VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ ĐIỂN HÌNH VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

ĐỖ QUỐC QUYỀN – Học viện Tài chính

Những vướng mắc pháp lý về tổ chức và quản lý công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam hiện hành chủ yếu là những mâu thuẫn giữa các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan dẫn đến việc giải thích và vận dụng sai lệch, không thống nhất hoặc những khuyết thiếu của pháp luật chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế.

A. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN

1. Quy định về căn cứ và thời điểm xác lập tư cách cổ đông của Luật Doanh nghiệp không thực tế:

Về bản chất, tư cách cổ đông gắn liền với số cổ phần mà cá nhân, pháp nhân sở hữu (đã góp vốn cổ phần do Công ty phát hành hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần từ các cổ đông khác). Tuy nhiên, Điều 87.3 Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005 quy định: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty”.

Chúng tôi xin đặt ra các vấn đề vướng mắc cần được pháp luật quy định rõ như sau:

• Người đã góp vốn cổ phần (có phiếu thu do Công ty cổ phần phát hành), nhưng chưa được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông thì có tư cách cổ đông hay không? Việc ghi thông tin (bao gồm cả sửa chữa thông tin) tại Sổ đăng ký cổ đông là sự đăng ký mang tính thủ tục hay là điều kiện nội dung của tư cách cổ đông?

• Tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng cổ phần: Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có buộc phải có xác nhận của công ty không? Việc Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết nhưng chưa đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông đã có hiệu lực hay chưa? Giá trị pháp lý của việc Công ty xác nhận Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là gì?

Chúng tôi muốn kiến nghị rằng: Pháp luật cần quy định rõ theo hướng, thời điểm xác lập tư cách cổ đông là thời điểm hoàn thành việc góp vốn cho cổ phần tương ứng (căn cứ: phiếu thu) hoặc thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần (căn cứ: hợp đồng chuyển nhượng cổ phần được ký kết kèm theo các tài liệu chứng minh tư cách cổ đông của bên chuyên nhượng). Việc đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông chỉ là thủ tục hình thức, giúp cho Công ty quản lý và liên hệ cổ đông.

2. Yêu cầu huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ quy định tại Điều 107 LDN 2005 chưa hợp lý vì không rõ ràng:

Continue reading

XÂY DỰNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA CHỦ SỞ HỮU

LÊ VĂN TỨ

Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19-3-2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu đã dựng nên một bộ khung cho cơ chế quản lý công ty loại này. Cho nên việc xây dựng cơ chế quản lý mới này đồng nghĩa với việc triển khai thực hiện Nghị định 25 (và có thể còn phải có những văn bản khác nhằm bổ sung, cụ thể hóa những vấn đề mà Nghị định 25 quy định chưa đủ rõ).

Cơ chế quản lý không thể rập khuôn

Căn cứ vào thực tế nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể thấy thành phần kinh tế nhà nước đã được tổ chức theo hai loại hình doanh nghiệp: a) công ty TNHH một thành viên vẫn do Nhà nước làm chủ sở hữu duy nhất; b) công ty cổ phần (có vốn nhà nước) thuộc sở hữu hỗn hợp, trong đó Nhà nước là một đồng sở hữu.

Sở hữu khác nhau thì cơ chế quản lý phải khác nhau. Cho nên cơ chế quản lý của Nhà nước đối với công ty TNHH một thành viên phải khác với cơ chế quản lý phần vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần. Tiếc rằng tư duy này hình như vẫn chưa hình thành rõ nét ở nước ta.

Cho đến nay nhiều người vẫn coi việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã làm và còn tiếp tục làm, cũng như việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên gần đây là đồng nghĩa với việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trong khi thực ra tất cả đều mới chỉ là bước khởi đầu, bước chuyển đổi về sở hữu trên danh nghĩa. Sau bước chuyển đổi này, cần phải có bước chuyển đổi thực chất thông qua việc xây dựng và áp dụng một cơ chế quản lý mới phù hợp với tính chất sở hữu đã có thay đổi.

Thật vậy, sau cổ phần hóa (hoặc chuyển đổi), doanh nghiệp nhà nước A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần A (có vốn nhà nước) hoặc thành công ty TNHH một thành viên A hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Tính chất sở hữu của công ty cổ phần A và công ty TNHH một thành viên A không còn giống nhau nữa. Để bảo đảm cơ chế quản lý phù hợp với tính chất sở hữu, vấn đề đặt ra là cơ chế quản lý của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đối với các công ty này không thể rập khuôn như nhau.

Continue reading

QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN: NHỮNG VƯỚNG MẮC TỪ … PHÁP LÝ

ĐỖ QUỐC QUYỀN – Học viện Tài chính

Những bất cập trong quản trị điều hành DNNN đã được các chuyên gia “mổ xẻ” rất nhiều. Tuy nhiên, vấn đề quản trị, điều hành trong các Cty cổ phần cũng đang gặp nhiều vướng mắc pháp lý.

