy, quản trị một công ty – một pháp nhân, tức là quản trị một “tổ chức chặt chẽ”. Hơn nữa, chính việc hình thành một cơ cấu tổ chức chặt chẽ lại trở thành một trong những biện pháp quan trọng để quản trị pháp nhân đó. Ngược lại, TĐKT thiếu cả bốn điều kiện của một pháp nhân và nhân tố quan trọng nhất của một TĐKT là “tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định”. Dó đó, quản trị TĐKT hoàn toàn khác với quản trị một công ty. Đối tượng của quản trị TĐKT không phải là một tổ chức được thành lập theo những quy định chặt chẽ của pháp luật; không phải là những quan hệ ngang, dọc, trên, dưới trong một bộ máy tổ chức; không phải là một số vốn đầu tư của TĐKT và cũng không phải những quan hệ pháp luật của nó với các TĐKT khác. Quản trị TĐKT là quản trị các mối quan hệ liên kết tự nguyện giữa các pháp nhân độc lập. Vì vậy, đối tượng của quản trị TĐKT là một “tập hợp mờ” trong quản lý. Đó là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của việc quản trị TĐKT.

Continue reading

BÀN VỀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP CỦA CÔNG TY

I. THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP ANH LÀ AI?

HẢI LÝ

Chúng tôi sẵn sàng trả lương cao và các ưu đãi đi kèm cho những người có thể đại diện cho chúng tôi làm thành viên độc lập trong hội đồng quản trị (HĐQT) những doanh nghiệp nơi chúng tôi góp vốn – tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ cho biết. Tìm kiếm người làm thành viên độc lập trong HĐQT đang không chỉ là vấn đề đối với các tổ chức, quỹ đầu tư mà còn của nhiều doanh nghiệp niêm yết. Thành viên độc lập, anh là ai? Và vì sao thị trường tài chính lại cần đến anh vào lúc này?

“Độc lập” trên giấy

Hai năm trước ở một công ty sản xuất dầu ăn niêm yết trên sàn TPHCM đã xảy ra mâu thuẫn giữa HĐQT và ban tổng giám đốc. Hai thành viên độc lập trong HĐQT đại diện cho các quỹ nước ngoài, “đấu tranh” bảo vệ tổng giám đốc, nhưng đã không có kết quả vì chủ tịch HĐQT đại diện cho phần vốn nhà nước 51% có quyền phủ quyết tại đại hội. Cuối cùng các thành viên độc lập từ chức, quỹ đầu tư thoái vốn. Sự rút lui của họ cho thấy vai trò của thành viên độc lập chưa thể thể hiện hiệu quả trong những hoàn cảnh nhất định.

Khoản 1, điều 11, Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13-3-2007 về việc ban hành quy chế quản trị doanh nghiệp áp dụng cho các công ty niêm yết, quy định số lượng thành viên HĐQT một đơn vị ít nhất là 5 người, nhiều nhất 11 người, trong đó một phần ba là thành viên độc lập không điều hành. Khái niệm về thành viên độc lập theo các văn bản pháp lý cho đến nay chỉ có thế. Ngoài ra không ở đâu, không văn bản nào định nghĩa thành viên độc lập là gì, họ phải đáp ứng những tiêu chí nào, trình độ, kinh nghiệm ra sao.

Không có tiêu chí, cũng chẳng có hướng dẫn, nhưng các công ty niêm yết vẫn phải bầu cho được thành viên độc lập vào HĐQT. Vì thế, trong các đợt tập huấn công ty đại chúng, nhiều doanh nghiệp đứng lên hỏi, song đại diện cơ quan quản lý cũng không biết trả lời ra sao. Hỏi không được trả lời, nhưng vẫn phải thực hiện quy định.

Ở nhiều nước, thành viên độc lập là một nghề, được đào tạo hẳn hoi và được trả lương xứng đáng. Việt Nam chưa có một nghề như vậy!

Continue reading

BỔ NHIỆM VÀ BÃI MIỄN TỔNG GIÁM ĐỐC: THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?