Luật DN 2005 ra đời được coi là “kim chỉ nam” để các loại hình DN hoạt động. Không thể phủ nhận những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, những vướng mắc từ thực tế đối với loại hình DN cổ phần lại bắt nguồn từ chính luật này.

Tổ chức bộ máy quản trị

Quy định về căn cứ và thời điểm xác lập tư cách cổ đông của Luật doanh nghiệp (LDN) không thực tế. Về bản chất, tư cách cổ đông gắn liền với số cổ phần mà cá nhân, pháp nhân sở hữu (đã góp vốn cổ phần do Cty phát hành hoặc nhận chuyển nhượng cổ phần từ các cổ đông khác). Điều 87.3 LDN 2005 quy định: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của Cty”.

Tuy nhiên, chúng tôi xin đặt ra các vấn đề vướng mắc cần được pháp luật quy định rõ như sau:

Thứ nhất, người đã góp vốn cổ phần (có phiếu thu do CTCP phát hành), nhưng chưa được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông thì có tư cách cổ đông hay không ? Việc ghi thông tin (bao gồm cả sửa chữa thông tin) tại Sổ đăng ký cổ đông là sự đăng ký mang tính thủ tục hay là điều kiện nội dung của tư cách cổ đông? Tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng cổ phần: Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có buộc phải có xác nhận của Cty không? Việc Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết nhưng chưa đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông đã có hiệu lực hay chưa? Giá trị pháp lý của việc Cty xác nhận Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là gì?

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

PGS.TS. HOÀNG VĂN HẢI & Th.S. TRẦN THỊ HỒNG LIÊN

Quản trị tốt được coi là tiêu chuẩn quan trọng của các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ giới thiệu một số kinh nghiệp quốc tế về phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng quản trị và một số biện pháp đo lường chất lượng quản trị doanh nghiệp.

Đặt vấn đề

Quản trị tốt được coi là tiêu chuẩn quan trọng của các doanh nghiệp ở các nước thực hiện kinh tế thị trường đã lâu cũng như tại các nước đang chuyển đổi nền kinh tế. Theo nghiên cứu của hãng tư vấn McKinsey tiến hành với hơn 200 nhà đầu tư ở 31 nước thì có tới 3/4 số nhà đầu tư sẵn sàng chi phí thêm để có được bộ máy điều hành chất lượng hiệu quả. Tập đoàn Credit Lyonnais Securities Asia (CLSA) đóng trụ sở ở Hồng Kông cũng cho rằng, mối quan tâm lớn nhất của giới đầu tư đối với một doanh nghiệp là chất lượng quản trị.
Ở Việt Nam, với xu hướng phát triển của các doanh nghiệp gắn với huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán thì vấn đề nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp lại càng có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong khuôn khổ quản trị doanh nghiệp (công ty), cấu trúc – hoạt động của hội đồng quản trị và đánh giá chất lượng quản trị doanh nghiệp là hai chủ đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, lịch sử của quản trị doanh nghiệp không gì khác ngoài lịch sử của sự phát triển và hoàn thiện chức năng của hội đồng quản trị và chất lượng hoạt động của hội đồng này là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng quản trị doanh nghiệp nói chung.
1.    Hội đồng quản trị và quản trị doanh nghiệp: Sự hình thành và phát triển
Trong tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia vào năm 1776, Adam Smith đã cho thấy ông hiểu về vấn đề quản trị công ty, cho dù ông chưa biết tới khái niệm này. Mặc dù những khám phá lý thuyết về quản trị công ty còn tương đối mơi mẻ, nhưng sự thực thi quản trị công ty lại là một hành động cổ xưa. Các vấn đề quản trị xuất hiện khi nào các các công ty có một đời sống riêng bên ngoài đời sống của các chủ sở hữu, khi nào quyền sở hữu một doanh nghiệp được tách rời khỏi quyền quản trị doanh nghiệp đó.
Vào năm 1604, công ty đầu tiên ra đời mang tên “Dutch – East – India Company”. Tiếp sau đó, trong suốt hai thế kỷ 17 và thế kỷ 18 là thời kỳ phát triển và thịnh vượng của các công ty độc quyền nhà nước.

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SANG LOẠI HÌNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN: CÒN NGUYÊN VẸN “NHỮNG NÚT THẮT”

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Sự kiện hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp tốc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP (NĐ25) đã và đang… chìm dần với thông tin: về cơ bản đã về đích đúng hạn. Song, các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ như thế nào? Mạnh hơn, giẫm chân tại chỗ hay yếu đi? Đó là những câu hỏi không thể bỏ qua.

Nhìn vào thực tế có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc “bình mới” cho một “chất rượu” cũ mà thôi.