PHẠM HUẤN

TGĐ là người đại diện theo pháp luật của một DN. Vậy, Hội đồng quản trị muốn bãi miễn chức vụ này cần có tiêu chí nào để không xảy ra tranh chấp ?

Cty cổ phần S là một Cty niêm yết. Theo Điều lệ Cty thì TGĐ là người đại diện theo pháp luật. Tháng 10/2007, Chủ tịch HĐQT Cty lấy ý kiến các thành viên HĐQT bằng văn bản về việc bãi miễn TGĐ cũ (là thành viên HĐQT) và bổ nhiệm TGĐ mới. Kết quả kiểm phiếu cho thấy có 3/4 phiếu biểu quyết đồng ý, 1/4 phiếu không có ý kiến (theo Khoản 5 Điều 31 Điều lệ mẫu thì việc bãi miễn TGĐ cũ phải được ít nhất 2/3 thành viên HĐQT biểu quyết tán thành và trong trường hợp này không tính biểu quyết của TGĐ). Sau đó, Chủ tịch HĐQT đã ký Quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới.

Tuy vậy, TGĐ cũ tuyên bố việc bổ nhiệm TGĐ mới chưa có hiệu lực vì: Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 14 Điều lệ mẫu thì việc bổ nhiệm TGĐ mới của HĐQT phải được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) phê chuẩn. Ngoài ra, TGĐ là người đại diện theo pháp luật, mà việc thay đổi người đại diện theo pháp luật theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP cần phải có Biên bản và Quyết định của ĐHĐCĐ. Dựa vào các căn cứ pháp lý trên, TGĐ cũ nhất định không chịu bàn giao công việc, sổ sách, con dấu Cty.

Chủ tịch HĐQT lập luận rằng theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 25 Điều lệ mẫu và Điểm h Khoản 2 Điều 108 Luật DN 2005 thì HĐQT có toàn quyền bãi miễn TGĐ cũ và việc bãi miễn này không cần phải phê chuẩn của ĐHĐCĐ nên người bị bãi miễn không còn là TGĐ nữa. Còn đối với việc bổ nhiệm TGĐ mới cần phải có sự phê chuẩn của ĐHĐCĐ mới có hiệu lực thì trong thời gian chờ phê chuẩn của ĐHĐCĐ, người được bổ nhiệm giữ chức vụ quyền TGĐ.

Những vấn đề cần giải quyết

Vậy quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới có hiệu lực khi nào? Tranh chấp xảy ra tại thời điểm Luật DN 2005 có hiệu lực, nên căn cứ để giải quyết là Luật DN 2005 và Điều lệ Cty.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

TS. TRẦN TIẾN DŨNG

Thế giới đang có những biến chuyển rất nhanh và mạnh, xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi nước ta phải sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo vòng quay của bánh xe lịch sử dân tộc, các doanh nghiệp ngành Xây dựng Việt Nam đang đứng trước những  thách thức, yêu cầu khắt khe của kinh tế thị trường và hơn bao giờ hết phải có những nhìn nhận đúng đắn về đường đi nước bước, thế giới quan đúng đắn về tư duy phát triển của doanh nghiệp trong thị trường xây dựng.

Trong định hướng phát triển, Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại”. Để có sự phát triển bền vững theo định hướng đúng đắn mà Đảng đã chỉ ra, các doanh nghiệp xây dựng trước hết cần có những nhận thức thật sự khách quan về những gì mà đất nước đang làm, những điều cần tuân thủ, những hướng đi mà doanh nghiệp cần phải theo. Cơ chế trong đầu tư xây dựng công trình, trong giám sát hợp đồng, cơ chế trong cạnh tranh, quan hệ cung cầu đã khác rất nhiều so với những năm trước đây. Doanh nghiệp xây dựng với tư cách là chủ thể tham gia thị trường xây dựng cần có cách nhận thức mới về vấn đề này. Kinh nghiệm trên thế giới, các doanh nghiệp phải xem xét kỹ lưỡng từ những đường lối tổng quát của quốc gia tới những cơ chế vận hành của thị trường đối với ngành sản phẩm của doanh nghiệp. Đó là một cách thức tốt cho việc hoà mình vào môi trường kinh doanh và đảm bảo hữu hiệu cho phát triển bền vững. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trao đổi một số vấn đề xung quanh kinh nghiệm này.