Các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi đáng kể nào về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhận định trên là dựa vào chính những quy định trong NĐ25.

Các công ty TNHH một thành viên ra đời từ NĐ25 phải được gọi đúng tên là công ty TNHH nhà nước một thành viên. Bởi lẽ, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ của những công ty đó.

Cụm từ “Nhà nước một thành viên” đã được sử dụng để đặt tên cho một số DNNN trước đây. Song, trong lần chuyển đổi này, cụm từ trên đã không được sử dụng để tránh vi phạm nguyên tắc “thương mại không phân biệt đối xử” – một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO mà Việt Nam là thành viên. Vì “Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ” cho nên các “nút thắt” trong công tác quản trị các DNNN vẫn còn nguyên vẹn đối với các công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi.

Các “nút thắt” đó chính là những câu hỏi đang rất cần được giải đáp một cách thỏa đáng.

Ai là chủ sở hữu của công ty?

Điều 3 NĐ25 quy định: “Nhà nước là chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ. Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ”. Song, nhà nước luôn luôn là một danh từ chung, không chỉ cụ thể là ai. Vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu vẫn không được xác định.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN: BÀI HỌC KHÔNG CŨ

PHẠM HUẤN

Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập sẽ phải theo trình tự nào ? DN phải làm gì để không xảy ra tranh chấp khi chuyển nhượng?

Cty cổ phần BĐG được cấp giấy chứng nhận kinh doanh lần đầu vào tháng 6/2003. Điều lệ Cty quy định như Luật Doanh nghiệp 1999. Ngày 15/7/2005, ông Thanh là cổ đông sáng lập – Chủ tịch HĐQT của Cty cổ phần ĐBG có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 8.500 cổ phần của mình trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng và đã nhận đủ số tiền này từ ông Sơn. Trong hợp đồng cũng có điều khoản ông Thanh phải từ chức Chủ tịch HĐQT và thực hiện các thủ tục để ông Sơn được giữ chức Chủ tịch HĐQT của Cty ĐBG. Ông Sơn nhận một số giấy tờ của Cty BĐG do ông Thanh giao để làm tin bao gồm một số hóa đơn GTGT do bên bán phát hành cho Cty ĐBG và 2 chứng nhận bảo hiểm do Cty bảo hiểm cấp cho Cty ĐBG.

Tuy nhiên, sau đó ông Thanh không thực hiện việc làm thủ tục đăng ký ông Sơn vào Sổ đăng ký cổ đông và làm thủ tục thay đổi Chủ tịch HĐQT của Cty. Do đó, ông Sơn làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Thanh phải trả lại số tiền chuyển nhượng cổ phần đã nhận 1,5 tỷ đồng nói trên

Ông Thanh xác nhận chỉ ký khống vào tờ giấy trắng để ông Sơn sử dụng vào việc liên hệ mua hàng hóa tại Hà Nội, thực tế không có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tòa án đã thụ lý vụ việc.

Giải quyết tranh chấp

Căn cứ vào bản Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 15/7/2005, có đủ cơ sở để xác định giữa ông Thanh và ông Sơn có thỏa thuận việc chuyển nhượng 8.500 cổ phần của ông Thanh trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng. Nhưng có vấn đề cần xem xét là ông Sơn không đưa ra được bằng chứng chứng tỏ bên chuyển nhượng là ông Thanh đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nói trên. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần nói trên giữa ông Thanh và ông Sơn không được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Cty cổ phần BĐG theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật DN năm 1999.

Continue reading

CÔNG TY CỔ PHẦN CÓ LÀ KINH TẾ TẬP THỂ?

ĐOÀN TIỂU LONG

Việc gán cho công ty TNHH và cổ phần thành hình thức “kinh tế tập thể” để né tránh sự kỳ thị, nhằm được hưởng những ưu đãi vốn đang dành cho thành phần kinh tế tập thể, có vẻ chỉ là một thay đổi danh nghĩa chứ khó có thể xem là một bước tiến mới về tư duy kinh tế.

TBKTSG số ra ngày 15.7.2010 có bài “Kinh tế tập thể gồm những hình thức tổ chức kinh tế nào?” của tác giả Anh Thư, trong đó đề xuất đưa công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần vào loại “kinh tế tập thể”. Xin có vài lời trao đổi về đề tài thú vị này.

Có thể tóm tắt lập luận của tác giả Anh Thư như sau: Để xác định quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, thì nên xem xét tổng thể quan hệ của nó tới các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Theo tác giả, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần không thuộc quyền sở hữu của một cá nhân, mà của nhiều, thậm chí rất nhiều người. Quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản của doanh nghiệp, cũng như cơ chế quản lý, điều hành doanh nghiệp mang tính tập thể rất rõ. Như thế, nếu các hợp tác xã được liệt vào loại kinh tế tập thể, thì có lẽ cũng nên làm như vậy đối với hai loại hình doanh nghiệp nói trên.

Có thể thấy tác giả không xác định rõ, cần bao nhiêu tiêu chí trong số 5 tiêu chí đó mang tính tập thể thì đó là kinh tế tập thể: chỉ cần một vài hay phải đầy đủ cả 5 tiêu chí. Chính vì thế, tác giả đã không giải thích rõ về tiêu chí cuối cùng – cơ chế phân phối (mà đây lại là tiêu chí hết sức quan trọng), và nghiễm nhiên coi việc hai loại hình doanh nghiệp nói trên có ba tiêu chí (sử dụng, định đoạt, quản lý) dường như mang tính tập thể thì nên liệt vào loại kinh tế tập thể.

Bây giờ ta thử quay lại phân tích xem liệu công ty TNHH, công ty cổ phần có thực là mang tính “tập thể” hay không.

Lập luận của tác giả cho rằng “mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ngày nay đã được thay đổi với việc hình thành các công ty cổ phần” là thiếu xác đáng, một mặt vì công ty cổ phần không phải mới xuất hiện gần đây.

Continue reading

QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CHUYỂN ĐỔI: ĐÃ ĐẾN LÚC ĐOẠN TUYỆT VỚI CƠ CHẾ CHỦ QUẢN

LG. VŨ XUÂN TIỀN

Sự kiện hơn 1.500 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp tốc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP (NĐ25) đã và đang… chìm dần với thông tin: về cơ bản đã về đích đúng hạn.

Đã có nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các DNNN sau chuyển đổi sẽ có một hành lang pháp lý rộng hơn, tự chủ cao hơn, năng động hơn. Từ đó, chúng ta sẽ có những doanh nghiệp mạnh, góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là hy vọng và không ai có thể cấm người ta hát những "Bài ca hy vọng" như vậy!

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành Công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc "bình mới" cho một "chất rượu" cũ mà thôi. Các DNNN sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi nào đáng kể về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi lẽ, công tác quản trị các DNNN sau chuyển đổi theo NĐ 25, vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của cơ chế chủ quản.

Chủ quản là gì?

Chủ quản và cơ chế chủ quản là sản phẩm của thời kỳ nền kinh tế nước ta được quản lý theo kế hoạch tập trung. Sau này, cơ chế đó được gọi với cái tên đầy đủ là "Kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp". Những đặc trưng cơ bản của cơ chế chủ quản là:

– Các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều là DNNN, do Nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, Nhà nước độc quyền kinh doanh. Người dân mà kinh doanh là vi phạm pháp luật, là con buôn, là "bọn tiểu thương"!

– Mỗi doanh nghiệp, khi đó được gọi là Xí nghiệp, đều do một cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, gọi là cơ quan chủ quản. Chẳng hạn, Xí nghiệp sản xuất xe đạp thì do Ty (sau này là Sở) Công nghiệp quản lý; Xí nghiệp Thương mại bán buôn, bán lẻ thì do Ty (Sở) Thương nghiệp quản lý, v.v…

– Mỗi Xí nghiệp có một Giám đốc Xí nghiệp do Giám đốc Sở bổ nhiệm hoặc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm tuỳ theo quy mô của Xí nghiệp.

Continue reading

HẬU CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

LG. CAO BÁ KHOÁT

Ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã qua và câu chuyện về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng không còn được bàn tán quá nhiều. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta đã thành công, đã làm được những điều tưởng chừng như không thể. Bởi đây mới chỉ là một điểm dừng của con tàu doanh nghiệp Nhà nước trên con đường “hội nhập” vào sân chơi chung cùng các loại hình doanh nghiệp khác.

Liệu đã đúng với cam kết WTO?

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam thì Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước mà can thiệp bình đẳng giống như các cổ đông, thành viên khác. Vậy, khi các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên thì có thể coi là thực hiện đúng cam kết hay không? Thật khó có câu trả lời!

Thứ nhất, các công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi chỉ có chủ sở hữu (thành viên) duy nhất là Nhà nước nên câu chuyện bình đẳng giữa các thành viên, cổ đông trong công ty tất nhiên không cần bàn đến.

Thứ hai, về sự can thiệp của Nhà nước. Ta có thể lý luận rằng Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là chủ sở hữu của các công ty sau chuyển đổi, có quyền và nghĩa vụ giống như chủ sở hữu của những công ty TNHH một thành viên khác (theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005) có chăng chỉ khác nhau ở năng lực chịu trách nhiệm giữa tư nhân và Nhà nước. Tư nhân là hữu hạn còn Nhà nước là hữu hạn hay vô hạn xưa nay chưa ai định được vì công ty lỗ thì Nhà nước lại cấp vốn. Cứ thế tạo thành vòng luẩn quẩn và công ty Nhà nước theo đó chẳng thể nào phá sản.