Chúng ta cùng nhau nhìn vào thực tế để thấy được những gì mà đất nước đang làm; trên cơ sở đó nhận ra những tác động đến doanh nghiệp xây dựng và  định dạng cho mình cách ứng xử phù hợp :

– Đất nước đang phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp. (Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới thì ngưỡng của Nước có thu nhập thấp năm 2010 có thể là 950 USD/người. Việt Nam đến 2010 có thể đạt 1050 – 1100 USD/người). Kinh tế phát triển, thu nhập cải thiện sẽ làm cho nhu cầu xã hội về sản phẩm xây dựng ngày càng lớn và “khó tính” hơn.

Continue reading

MỘT VÀI NÉT VỀ SỞ HỮU VỚI PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP, KHÁC KHU VỰC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1. Việc phân định các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra.

Từ việc hình thành những hình thức sở hữu khác nhau và theo nó là những hình thức thực hiện lợi ích kinh tế khác nhau qua việc phân định theo thành phần kinh tế, khu vực kinh tế và loại hình doanh nghiệp (DN) như sau:

Bảng 1: Thành phần kinh tế. Loại hình doanh nghiệp. Khu vực kinh tế

Presentation1

Continue reading

CẤU TRÚC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP

TỪ THẢO – Chuyên gia Luật kinh tế

1. Mô hình quản trị công ty cổ phần (CTCP)

Trong Luật doanh nghiệp 1999, qui định về CTCP là phần quy định chặt chẽ nhất, chi tiết nhất. Tuy nhiên, với Luật doanh nghiệp 2005, các quy định này còn cụ thể hơn, chi tiết hơn và tiến gần hơn tới các chuẩn mực chung của thế giới về quản trị CTCP. Khung quảng trị CTCP được hoàn thiên hơn, rõ ràng hơn và bảo vệ mạnh mẽ hơn nữa quyền và lợi ích của cổ đông, đặc biệt là các cổ đông thiểu số, xác định rõ hơn các nghĩa vụ của ngươi quản lý, nhất là đối với thành viên HĐQT và GĐ/TGĐ, đặc biệt là nghĩa vụ trung thành, trung thực và cẩn trọng, quy định rõ điều kiện, và tiêu chuẩn của các chức danh quản lý trong công ty, tăng thêm quy định về công khai và minh bạch hoá, nhất là đối với những người quản lý, nâng cao, tăng cường và quy định cụ thể hơn vai trò, vị trí và trách nhiệm của Ban kiểm soát… Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể về bộ máy quản lý CTCP theo qui định của Luật DN 2005.

Điều 95 Luật doanh nghiệp 2005 quy định mô hình quản trị CTCP như sau:

“Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.”

Như vậy, theo Luật doanh nghiệp 2005, cơ cấu tổ chức quản lý CTCP được thiết kế theo một trong hai mô hình sau:

Mô hình 1: Mô hình (phải) có Ban kiểm soát

Presentation1 

Continue reading

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

TỪ THẢO – Chuyên gia Luật Kinh tế

Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. “Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”[1].

Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)…[2].

Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm xuất hiện loại hình CTCP. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, nhu nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt”[3].

Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần. Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần.

Continue reading

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: KINH NGHIỆM TỪ ĐỨC

PHẠM ĐỨC TRUNG – Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trên thế giới hiện chỉ ba nước có quy định riêng điều chỉnh tập đoàn: Đức (German Aktiengesetz – 1965), Bồ Đào Nha (“Código das Sociedades Comerciais”) và Brazil (“Lei das Sociedades Anónimas” of 1976). Trong đó Đức được coi là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Bài viết dưới đây được coi như gợi ý trong việc xây dựng mô hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) tư nhân tại VN.

Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, đa số quan niệm TĐKT là nhóm, tập hợp, tổ hợp các DN độc lập. Hầu hết không quy định về TĐKT với tư cách một chủ thể pháp luật. Tuy nhiên Đức và một vài nước khác là những trường hợp đặc thù.

Đức không có luật, nghị định riêng về TĐKT nhưng TĐKT – Konzern là đối tượng điều chỉnh của một số quy định trong pháp luật về tổ chức DN.

Các mô hình tổ chức

Có hai mô hình chủ đạo Unterordnungskonzern: Tập đoàn kinh tế phụ thuộc hoặc tập đoàn kinh tế theo thứ bậc và Gleichordnungkonzernen: Tập đoàn kinh tế đồng cấp hoặc tập đoàn kinh tế không phụ thuộc.

Đối với TĐKT đồng cấp, vị thế bình đẳng giữa các DN thành viên (không có DN chi phối). Các DN tự ký kết hợp đồng để hình thành sự chỉ đạo thống nhất (cho phù hợp với khái niệm TĐKT của luật). Họ cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tập đoàn (dưới hình thức một hội đồng tham vấn hoặc tương tự). Tuy nhiên, hiện mô hình này không phổ biến và ít được pháp luật điều chỉnh.

Mô hình TĐKT phụ thuộc hoặc TĐKT theo thứ bậc hiện diễn ra phổ biến ở Đức. Theo đó các DN bị chi phối hoạt động dưới sự lãnh đạo của DN chi phối. Có ba dạng liên kết: Liên kết thâu tóm; Liên kết hợp đồng; Liên kết theo tình huống. Liên kết thâu tóm gồm: Cty bị thâu tóm vẫn là pháp nhân độc lập nhưng thực tế như một bộ phận kinh doanh của Cty nắm quyền chi phối. Quan hệ này rất gần với quan hệ hợp nhất và sáp nhập.

Continue reading

CÔNG TY NẮM VỐN – HÌNH THỨC ĐỂ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC BẢO HIỂM THEO LUẬT HOA KỲ

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết khảo cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn hình thành công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính ở Hoa kỳ. Mô hình công ty này cho phép định chế tài chính là ngân hàng khả năng sử dụng khả năng tài chính của chủ sở hữu để tham gia hoạt động tài chính đa dạng trong lĩnh vực bảo hiểm và chứng khoán thông qua hình thức thành lập công ty đầu tư tài chính theo Luật Gram-Leach-Billey. Công ty đầu tư tài chính được trao quyền tự chủ trong quyết định đầu tư, công ty đầu tư ngân hàng có thể chuyển đổi sang hình thức công ty đầu tư tài chính để tham gia kinh doanh bảo hiểm.

Để chuyển sang hình thức công ty đầu tư tài chính, các công ty con của nó phải đạt những tiêu chuẩn về tài chính nhất định. Khi công ty đầu tư tài chính sở hữu công ty bảo hiểm, thì công ty bảo hiểm ngoài sự chi phối của công ty đầu tư tài chính, còn chịu sự giám sát của Cục bảo hiểm của tiểu bang. Điểm mà Việt Nam có thể tham khảo là Luật hoá quyền tham gia đầu tư trong lĩnh vực tài chính của ngân hàng thương mại, và xây dựng cơ chế kiểm soát đầu tư vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ngân hàng.

Năm 1999, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật Gramm-Leach-Bliley – Luật cải cách chế độ tài chính (Luật GLB), Luật này đã cho phép thành lập công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính (Financial holding company – FHC), theo đó

các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính khác có thể hợp nhất hoặc sáp nhập vào nhau. Luật GLB được ban hành nhằm thúc đẩy sự năng động của ngân hàng thương mại và sử dụng ngân hàng thương mại là một tổ chức hỗ trợ tái thiết các công ty thuộc lĩnh vực tài chính.