Khung pháp lý nào cho các doanh nghiệp chưa chuyển đổi?

Tuy hiện nay chưa có con số thống kê chính thức còn bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước chưa kịp chuyển đổi sau ngày 1 tháng 7 năm 2010. Nhưng có không ít câu hỏi lớn đã đặt ra. Các doanh nghiệp này sẽ hoạt động theo luật nào? Phải giải thể, phá sản, chuyển đổi hay tiếp tục hoạt động với tư cách cũ?

Continue reading

MỘT DOANH NGHIỆP CẦN BAO NHIÊU TÊN?

TRẦN THANH TÙNG

Cần có văn bản liên kết và thống nhất các quy định về tên doanh nghiệp và tên thương mại nhằm giúp doanh nghiệp tránh rắc rối khi sử dụng các loại tên của mình.

Hai tên, ba tên hay nhiều hơn?

Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp được đăng ký ba tên: (i) tên bằng tiếng Việt; (ii) tên bằng tiếng nước ngoài (thường gọi là tên giao dịch hay tên đối ngoại); và (iii) tên viết tắt.

Với quy định tên giao dịch được dịch từ tên tiếng Việt sang tiếng nước ngoài tương ứng, về thực chất doanh nghiệp chỉ còn hai tên là tên bằng tiếng Việt và tên viết tắt. Lý do là tên giao dịch không ổn định và tùy thuộc vào ngôn ngữ được dịch, dịch theo tiếng Anh là A, tiếng Pháp là B, tiếng Nhật là X…

Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp cần nhiều tên hơn thế, như tên tiếng Việt – tên bằng tiếng nước ngoài, tên giao dịch bằng tiếng Việt – tên giao dịch bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt bằng tiếng Việt – tên viết tắt bằng tiếng nước ngoài. Thậm chí một số doanh nghiệp còn sử dụng thương hiệu như một loại tên giao dịch. Đây là nhu cầu và một thực tế cần được xem xét.

Đơn cử một trường hợp cụ thể: tên tiếng Việt đầy đủ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam được dịch ra tiếng Anh là “Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade”, tên giao dịch bằng tiếng Việt là “Ngân hàng Công thương Việt Nam” dịch ra tiếng Anh là “Vietnam Bank for Industry and Trade”, tên viết tắt là “Vietinbank”.

Thêm vào đó, khi nhắc đến ngân hàng này, người ta quen gọi là Ngân hàng Công thương. Lúc này, “Công thương”, vốn là một bộ phận có khả năng phân biệt trong tên của ngân hàng này, được sử dụng như một loại tên giao dịch.

Continue reading

SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Giảng viên Học viện Tư pháp, Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh

Những tưởng quy định lỗi thời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (Pháp lệnh HĐKT) và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một pháp nhân giao kết khi pháp nhân này không (hoặc chưa) có đăng ký kinh doanh (ĐKKD) trong lĩnh vực cụ thể nào đó sẽ bị vô hiệu, đã được loại bỏ bởi việc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng, với số lượng ngày càng tăng các bản án tuyên vô hiệu hợp đồng do doanh nghiệp không ĐKKD trong thời gian gần đây, (thời điểm gần nhất mà chúng tôi được biết là Bản án số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 của TAND TP. Hồ Chí Minh1), thì đây là sự trở lại đáng lo ngại của hiện tượng tuyên vô hiệu hợp đồng do pháp nhân không có ĐKKD.

Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và những khuyến nghị cho Tòa án và cơ quan lập pháp Việt Nam về vấn đề này.

1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association) được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người3. Học thuyết ultra vires được áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải, điện lực hay khai thác than… Trong các đạo luật thành lập công ty có các quy định hạn chế phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm các quy định hạn chế này được coi là hành vi ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.

Continue reading

KINH TẾ TẬP THỂ GỒM NHỮNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ NÀO?

ANH THƯ

Một hợp tác xã có 10 thành viên được xem thuộc loại hình kinh tế tập thể trong khi một công ty cổ phần có cả hàng vạn cổ đông thì không. Điều này liệu đã hợp lý?

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 có viết: “Phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ chức hợp tác xã và hợp tác xã kiểu mới”. Như vậy, theo nghị quyết Đại hội X thì kinh tế tập thể gồm các tổ chức hợp tác xã.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX họp tháng 2-2002 về phát triển kinh tế tư nhân xác định các loại hình doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh), hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ là các hình thức tổ chức kinh tế của kinh tế tư nhân, không phải là kinh tế tập thể.

Quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, nên xem xét một cách tổng thể mối quan hệ của nó tới ba quyền (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Trường hợp cả năm tiêu chí trên thuộc tư nhân thì đó là sở hữu cá nhân (các tài sản để tiêu dùng) hoặc sở hữu tư nhân một người (các tài sản cho sản xuất, kinh doanh). Đó là nhà tư bản thời kỳ tư bản chủ nghĩa giai đoạn đầu hoặc doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên của ta hiện nay.