Ở nước ta, gần đây các ngân hàng thương mại đã mở rộng hoạt động sang lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm. Ngâ nhàng thương mại có thể kinh doanh bảo hiểm thông qua làm đại lý bảo hiểm tại các chi nhánh ngân hàng hoặc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm. Cơ sở pháp lý cho hình thức tham gia này là Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội ban hành năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Để được góp vốn vào công ty bảo hiểm, Ngân hàng thương mại phải bảo đảm các tỉ lệ an toàn trong hoạt động theo qui định của Ngân hàng Nhà nước.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. LÊ HỒNG TỊNH

Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá IX), Chính phủ đã tiến hành từng bước hình thành thí điểm các Tập đoàn kinh tế (TĐKT) với mục tiêu: hình thành một số TĐKT mạnh trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

Nhìn lại 3 năm trước, khi 7 Tổng công ty 91 được thí điểm chuyển đổi thành TĐKT, đây thực sự là bước đổi mới, kịp thời với tiến trình hội nhập, nâng cao tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các Tổng công ty.

Sau 3 năm hoạt động thí điểm, về cơ bản, các TĐKT đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; cùng với các tổng công ty nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; góp phần bảo đảm điều tiết vĩ mô của Nhà nước; tham gia tích cực vào việc bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế. Một số TĐKT giữ vai trò cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, điển hình như Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, đóng góp vào khoảng 30% GDP cho đất nước.

Một số TĐKT đã đầu tư mở rộng tầm hoạt động, phát triển ngành nghề phụ trợ, không chỉ tập trung đầu tư trong nước mà bước đầu vươn ra đầu tư ở nước ngoài, tạo dựng được hình ảnh của Việt Nam trong một số lĩnh vực đối với khu vực và trên thế giới. Quy mô vốn sở hữu của các TĐKT tăng lên đáng kể. Các tập đoàn đã huy động được một lượng vốn khá lớn từ các thành phần kinh tế khác, thông qua việc cổ phần hoá các công ty thành viên của tập đoàn và thành lập mới các công ty cổ phần.

Chính trong thời gian thí điểm này, thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các TĐKT, đã phát hiện và dần giải quyết một số khúc mắc như, khuôn khổ pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các tập đoàn vẫn chưa hoàn thiện. Hiệu quả hoạt động của một số TĐKT còn chưa tương xứng với nguồn lực hiện có; cá biệt một vài TĐKT chưa nổi bật, chưa bền vững về chất lượng và hiệu quả so với khi còn là tổng công ty nhà nước.

Continue reading

MUỐN LÀM ĐÚNG LUẬT ĐÂU CÓ DỄ

image LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Việc xác định các tỷ lệ tối thiểu để thông qua các quyết định là một trong những yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, gần 3 năm qua, mặc dù văn bản đã chỉ rõ, nhưng việc áp dụng vẫn còn nằm trong vòng bế tắc mơ hồ.

Tưởng đã rõ như ban ngày

Luật Doanh nghiệp năm 1999 trước đây quy định các tỷ lệ tối thiểu để tổ chức các cuộc họp của Hội đồng thành viên công ty TNHH là có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 65%; họp Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần là có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Nhưng đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, tỷ lệ này bất ngờ được nâng lên thành 75% và 65% (Điều 51 và 103). Tương tư: tỷ lệ tối thiểu để biểu quyết cũng được nâng từ 51% lên 65% (Điều 53 và 104). Ngoài ra tỷ lệ biểu quyết đối với một số vấn đề quan trọng còn được nâng từ 65% lên 75%.
Đó là những cái chốt nhằm bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, nhưng lại gây trở ngại lớn cho việc thông qua các quyết định, tăng thêm nhiều trường hợp bế tắc trong thực tế quản trị công ty, đồng thời cũng đi ngược lại với thông lệ quốc tế. Vì vậy, Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chỉnh sửa lại bằng cách cho phép "Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm". Phụ lục áp dụng kèm theo Nghị quyết nêu ra 7 đạo luật, trong đó có Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cụ thể, phần nội dung áp dụng đối với các điều 51, 52, 103 và 104 của Luật Doanh nghiệp như sau:
"Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:
1. Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

Continue reading

MỘT SỐ SO SÁNH VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT CÔNG TY NHẬT BẢN VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

Tóm tắt. Luật công ty (LCT) Nhật Bản và Luật doanh nghiệp (LDN) Việt Nam đều có những qui định tương đồng về quyền của cổ đông như qu yền hưởng lợi tức cổ phần, qu yền biểu quyết, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, qu yền xem xét trích lục các thông tin, v.v… và qui định về tổ chức nội bộ công ty cổ phần (CTCP) bao gồm Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS). Bảo vệ cổ đông của CTCP và xây dựng mô hình tổ chức nội bộ phù hợp là những vấn đề trung tâm trong LCT Nhật Bản và LDN Việt Nam.