Các công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần khác hẳn với doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên xét trên năm tiêu chí. Tuy quyền nắm giữ tài sản của công ty dạng này thuộc tư nhân, nhưng quyền sử dụng và định đoạt (quyền quyết định cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy) lại thuộc tập thể. Nó được điều hành theo cơ chế quản lý tập thể (đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên), cơ chế phân phối tập thể (các quỹ).

Continue reading

GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH: NHỮNG LÁT CẮT RỜI RẠC

TRẦN THANH TÙNG

Vào tháng 9-2007, công ty A ký kết hợp đồng mua gạo từ công ty B. Công ty B sau đó không giao hàng và cũng không có động thái thực hiện hợp đồng, dù đã nhận tiền ứng trước từ công ty A.

Từ một vụ án đơn giản

Công ty A kiện công ty B ra tòa án, tố cáo công ty B lừa đảo với lý lẽ rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng, công ty B không có chức năng mua bán gạo, người ký hợp đồng cũng không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty B.

Tuy nhiên, ngoài một bản fax giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty B từ tháng 10-2007, các bên không thể cung cấp chứng cứ nào khác và công ty B cũng không nhớ nổi ngành nghề của mình vào năm 2007.

Lý do là từ 2007 đến nay, công ty B đã hàng chục lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và mỗi lần đều phải trả lại bản gốc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũ trước khi nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới. Cuối cùng, tòa án buộc phải nhờ đến sở kế hoạch và đầu tư hỗ trợ nhằm xác định ngành nghề và người đại diện theo pháp luật của công ty B vào tháng 9-2007.

Vụ việc khiến các bên và tòa án mất nhiều thời gian chỉ vì giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không cho thấy thông tin của công ty B theo thời gian. Rắc rối nhỏ trong vụ án trên đặt ra một vấn đề lớn trong cách thức quản lý doanh nghiệp thông qua giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hiện nay.

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: những lát cắt rời rạc

Năng lực pháp lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện cụ thể qua phạm vi ngành, nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Continue reading

ÔNG CHỦ VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN) được ví như “cây nêu” của DN để bàn dân thiên hạ trông vào. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của DN được pháp luật quan tâm tương đối kỹ càng, cụ thể.

Ai là người đại diện theo pháp luật của DN?

Người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN.

Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005), cụ thể với từng loại DN là những người dưới đây:

– Đối với công ty TNHH 1 thành viên, là Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch Công ty hoặc Giám đốc;

– Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc. Nếu Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó (khoản 4, Điều 49, Luật DN). Đối với công ty TNHH chỉ có 2 thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV (khoản 2, Điều 12, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN);

– Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc. Riêng khoản 3, Điều 9, Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, Ban kiếm soát, Tổng giám đốc ngân hàng TMCP, ban hành kèm theo Quyết định số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày 27-8-2001 của Thống đốc NHNN lại chốt cứng khác với luật là: “Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP và được ghi trong Điều lệ Ngân hàng TMCP”;

Continue reading

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CÒN BẤT CẬP

NGUYỄN MAI

Thành lập doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu để đầu tư, phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên người dân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các quy định về đăng ký kinh doanh.

Vốn pháp định còn hình thức

Điều 5 Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh, trong đó có quy định về vốn pháp định. Theo đó, có khoảng 16 ngành nghề kinh doanh yêu cầu phải có vốn pháp định. Tuy nhiên, Nghị định 139 không quy định rõ trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền xác định về vốn pháp định. Trên thực tế, việc xác định vốn pháp định thường được thực hiện bởi ngân hàng trên cơ sở một khoản tiền nhà đầu tư gửi vào. Luật Doanh nghiệp, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Nghị định 88/2006/NĐ-CP hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh cũng không hướng dẫn việc chứng minh vốn pháp định. Nội dung này quy định chung chung “văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”, nhưng cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền, văn bản xác nhận ra sao thì không cụ thể. Do đó, nhiều nhà đầu tư cho rằng, việc xác nhận vốn pháp định như hiện nay là hình thức, nhưng lại gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý cũng không kiểm soát được việc xác nhận có thực chất và doanh nghiệp đó có vốn pháp định hay không.