CTCP ở Việt Nam có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong cơ cấu cổ đông, mặc dù đạt được mục đích duy trì qu yền chi phối trong công ty nhưng trong nhiều công ty, vị thế của cổ đông nhà nước bị lạm dụng dẫn tới làm thiệt hại cho cổ đông nói chung. Ở Nhật Bản nhằm khắc phục tình trạng hình thức hóa của HĐQT, BKS đã xây dựng mô hình tổ chức nội bộ mới trong đó thành lập các Ủy ban trực thuộc HĐQT trong đó có Ủy ban giám sát làm nhiệm vụ giám sát thường xuyên hoạt động quản lý điều hành công ty thay cho BKS của mô hình cũ.

Từ sự so sánh đối chiếu cho thấy rằng, tạo ra tổ chức nội bộ phù hợp nhằm kiểm soát thường xuyên trong cơ quan thường trực quản lý giám sát hoạt động kinh doanh là HĐQT. Sự du nhập mô hình tổ chức nội bộ mới ở Nhật Bản tạo ra sự phân qu yền và giám sát lẫn nhau trong HĐQT trong thực hiện hoạt động quản lý, điều hành kinh doanh và giám sát. Đây có thể trở thành bài học kinh nghiệm cho Việt Nam cho hoàn thiện pháp luật công ty để bảo vệ cổ đông và xây dựng mô hình tổ chức nội bộ phù hợp.

1. Tình hình nghiên cứu so sánh pháp luật về công ty cổ phần ở Nhật Bản và Việt Nam

Hiện nay ở nước ta, có nhiều nghiên cứu của các học giả kinh tế và pháp luật về CTCP trong nước như nghiên cứu CTCP gắn với thị trường chứng khoán, nghiên cứu về quản lý của CTCP và quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP có một số nghiên cứu so sánh LDN ở Việt Nam và các nước [1].

Continue reading

KHÍA CẠNH KINH TẾ CỦA PHÁP LUẬT

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLC)

Bài viết “Một nghị định vô hiệu hóa một định chế” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh trên TBKTSG số 16-2010 ngày 15-4-2010 cho rằng Nghị định số 01/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ có hiệu lực áp dụng từ ngày 25-2-2010 đã vô hiệu hóa một định chế pháp lý doanh nghiệp – công ty cổ phần (CTCP).

Nếu nói vô hiệu hóa cả một định chế CTCP thì sẽ còn nhiều điều để bàn, tuy nhiên nói vô hiệu hóa một cơ chế, một cách thức huy động vốn hiệu quả của CTCP hiện nay thì đã thấy rõ bởi việc áp dụng quy định nói trên của các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn.

Dưới đây là sự nhìn nhận Nghị định 01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ từ góc độ tính “kinh tế” của một quy định.

Khía cạnh kinh tế của quy định hiện hành về chào bán riêng lẻ

Thực tiễn cho thấy các công ty cổ phần ở nước ta đã có những bước phát triển thông qua việc huy động nguồn vốn theo những cách thức dễ dàng và hiệu quả, đến khi có quy mô vốn hàng chục, hàng trăm tỉ đồng mới chào bán cổ phiếu ra công chúng hay niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Thực chất hoạt động phát hành cổ phần xuất phát từ nhu cầu tăng vốn kinh doanh (vốn điều lệ của CTCP) thông qua việc huy động từ các thành viên trong gia đình, bạn bè thân hữu hay những đối tác chiến lược đã trở thành một công cụ huy động vốn hiệu quả, thiết thực.

Những bước đi vững chắc, thành công với những dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả được bảo đảm bởi một cơ chế huy động, đóng góp vốn hiệu quả, linh hoạt gắn kết lợi ích của người góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phần riêng lẻ như thế. Trong khi hoạt động này đang phát huy tốt vai trò huy động hiệu quả và an toàn các nguồn vốn, chưa phát sinh bất ổn, rủi ro cũng đã được kiểm soát bởi các quy định của pháp luật ở mức độ hợp lý thì việc tiếp tục đưa ra các cơ chế quản lý dù theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp hành lang pháp lý đều là không cần thiết và tốn kém chi phí.

Continue reading

MỘT NGHỊ ĐỊNH VÔ HIỆU HÓA MỘT ĐỊNH CHẾ

NGUYỄN NGỌC BÍCH & NGÔ DUY MINH – Công ty Luật Hợp danh DC

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4-1-2010 và định chế kia là công ty cổ phần. Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư (KH-ĐT), ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Continue reading

KHÔNG THỂ SỬA ĐỔI LUẬT BẰNG NGHỊ ĐỊNH

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã đưa ra nhiều quy định mới mang tính đột phá, nhằm hóa giải nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng lên những quy định ấy, nhiều điều khoản của dự thảo Nghị định lại trở thành trái luật.

Không công nhận, vẫn đủ tư cách?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. Thông qua người đại diện theo pháp luật để xác định tư cách hợp pháp của người thay mặt doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.

Một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thể thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu không có người đại diện theo pháp luật, thì sẽ dẫn đến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí rơi vào tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

Xét trên tổng thể mấy trăm ngàn doanh nghiệp, thì sự cố này xảy ra rất thường xuyên, phổ biến. Lý do thì vô khối, chẳng hạn do người đại diện bị chết, mất tích, bị cách chức, bị mất khả năng làm việc, trong khi chưa thể hoàn tất được thủ tục bổ nhiệm nhân sự mới và thay đổi đăng ký người đại diện theo pháp luật. Luật Doanh nghiệp đã không thiết kế các quy định cần thiết để xử lý tình huống éo le, do vậy, rất cần được giải quyết trong nghị định.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị định lại đi quá xa bằng việc đưa ra một loạt quy định như: Người được ủy quyền sẽ được “làm người đại diện theo pháp luật” của doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện pháp luật vắng mặt trên 30 ngày.

Hay nếu thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên mà bị tạm giữ, tạm giam, bỏ trốn, bị mất năng lực hành vi dân sự, thì thành viên còn lại sẽ đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

TRẦN VĂN TRÍ

Có ý tưởng kinh doanh mới chỉ là bước khởi đầu cơ bản trên con đường lập nghiệp, quan trọng hơn hết là ý tưởng đó được đưa vào thực tiễn thế nào? Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu về Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay.

1. Định nghĩa

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

2. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty

a. Quyền

– Chủ sở hữu công ty là tổ chức

  • Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
  • Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
  • Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty;
  • Quyết định các dự án đầu tư có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
  • Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
  • Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
  • Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
  • Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
  • Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
  • Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty;
  • Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
  • Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
  • Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản;
  • Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

Continue reading

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

TRẦN VĂN TRÍ

Có ý tưởng kinh doanh mới chỉ là bước khởi đầu cơ bản trên con đường lập nghiệp, quan trọng hơn hết là ý tưởng đó được đưa vào thực tiễn thế nào? Về mặt pháp lý, từ ý tưởng đi đến hiện thực trong kinh doanh phải trải qua một giai đoạn được gọi là đăng ký kinh doanh. Khi pháp luật công nhận một thực thể pháp lý đủ điều kiện tiến hành hoạt động kinh doanh thì khi đó ý tưởng mới thật sự được triển khai. Vậy, thực thể pháp lý đó là gì? Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu về Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay.

1. Định nghĩa

Công ty TNHH là doanh nghiệp, trong đó số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; (Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào.
Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần.

2. Vốn góp

a. Thực hiện góp vốn

– Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết. Trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết thì phải được sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo bằng văn bản nội dung thay đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chấp thuận sự thay đổi.
– Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thông báo bằng văn bản tiến độ góp vốn đăng ký đến cơ quanđăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn và phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại cho công ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không chính xác, không trung thực, không đầy đủ.
– Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết.
– Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách sau đây:

Continue reading