Chứng chỉ hành nghề chưa phù hợp

Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định: “Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng giám đốc) và cá nhân khác quy định tại khoản 13 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề”. Theo quy định hiện hành, hiện có khoảng 14 ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ. Một số ngành nghề yêu cầu giám đốc (hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh) phải có chứng chỉ hành nghề; ngành nghề khác thì chỉ yêu cầu chứng chỉ của người trực tiếp hoặc phụ trách hoạt động đó. Quy định này không phù hợp với thực tế, bởi Giám đốc là người quản lý chung, điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Đối với hoạt động chuyên môn, doanh nghiệp có thể đi thuê nhân viên quản lý có đủ trình độ phụ trách và quản lý lĩnh vực kinh doanh tương ứng. Mặt khác, trong trường hợp công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực thì một Giám đốc không thể có nhiều chứng chỉ hành nghề. Việc yêu cầu này chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức vì trên thực tế, khi thành lập doanh nghiệp hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề, đa số chủ sở hữu “mượn” chứng chỉ để hợp pháp hóa về mặt thủ tục. Ngoài ra, những cá nhân có chứng chỉ hành nghề xét về mặt pháp lý chỉ là người lao động của doanh nghiệp, hợp đồng lao động với doanh nghiệp có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, cơ quan đăng ký kinh doanh không thể kiểm soát được.

Continue reading

ĐA DẠNG HÓA ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NGUY CƠ LÃNG PHÍ NGUỒN LỰC QUỐC GIA

NGUYỄN MINH PHONG

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh truyền thống còn đầu tư tới 3.590 tỷ đồng sang các lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính-ngân hàng…

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hóa đầu tư trở thành yêu cầu và xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các doanh nghiệp (DN) và tập đoàn kinh tế (TĐ) trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng này cũng có thể dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều DN và TĐ, đặc biệt khi các hoạt động đầu tư này được tiến hành bằng vốn đi vay, trong khi thiếu cơ chế quy trách nhiệm và kiểm soát đầu tư hiệu quả …

Đầu tư ra ngoài lĩnh vực truyền thống

Thực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng có tính hai mặt của nó: Một mặt, nếu DN đi đúng hướng và đầu tư có hiệu quả thì điều này sẽ giúp nâng cao vị thế của DN và đạt được những mục tiêu mới; mặt khác, nếu “chệch hướng” hoặc đầu tư có tính đầu cơ, chụp giựt, khai thác các cơ hội độc quyền ngắn hạn, không hiệu quả, thì hoạt động này có thể làm suy sụp hình ảnh, thậm chí đánh mất thương hiệu, gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho DN nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Khi đa dạng hóa đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực mới mẻ, ít nhiều bản thân DN đánh mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có của mình. DN rất dễ mắc sai lầm, thậm chí phải trả giá đắt do sự phân tán các nguồn lực, thiếu kỹ năng thẩm định công nghệ, thiếu các thông tin cập nhật, thiếu kinh nghiệm quản lý và phản ứng thị trường. Việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài chính hoàn toàn có thể xảy ra. Đặc biệt, với khả năng tài chính có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc DN phải tìm đến các nguồn vốn mới, với những điều khoản thương mại ngặt nghèo. Điều này rất dễ đưa họ sa vào chiếc bẫy nợ nần…

Continue reading

KHI NÀO DOANH NGHIỆP LÀ MỘT PHÁP NHÂN?

LG. CAO BÁ KHOÁT – Thành viên Tổ Thi hành Luật Doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 và BLDS năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh… nhưng nếu xét về trách nhiệm tài sản của nhà đầu tư đối với các khoản nợ của doanh nghiệp thì chỉ có hai loại:

Một là, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, thường gọi họ là các thể nhân;

Hai là, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, loại doanh nghiệp này được gọi một tên chung là pháp nhân.

Một người khởi nghiệp muốn thành lập doanh nghiệp của mình, trước hết phải có nhận thức đầy đủ về pháp nhân, phải thấy được pháp nhân khác với không có tư cách pháp nhân như thế nào? Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

1. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận

Pháp nhân là người do pháp luật sinh ra. Pháp nhân không có đời sống sinh học, không biết yêu, ghét, chỉ có đời sống pháp lý. Do vậy, pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận. Được khai sinh hợp pháp là dấu hiệu đầu tiên của một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân. Như vậy, một doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, tức là được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận việc khai sinh ra doanh nghiệp và tương tự như vậy với các DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

Continue reading

SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHI NHÁNH CÔNG TY VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

VŨ XUÂN TIỀN

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

1. Thế nào là công ty TNHH một thành viên?

Các điều 46, 47, 48, 49 và 50 Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 đã quy định về công ty TNHH một thành viên. Khoản 1 Điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp”. Khoản 4 điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Từ những quy định đã trích dẫn trên, một công ty đã thành lập và hoạt động ở một tỉnh, thành phố, ví dụ là Hà Nội, có quyền thành lập một công ty TNHH một thành viên tại một tỉnh khác. Thủ tục thành lập công ty TNHH một thành viên tương tự như thủ tục thành lập công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

2. Sự giống nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên có những điểm giống nhau như sau:

– Đều là những đơn vị có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng tại ngân hàng;

– Đều do một công ty có vị trí là công ty mẹ đầu tư vốn.

3. Sự khác nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Những khác biệt chủ yếu giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên thể hiện qua bảng so sánh sau đây:

Tiêu chí so sánh

Chi nhánh công ty

Công ty TNHH một thành viên

Hình thức công nhận Đăng ký hoạt động chi nhánh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Vốn điều lệ Không ghi nhận, do công ty giao cho chi nhánh Qui định tại Điều lệ và ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Trách nhiệm của chủ sở hữu khi giải thể, phá sản Chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ Chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào công ty
Tổ chức công tác kế toán Là đơn vị kế toán cấp cơ sở, công ty là đơn vị kế toán cấp trên, báo cáo tài chính phải hợp nhất với báo cáo tài chính của công ty Là đơn vị kế toán độc lập, báo cáo tài chính không bắt buộc phải hợp nhất trong BCTC của công ty mẹ (chỉ phải hợp nhất theo yêu cầu quản trị nội bộ)
Nghĩa vụ nộp thuế TNDN Có thể chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty để nộp thuế TNDN Không được chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty mẹ, phải nộp thuế TNDN tại trụ sở công ty
Tài khoản kế toán sử dụng khi công ty chuyển vốn Vốn giao cho chi nhánh là giao vốn cho đơn vị trực thuộc, theo dõi trên TK 136.1 hoặc 138 Vốn góp cho công ty là một khoản đầu tư tài chính. Công ty mẹ theo dõi trên TK 2218- Đầu tư dài hạn khác
Về mã số đối tượng nộp thuế Theo mã số đối tượng nộp thuế của công ty Được cấp một mã số độc lập

 

Continue reading

LỖ HỔNG PHÁP LÝ NHÌN TỪ CÂU CHUYỆN JETSTAR

NGUYỄN MAI PHƯƠNG – Chuyên viên tư vấn cao cấp – Công ty luật EPLegal

Thời điểm Jetstar Pacific buộc phải gỡ bỏ tất cả các biểu tượng Jetstar không còn bao lâu, nhưng những tranh cãi vẫn chưa có hồi kết. Vậy thực sự mắc mớ của câu chuyện này ở đâu? Các hãng hàng không nước ngoài có khả năng và tư cách thế nào trong chiến lược định vị thị trường tại Việt Nam? Có thể trả lời câu hỏi này nhìn từ khía cạnh pháp lý.

Lối tắt để thâm nhập thị trường

Theo Luật Hàng không dân đụng, các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào thị trường dịch vụ vận chuyển hàng không trên các đường bay nội địa một cách hợp pháp bằng cách hợp tác với các pháp nhân hoặc cá nhân Việt Nam dưới hình thức thành lập công ty liên doanh. Tuy nhiên, phần vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn điều lệ của công ty liên doanh và phần vốn góp của từng nhà đầu tư nước ngoài không được quá 30%. Theo quy định này, tập đoàn Qantas (Úc) và hãng hàng không AirAsia (Malaysia) đã mua lại cổ phần của hai hãng hàng không nội địa để chuyển thành hai công ty liên doanh tương ứng là Jetstar Pacific Airlines (JPA) và VietJet AirAsia (VJA). Vì vậy, căn cứ theo Luật nói trên và được sự chấp thuận của Bộ Giao thông Vận tải (MOT), tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài trong JPA (27%) và VJA (30%) là hoàn toàn hợp lệ.

Tuy nhiên, tính hợp pháp của việc các liên doanh này cung cấp các chuyến bay nội địa vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Vì chưa có một định nghĩa chính thức cho khái niệm “hãng hàng không nội địa” trong pháp luật về hàng không dân dụng nên tạm thời khái niệm “công ty trong nước” hay “doanh nghiệp Việt Nam” sẽ được sử dụng ở đây. Theo Điều 2 của Quyết định 88/2009/QĐ – TTg ban hành quy chế về góp vốn và mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc được chuyển đổi sang các hình thức khác, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Như vậy, một công ty trong nước không được định nghĩa dựa trên tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài mà bởi quyền tài phán mà doanh nghiệp đó chịu ràng buộc. Nếu xét theo khía cạnh này thì cả JPA và VJA đều được xem là doanh nghiệp trong nước. Mặc dù các quy định của pháp luật cho phép thành lập công ty liên doanh trong ngành hàng không dân dụng, nhưng vẫn chưa điều chỉnh rõ ràng về khả năng và điều kiện để các liên doanh này khai thác các đường bay nội địa cũng như một định nghĩa cụ thể cho khái niệm “hãng hàng không nội địa”. Do đó, việc thành lập công ty liên doanh có thể mang lại nhiều rủi ro cho nhà đầu tư nước ngoài vì chưa xác định được khả năng cung cấp các chuyển bay nội địa của các công ty liên doanh này.

Continue reading